Tóm tắt
Nhà ở bản địa vùng cao Quảng Ninh đang thu hẹp dần, trong khi hiệu quả thích ứng khí hậu của các cấu tạo như sàn nâng, tường gạch đất và mái dốc chưa được kiểm chứng trực tiếp tại địa phương. Trên cơ sở tổng hợp tư liệu về nhà ở tại Bình Liêu, Tiên Yên, đối chiếu với các nghiên cứu về nhà ở dân tộc thiểu số và vật lý kiến trúc, bài viết tập trung vào ba nhóm cấu tạo gồm nền và sàn nâng, tường gạch đất, mái dốc. Với mỗi nhóm, nghiên cứu hình thành giả thuyết có thể kiểm chứng, xác định các đại lượng cần đo và cách đối chiếu kết quả. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hướng kiểm chứng bằng khảo sát hiện trạng, đo vi khí hậu theo mùa và mô phỏng sau khi mô hình được kiểm tra, hiệu chỉnh bằng dữ liệu thực đo, trước khi xem xét khả năng vận dụng vào nhà ở sinh thái đương đại.
Từ khóa: kiến trúc bản địa; nhà ở vùng cao; Quảng Ninh; thích ứng khí hậu; vật lý kiến trúc.
Đặt vấn đề
Quảng Ninh có địa hình phân hóa mạnh, từ vùng núi đến ven biển và hải đảo. Tiên Yên là một trong các trạm khí tượng của tỉnh có số liệu được tổng hợp trong QCVN 02:2022/BXD [1]. Ở khu vực miền núi, một số nhà ở của người Tày và Sán Chỉ còn sử dụng đất, gỗ, tre, đá và ngói, gắn với điều kiện cư trú địa phương. Tư liệu năm 2021 ghi nhận tại Đại Dực chỉ còn tám nhà sàn truyền thống của người Sán Chỉ; tư liệu năm 2024 tại Phong Dụ cho thấy chỉ còn một số ít nhà gạch đất, nhiều công trình đã xuống cấp hoặc không còn người ở [2], [3]. Trong bối cảnh Quảng Ninh hướng tới phát triển xanh và bền vững đến năm 2050, tầm nhìn 2075 [4], việc kiểm chứng khả năng tiếp tục vận dụng những kinh nghiệm xây dựng bản địa góp phần bảo tồn tri thức xây dựng và định hướng thiết kế phù hợp khí hậu.
Các nghiên cứu về nhà ở bản địa Việt Nam cho thấy nhiều chiến lược thích ứng khí hậu, nhưng hiệu quả phụ thuộc vùng khí hậu, cấu tạo và điều kiện sử dụng [5]. Nghiên cứu về nhà ở dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc cũng ghi nhận sự đa dạng và biến đổi loại hình [6], [7]. Vấn đề đặt ra với nhóm nghiên cứu là: Từ những đặc điểm cấu tạo đã được tư liệu hóa ở nhà ở vùng cao Quảng Ninh, có thể hình thành giả thuyết nào về thích ứng khí hậu và cần đo những đại lượng nào để kiểm chứng? – Bài viết tập trung xây dựng một hướng kiểm chứng và giới hạn kết luận ở mức mà tư liệu cùng cơ sở khoa học hiện có cho phép.
Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết, thuật ngữ Nhà ở bản địa dùng để chỉ những dạng nhà hình thành từ kinh nghiệm xây dựng tại chỗ, có quan hệ với nguồn vật liệu, kỹ thuật xây dựng và điều kiện cư trú của cộng đồng địa phương [5]. Khi dẫn các tư liệu địa phương, bài viết giữ cách gọi nhà ở truyền thống của nguồn nếu cần thiết. Đối với cấu tạo tường, thuật ngữ tường gạch đất chỉ được sử dụng trong những trường hợp tư liệu cho biết tường được xây bằng gạch làm từ đất, không đồng nhất với kỹ thuật trình tường bằng đất nện. Sự phân biệt này rất cần thiết vì hai kỹ thuật xây tường khác nhau về phương thức thi công và có thể dẫn đến những đặc tính vật lý khác nhau.
Tư liệu nghiên cứu được giới hạn ở một số trường hợp thuộc Bình Liêu và khu vực Tiên Yên, trong đó Đại Dực và Phong Dụ có những mô tả tương đối rõ về nhà ở của người Tày và Sán Chỉ. Các địa danh được giữ theo tên đơn vị hành chính tại thời điểm những tư liệu giai đoạn 2021 – 2024 được công bố. Việc lựa chọn trường hợp dựa trên hai yêu cầu: tư liệu phải mô tả đủ rõ để nhận diện các bộ phận cấu tạo chính; đồng thời các đặc điểm đó phải cho phép đặt ra những câu hỏi có thể kiểm chứng về quan hệ giữa công trình với điều kiện nhiệt, ẩm và mưa. Vì vậy, các trường hợp được sử dụng để xây dựng giả thuyết nghiên cứu, không nhằm đại diện hay có thể ứng dụng cho toàn bộ nhà ở bản địa vùng cao Quảng Ninh.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu thứ cấp, kết hợp đối chiếu với các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã công bố về vật lý kiến trúc. Tư liệu địa phương và nguồn khoa học vì vậy được sử dụng cho những mục đích khác nhau: Nhóm thứ nhất xác nhận đối tượng và cấu tạo đã được ghi nhận; nhóm thứ hai cung cấp cơ sở khoa học để xem xét các cơ chế nhiệt – ẩm.
Quá trình phân tích được thực hiện theo bốn bước: Nhận diện đặc điểm cấu tạo từ tư liệu hiện có; đối chiếu đặc điểm đó với cơ chế vật lý đã được nghiên cứu; hình thành giả thuyết và xác định các đại lượng có thể đo; xác lập cách kiểm chứng trước khi xem xét khả năng vận dụng. Do chưa có số liệu đo trực tiếp tại các công trình ở Quảng Ninh, những cơ chế được nêu trong bài được xem là giả thuyết cần kiểm chứng, không phải kết luận về hiệu năng. Các thông số mà tư liệu hiện có chưa cung cấp (như: chiều dày tường, cấu tạo các lớp mái hay điều kiện thông gió…), cần được xác định bằng khảo sát thực địa trước khi tiến hành đo đạc và mô phỏng.
Để làm rõ hơn đối tượng nghiên cứu, bài viết sử dụng hai trường hợp nhà gạch đất được ghi nhận gần đây tại khu vực Tiên Yên làm tư liệu minh họa. Trường hợp tại Khe Lục, Đại Dực còn cho phép nhận diện tương đối rõ hình thức và các bộ phận chính của ngôi nhà; trong khi trường hợp tại Hua
Cầu, Phong Dụ đã xuống cấp và không còn được sử dụng [3]. Hai trường hợp được sử dụng như tư liệu trực quan về hiện trạng đối tượng nghiên cứu, không nhằm đại diện cho toàn bộ nhà ở bản địa vùng cao Quảng Ninh.
Kết quả nhận diện cấu tạo và giả thuyết kiểm chứng
Từ các tư liệu đã lựa chọn, có thể nhận diện một số đặc điểm cấu tạo đáng chú ý của nhà ở bản địa tại Đại Dực, Phong Dụ và Bình Liêu. Một số nhà của người Sán Chỉ và Tày sử dụng gạch đất kết hợp với gỗ, tre, đá và ngói [2], [3]. Nghiên cứu về nhà ở Sán Chay miền núi phía Bắc cũng ghi nhận các dạng nhà sàn, nhà nửa sàn – nửa đất và nhà đất [8]. Riêng trường hợp gia đình ông Nình A Liềng – bà Nình Móc Màu tại Đại Dực, tư liệu cho biết sàn cao khoảng 0,3 – 0,5m, kết cấu gỗ liên kết bằng mộng, cùng móng đá, tường gạch đất và mái ngói âm dương [2], [3]. Những dữ liệu này cho phép xác định các bộ phận cần khảo sát và hình thành giả thuyết kiểm chứng, nhưng chưa đủ để kết luận về hiệu quả thích ứng khí hậu.
Giả thuyết 1 đặt ra đối với nền và sàn nâng: Việc tách không gian ở khỏi mặt đất có khả năng làm giảm ảnh hưởng của ẩm nền đến không khí cận sàn. Cần đo độ ẩm đất, RH dưới sàn và tại cao độ cận sàn phía trong nhà, vận tốc không khí dưới sàn, thoát nước mặt và chênh cao địa hình. Nếu có trường hợp tương đồng với sàn gần mặt đất, số liệu cần được đối chiếu cùng thời điểm; chỉ khi chênh lệch ổn định qua các đợt đo mới có cơ sở xem xét nguyên lý sàn nâng.
Đối với mái dốc lợp ngói âm dương, giả thuyết về hiệu quả nhiệt chỉ được xem xét khi cấu tạo thực tế cho thấy có cơ chế có thể ảnh hưởng đến truyền nhiệt. Tư liệu hiện có xác nhận hình thức mái nhưng chưa có dữ liệu về hiệu quả nhiệt hay mức độ chống mưa tạt, thấm. Khảo sát thực địa cần ghi nhận cấu tạo lớp mái, khoảng rỗng, thông gió, thoát nước và dấu vết mưa tạt hoặc thấm. Nếu có khoang mái thông gió, có thể đo nhiệt độ bề mặt mái, nhiệt độ trần và vận tốc không khí; không nên suy hiệu quả nhiệt chỉ từ hình thức mái dốc.
Để kiểm chứng, các đại lượng trong nhà cần được ghi đồng thời với điều kiện ngoài trời và vị trí cảm biến phải được mô tả rõ theo mặt cắt. Nhiệt độ và RH có thể ghi liên tục bằng bộ ghi dữ liệu nhiệt – ẩm tự động, với chu kỳ dự kiến 10-15 phút; cảm biến không khí cần tránh bức xạ trực tiếp. Nhiệt độ bề mặt, độ ẩm đất, độ ẩm vật liệu và vận tốc không khí được đo bằng các đầu đo phù hợp. Nên đo ở ít nhất hai giai đoạn khí hậu tương phản, đồng thời ghi nhận hướng nhà, che bóng và chế độ sử dụng. Nếu mô phỏng được sử dụng, dữ liệu thực đo cần dùng để kiểm tra và hiệu chỉnh mô hình trước khi mở rộng đánh giá
Nguyên tắc xem xét vận dụng sau kiểm chứng
Việc vận dụng kinh nghiệm từ nhà ở bản địa cần bắt đầu từ cơ chế thích ứng, thay vì từ hình thức kiến trúc. Một đặc điểm tồn tại lâu dài chưa đủ để chứng minh rằng nó vẫn tạo ra hiệu quả môi trường trong điều kiện hiện nay. Kết quả kiểm chứng có thể cho thấy cơ chế giả định được dữ liệu ủng hộ, chỉ đúng trong những điều kiện nhất định hoặc không được ủng hộ. Cả ba khả năng đều có ý nghĩa, vì cho phép xác định đặc điểm nào còn cơ sở để tiếp tục xem xét và đặc điểm nào chưa đủ bằng chứng để vận dụng.
Với nền và sàn nâng, điều cần xem xét là quan hệ giữa công trình với địa hình, độ ẩm nền và thoát nước, không phải duy trì một cao độ sàn cố định. Nếu số liệu cho thấy sàn nâng hạn chế ảnh hưởng của ẩm nền hoặc cải thiện điều kiện không khí dưới sàn, kết quả đó có thể làm căn cứ xác định cao độ sàn so với mặt đất và mức độ can thiệp vào địa hình. Cao độ sàn và nền móng vẫn phải xác định theo địa chất, độ dốc, thoát nước và yêu cầu sử dụng của từng khu đất; kích thước 0,3-0,5m tại Đại Dực không thể dùng làm thông số chung.
Với tường gạch đất, khả năng vận dụng phụ thuộc đặc tính vật liệu, cấu tạo và điều kiện sử dụng. Đất có khả năng tích trữ nhiệt và trao đổi ẩm, nhưng mức độ tác động thay đổi theo thành phần, chiều dày, độ ẩm và khí hậu [9], [10]. Vì vậy, điều có thể kế thừa không nhất thiết là bản thân gạch đất, mà là cơ chế làm chậm truyền nhiệt, hạn chế biên độ dao động nhiệt và tham gia điều hòa ẩm của lớp bao che. Nếu được dữ liệu tại Quảng Ninh xác nhận, các kết quả này có thể được sử dụng để xác định yêu cầu đối với lớp bao che trong thiết kế nhà ở mới. Vật liệu và cấu tạo cụ thể vẫn cần được đánh giá về độ bền, khả năng chịu ẩm, yêu cầu bảo trì và điều kiện sử dụng.
Đối với mái dốc lợp ngói, cần phân biệt chức năng dẫn nước và bảo vệ trước mưa với hiệu quả về nhiệt. Hình thức mái dốc không đủ để suy ra khả năng giảm nhiệt. Đánh giá nhiệt phải xét cấu tạo lớp mái, đặc tính vật liệu, khoảng không dưới mái, thông gió và tương quan nhiệt độ giữa mái, khoang mái và không gian bên trong. Khả năng bảo vệ công trình trước mưa cần được đánh giá qua thoát nước mái và các dấu vết mưa tạt hoặc thấm. Nếu dữ liệu không cho thấy cơ chế nhiệt rõ ràng, chỉ nên ghi nhận những chức năng có thể kiểm chứng.
Ba nhóm cấu tạo đặt ra những điều kiện khác nhau khi xem xét chuyển sang nhà ở đương đại: nền và sàn nâng gắn với địa hình, độ ẩm và thoát nước; tường phụ thuộc đặc tính vật liệu và chế độ nhiệt – ẩm; mái chịu tác động của mưa, bức xạ và cấu tạo lớp bao che. Tư liệu hiện trạng chỉ cho phép xác nhận cấu tạo đã tồn tại; các nghiên cứu trước cung cấp cơ sở để đặt giả thuyết về cơ chế; còn hiệu quả của những cấu tạo đó trong điều kiện Quảng Ninh chỉ có thể được đánh giá bằng dữ liệu thực đo. Vì vậy, chưa có cơ sở đề xuất một bộ giải pháp áp dụng đồng loạt; kết quả kiểm chứng cần xác định điều kiện và giới hạn áp dụng của từng nguyên lý trước khi chuyển hóa trong thiết kế.
Kết luận
Kiến trúc bản địa không mặc nhiên đồng nghĩa với hiệu quả sinh thái. Giá trị thích ứng của sàn nâng, tường đất hay mái dốc chỉ có thể được xác định khi cơ chế tác động được kiểm chứng trong điều kiện nơi công trình tồn tại. Vì vậy, việc kế thừa cần dựa trên bằng chứng, không tuyệt đối hóa kinh nghiệm truyền thống hoặc chuyển những đặc điểm quan sát được thành kết luận vượt quá dữ liệu hiện có.
Khảo sát hiện trạng và đo vi khí hậu theo mùa trên các trường hợp đại diện là bước nghiên cứu tiếp theo. Mục tiêu của bước này là xác định các cơ chế giả định có thực sự xảy ra hay không, mức độ tác động và những điều kiện chi phối chúng. Nếu sử dụng mô phỏng, mô hình cần được kiểm tra và hiệu chỉnh bằng dữ liệu thực đo trước khi dùng để mở rộng phạm vi đánh giá. Chỉ trên cơ sở kết quả kiểm chứng, kinh nghiệm từ nhà ở bản địa mới có thể được chuyển thành giải pháp thiết kế nhà ở sinh thái có căn cứ cho Quảng Ninh.
ThS.KTS Bùi Ngọc Sơn
Trường ĐH Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2026)
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Xây dựng (2022), QCVN 02:2022/BXD – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng, ban hành kèm Thông tư 02/2022/TT-BXD ngày 26/9/2022;
[2] Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh (2021): Độc đáo ngôi nhà sàn cổ của dân tộc Sán Chỉ ở Đại Dực, 07/3/2021, https://www.quangninh.gov.vn/chuyen-de/diemden/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=97263 (truy cập 20/8/2026);
[3] Báo Quảng Ninh (2024): Bảo tồn nhà trình tường với kiến trúc độc đáo, 23/6/2024, https://baoquangninh.vn/bao-ton-nha-trinh-tuong-voi-kien-truc-doc-dao-3304746.html (truy cập 20/8/2026);
[4] Thủ tướng Chính phủ (2026): Quyết định số 606/QĐ-TTg ngày 02/4/2026 phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, Hà Nội;
[5] Nguyen, A.T., Tran, Q.B., Tran, D.Q., Reiter, S. (2011): An investigation on climate responsive design strategies of vernacular housing in Vietnam, Building and Environment, 46(10), 2088-2106. DOI: 10.1016/j.buildenv.2011.04.019;
[6] Bao, T.Q., Nguyen, D.T., Mai, Q.K. (2024): Impacts of Culture on Traditional Housing Architecture of Ethnic Minority in the Vietnamese Northern Mountains, Journal of Design and Built Environment, 24(2), 1-18. DOI: 10.22452/jdbe.vol24no2.1;
[7] Trần Quốc Bảo, Nguyễn Đình Thi (2025): Thực trạng kiến trúc nhà ở các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc và định hướng phát triển bền vững, Tạp chí Xây dựng, 26/5/2025, https://tapchixaydung.vn/thuc-trang-kien-truc-nha-o-cac-dan-toc-thieu-so-mien-nui-phia-bac-va-dinh-huong-phat-trien-ben-vung-20201224000030597.html (truy cập 20/8/2026);
[8] Nguyễn Hoài Thu, Nguyễn Thu Hương (2024): Bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống trong tổ chức không gian kiến trúc nhà ở truyền thống dân tộc Sán Chay, Tạp chí Xây dựng, 25/3/2024, https://tapchixaydung.vn/bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-truyen-thong-trong-to-chuc-khong-gian-kien-truc-nott-dan-toc-san-chay–20201224000022627.html (truy cập 20/8/2026);
[9] Allinson, D., Hall, M. (2010): Hygrothermal analysis of a stabilised rammed earth test building in the UK, Energy and Buildings, 42(6), 845-852. DOI: 10.1016/j.enbuild.2009.12.005;
[10] Zhang, L., Sang, G., Han, W. (2020): Effect of hygrothermal behaviour of earth brick on indoor environment in a desert climate, Sustainable Cities and Society, 55, 102070. DOI: 10.1016/j.scs.2020.102070;
























