Nhận diện hình thái đô thị lịch sử Việt Nam – Phần 2: Đô thị “phong thuỷ” – Kinh đô Huế

Xem phần trước: Nhận diện hình thái đô thị lịch sử Việt Nam – phần 1: Đô thị “sơn thủy” và đô thị “tứ giác thủy”

Tóm tắt

Bài viết này nhằm giới thiệu về hình thái đô thị phong thủy truyền thống Việt Nam với trường hợp nghiên cứu điển hình là Kinh đô Huế của triều Nguyễn (1802-1945) ở Việt Nam. Trong bài nghiên cứu trước, chúng tôi đã đề cập đến hình thái nền tảng của những đô thi lịch sử châu Á gồm đô thị “Sơn thủy” và đô thị “Tứ giác Thủy”. Trong bài nghiên cứu này, hình thái Đô thị “Phong thủy” được tiếp cận từ những yếu tố: Thiên tạo – Nhân tạo – Hình thái và Lý khí. Theo đó, không gian và thời gian là phông nền, các yếu tố cấu thành bao gồm: Âm dương, Ngũ hành và Tam tài. Núi – Sông biểu hiện quy luật Âm dương tương hỗ, những thành phần cấu thành phong thủy hình thái tự nhiên bao gồm Thanh Long – Chu Tước – Hoàng Thổ – Bạch Hổ – Huyền Vũ biểu trưng cho sự vận hành tương tác của Ngũ hành, và yếu tố con người trong mối quan hệ: Thiên – Địa – Nhân biểu trưng cho Tam Tài, mà Nhân là dấu gạch ngang kết nối Thiên – Địa của nội hàm khái niệm Tam Tài ấy. Bài nghiên cứu này chủ yếu dựa vào các nguồn thông tin từ sử liệu, kết quả khảo sát thực địa và tra cứu Kinh dịch, đã bước đầu phác họa chân dung hình thái đô thị phong thủy truyền thống Việt Nam nhằm cung cấp đến độc giả cái nhìn khách quan và khoa học về chủ đề đô thị phong thủy này.

Từ khóa: Hình thái đô thị, đô thị phong thủy, Kinh đô Huế, triều Nguyễn, Việt Nam

Lược sử Kinh đô Huế

Từ khi trấn nhậm phủ Thuận Hóa năm 1558 [1], vị đại thần Nguyễn Hoàng của triều Hậu Lê đã dốc công khai khẩn và làm cho vùng đất này trở nên trù phú. Tiếp nối sự nghiệp của cha, chúa Nguyễn Phước Nguyên (1613-1635) đã tiếp tục mở mang, qui hoạch vùng đất này trở thành trung tâm chính trị, kinh tế của vương quốc Đàng Trong (1558-1777). Sau khi phong trào khởi nghĩa Tây Sơn giành được chính quyền, đại tướng Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, lập nên triều đại Tây Sơn (1788-1802) [2], và đặt Kinh đô tại Huế với tên gọi Phú Xuân.

Đến năm 1802, chúa Nguyễn Phước Ánh lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Gia Long và thành lập triều đại nhà Nguyễn (1802-1945). Tiếp nối sự nghiệp 9 đời Chúa ở Đàng Trong, Hoàng đế Gia Long quyết định đặt Kinh đô của vương quốc Việt Nam tại Huế [3]. Quyết định này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nguyên lý phong thủy địa lý, vốn rất được coi trọng trong văn hóa cổ đại Trung Hoa, đồng thời kết hợp với sự giao thoa văn hóa đa tầng trong quy hoạch và kiến thiết đô thị .

Không ảnh chụp Kinh thành Huế (lõi của Kinh đô Huế)

Kinh thành, phần lõi của Kinh đô Huế được đặt giữa một cảnh quan thiên nhiên tuyệt mỹ, hội tụ đầy đủ tinh thần học thuyết phong thủy phương Đông từ vi mô đến vĩ mô. Mặc dù các hoạt động kiến thiết Kinh đô bắt đầu từ đầu triều Gia Long (1802-1820), nhưng phải đến thời Minh Mạng (1820-1841) mới thực sự sôi động và phát triển trên quy mô lớn [4]. Đặc biệt quan trọng là công cuộc xây dựng, mở rộng và tu bổ Kinh thành gắn liền với sự tồn tại của triều Nguyễn trong gần một thế kỷ rưỡi ở Việt Nam, đã để lại một khối lượng di sản văn hóa đồ sộ, bao gồm không gian lịch sử-văn hóa, cảnh quan thiên nhiên và quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới năm 1993 với những giá trị nổi bật, đặc sắc và mang tính phổ quát toàn cầu.

Nguồn gốc địa cuộc xứ Đàng Trong

Như đã đề cập trong bài nghiên cứu trước [5], nền tảng của hình thái đô thị Kinh đô Huế thể hiện bố cục bản địa có nguồn gốc từ Đông và Đông Nam Á cổ đại. Thực tế là, vùng đất phủ Thuận Hóa của người Việt xứ Đàng Trong xưa từng là lãnh thổ của châu Ô (Vuyar) và châu Lý (Ulik), vốn là một phần thuộc vương quốc Champa, chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, hoạt động theo thể chế chính trị liên bang, bao gồm nhiều tiểu vương quốc hợp thành.
Theo Jan M.P., [6] tiểu vương quốc Amaravati nằm ở phía Bắc của vương quốc Champa, tương ứng với khu vực Quảng Nam ngày nay, sách lịch sử Trung Quốc chép là vương quốc Lâm Ấp [7]. Đến năm 1306, vùng đất này chính thức trở thành lãnh thổ cực Nam của vương quốc Đại Việt thông qua cuộc hôn nhân chính trị giữa Công chúa Huyền Trân (1287-1340) của Đại Việt và Vua Chế Mân (Jaya Simhavarman III, 1288-1307) của Champa. Châu Ô – Lý sau được đổi tên là Châu Thuận – Hóa, bao gồm thêm xứ Quảng Nam nên được gọi chung là xứ Thuận – Quảng.

Các yếu tố đặc trưng tạo nên vương quốc Amaravati tại khu vực Quảng Nam vốn vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay bao gồm: Thứ nhất, ngọn Núi Thiêng (núi Chúa, Mahaparvata theo các bia ký cổ Champa, biểu trưng cho thần Siva); thứ hai, Thánh địa thiêng (Thánh địa Mỹ Sơn, được xây dựng để dâng cúng Thần vương Bhadresvara vào cuối thế kỷ thứ 4); thứ ba, con Sông thiêng (sông Thu Bồn, Mahadani, được xem như dòng sông Hằng trên thiên giới); thứ tư, Kinh đô thiêng (Kinh đô Trà Kiệu, Simhapura, thủ phủ của vương quốc Amaravati); và thứ năm, thương cảng thiêng (Cảng Đại Chiêm) [8]. Sông Thu Bồn đóng vai trò là tuyến giao thông đường thủy chính, kết nối các yếu tố này với nhau . Cho đến ngày nay, ngoại trừ Kinh đô Trà Kiệu đã bị phá hủy, bốn yếu tố còn lại vẫn tồn tại và có thể nhận diện rõ ràng. Nếu tiếp cận phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn bằng đường thủy qua cảng Đại Chiêm theo tuyến sông Thu Bồn, thì ngọn Núi Chúa

Vị trí của địa danh lịch sử Champa thuộc vương quốc Amaravati ở Quảng Nam (xác định dựa trên tọa độ Google Earth)

(Mahaparvata) như là ngọn hải đăng tự nhiên đánh dấu địa hình, có thể nhìn thấy từ hầu khắp mọi nơi .

Thánh địa Mỹ Sơn và hình dáng của ngọn Núi Chúa (Mahaparvata)

Nhìn lại thời kỳ trước thế kỷ 14, khu vực Kinh đô Huế cũng từng là lãnh thổ của một tiểu quốc Champa, nên cũng sở hữu những yếu tố cấu thành tương tự với Vương quốc Amaravati ở Quảng Nam (Bảng 1). Các yếu tố có thể nhận diện bao gồm: Thứ nhất, ngọn núi thiêng (Núi Kim Phụng); thứ hai, thánh địa thiêng (Đền Po-Nagar, thờ Thần Siva, về sau là Điện Huệ Nam, nơi thờ Mẫu của người Việt) [9]; thứ ba, con sông thiêng (Sông Hương, tên cũ là Linh Giang); thứ tư, Kinh đô thiêng (Kinh đô Phật Thệ, còn gọi là Thành Champapura, dân địa phương gọi là Thành Lồi) [10]; và thứ năm, thương cảng thiêng (Cảng Thuận An). Trong số này, chỉ có Kinh đô Phật Thệ là đã bị phá hủy, bốn yếu tố còn lại vẫn tồn tại, Sông Hương đóng vai trò là tuyến giao thông đường thủy chính kết nối các yếu tố này. Tương tự như Núi Chúa ở Quảng Nam, Núi Kim Phụng cũng là yếu tố đánh dấu địa hình tự nhiên nổi bật, có thể được nhìn thấy hầu khắp mọi nơi khi tiếp cận Kinh thành Huế qua cảng Thuận An. Điều này khẳng định vai trò biểu tượng địa lý của nó trong khu vực .

Bảng 1. Địa danh lịch sử của vương quốc Champa ở Quảng Nam và Thừa Thiên Huế
Vị trí các địa danh lịch sử Vương quốc Champa ở Thừa Thiên Huế (xác định dựa trên tọa độ Google Earth)

Có một sự trùng hợp giữa hai khu vực từng thuộc vương quốc Champa này là: Thành Trà Kiệu (Simhapura) và thành Phật Thệ (Champapura) đều là Kinh đô của các tiểu quốc Champa, đóng vai trò trung tâm chính trị và quân sự, cả hai Kinh thành cổ này đều đã bị phá hủy do xung đột chính trị, trong khi bốn yếu tố thiêng kia vẫn được giữ gìn và kế thừa qua các triều đại phong kiến Việt Nam. Sự trùng hợp này không phải là ngẫu nhiên, cho thấy rằng: Kinh đô Huế của triều Nguyễn đã được kiến thiết dựa trên nền tảng địa cuộc của hình thái đô thị phong thủy bản địa vốn tồn tại từ thời các tiểu quốc Champa (khoảng thế kỷ 5 – 10 SCN) [11]. Nhận định này được củng cố bởi những dấu tích còn sót lại của các tháp Chăm, thành cổ và thánh địa Champa tại khu vực thành phố Huế ngày nay.

Phế tích Tháp Chăm ở xã Phú Diễn, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế (Thế kỷ 8 SCN).

Như vậy, đến thời nhà Nguyễn, người Việt vẫn tiếp tục kế thừa các yếu tố tự nhiên cấu thành phong thủy bản địa của các tiểu quốc Champa trước thế kỷ 14. Về tín ngưỡng, người Việt chấp nhận và dung hợp tín ngưỡng Ấn Độ giáo của người Champa với tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa, cho phép các giá trị thiêng liêng của đền Po-Nagar tiếp tục được duy trì. Về mặt quân sự và chính trị, thành Phật Thệ bị phá hủy để nhường chỗ cho thủ phủ Kim Long của các chúa Nguyễn, Thành Phú Xuân của nhà Tây Sơn, và Kinh thành Huế của triều Nguyễn sau này.

Đô thị Phong thủy Huế

Yếu tố Thiên tạo

Những tài liệu lịch sử khảo cứu được đã cung cấp thông tin chính xác và toàn diện về Kinh đô Huế. Theo đó, Kinh đô Huế từng được gọi là Kinh Sư (京師) [5], thuộc phủ Thừa Thiên dưới triều Nguyễn . Vị trí này hội tụ đầy đủ các yếu tố địa lý về núi, sông, đầm phá và biển, tọa lạc ở vị trí trung tâm của đất nước.

Hải khẩu bao gồm cảng biển Tư Hiền (ở phía Đông Bắc) và cảng Thuận An (ở phía Đông Nam), đường thủy có Đại Giang (tức sông Hương) chảy phía trước, nối liền với các chi lưu của nó là sông Ô Lâu và sông Bồ, tạo thành tứ giác thủy bao quanh Kinh thành. Án ngữ ở phía Tây có dãy Trường Sơn, phía Bắc có dãy Hoành Sơn, trên đó có Quảng Bình Quan, phía Nam có dãy Bạch Mã với ngọn Hải Vân, trên đó có Hải Vân Quan, Thiên hạ đệ Nhất hùng quan, là những cửa ải đường bộ, đóng vai trò là những tuyến phòng thủ từ xa. Án ngữ phía Đông có phá Tam Giang, đầm Thanh Lam, đầm Hà Trung, là những thủy khẩu đóng mở hướng tiếp cận Kinh đô Huế (Bảng 2).
Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa vào các yếu tố địa lý tự nhiên làm cơ sở xác lập sơ đồ đô thị phong thủy vĩ mô, giúp nhận diện rõ hơn sự biến đổi về hình thái đô thị qua các thời kỳ lịch sử. Sự biến đổi này được củng cố bởi các yếu tố nhân tạo là những công trình kiến trúc và thiết chế hạ tầng cơ sở quốc gia, đã từng xuất hiện, tồn tại và biến mất trong suốt giai đoạn lịch sử được đề cập trong nghiên cứu này.

Bảng 2. Các yếu tố Thiên tạo của Kinh đô Huế – Địa danh
Bản đồ Phủ Thừa Thiên và vị trí tọa lạc của Kinh thành Huế (Nguồn: Nội các triều Nguyễn, thời Duy Tân 1907-1916)

Theo các phương pháp giám sát địa lý thủy văn, núi Hải Vân thuộc dãy núi Bạch Mã [8] là ngọn núi cao nhất về phía Nam của Kinh đô Huế, phân chia ranh giới tự nhiên giữa Thừa Thiên Huế và Quảng Nam. Dãy núi này thu nhận một lượng nước lớn và phân chia dòng chảy theo hai hướng: Về phía Quảng Nam tạo thành sông Cu-đê [9], với tổng chiều dài 38 km; hướng về phía Thừa Thiên Huế, một dòng đổ vào hồ Tả Trạch tạo thành chi lưu sông Tả Trạch (左澤源), dài 67 km, một dòng đổ vào hồ Hữu Trạch tạo thành chi lưu sông Hữu Trạch (右澤源) [10], dài 60 km. Hai nhánh sông này hợp lưu tại ngã ba Bằng Lãng, tạo thành dòng chính của sông Hương, uốn lượn qua các làng mạc trước khi chảy qua trước mặt Kinh thành Huế, rồi đổ vào phá Tam Giang và sau đó đổ ra Biển Đông, tổng chiều dài từ thượng nguồn đến biển khoảng 100 km .

Vị trí của Kinh thành Huế trong mối quan hệ địa lý với núi Hải Vân và núi Kim Phụng
Ngã ba Bằng Lãng, nơi hợp lưu của Tả Trạch và Hữu Trạch tạo nên dòng chính của Sông Hương. https://www.traveloka.com/en-en/hotel/vietnam/tram-oanh-hotel-3000010038201 (truy cập 13/11/ 2024)

Mặc dù núi Hải Vân là ngọn núi cao nhất nhưng nó không thể đóng vai trò là yếu tố đánh dấu địa hình tự nhiên của Kinh đô Huế, do khoảng cách của nó so với Kinh thành quá xa (khoảng 82 km) khiến nó nằm ngoài tầm nhìn. Thay vào đó, núi Kim Phụng (金鳳山) [11] nằm gần ngã ba Bằng Lãng, là vị trí hợp lưu của hai nhánh sông Tả Trạch và Hữu Trạch, cách Kinh thành khoảng 16 km, được xem là cột mốc tự nhiên giữ vai trò thiết yếu trong việc định hướng phương vị cho giao thông thủy bộ. Như vậy, sông Hương và núi Kim Phụng hợp thành một cặp Giang – Sơn lý tưởng, là dạng bố cục nền tảng để các yếu tố nhân tạo của Kinh đô Huế được quy hoạch xây dựng dưới thời Nguyễn.

Đối với một quốc gia nông nghiệp, việc sở hữu nguồn nước dồi dào có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo tưới tiêu ruộng đồng và phát triển giao thông đường thủy. Dù nằm ở vị trí trung tâm giữa Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, lượng nước bắt nguồn từ dãy núi Bạch Mã có xu hướng đổ nhiều hơn về phía Thừa Thiên Huế, tạo nên dòng sông Hương dài đến 100 km, trong khi đó sông Cu-đê ở Quảng Nam chỉ dài 38 km. Đây có thể là lý do quan trọng khiến khu vực Thừa Thiên Huế được lựa chọn làm Kinh đô của Việt Nam qua ba triều đại: Chúa Nguyễn (1558–1777), nhà Tây Sơn (1778–1802) và nhà Nguyễn (1802–1945).

Bảng 3. Các yếu tố Nhân tạo của Kinh đô Huế – Hạng mục Kiến trúc.Nguồn: Nội các triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, thời Duy Tân, tái bản 1960, trang 17-91).

Yếu tố Nhân tạo

Kinh thành (京城) được xây dựng dưới thời Gia Long (1802–1820) và thời Minh Mạng (1820–1840) [12], là hạng mục trọng tâm của quy hoạch đô thị Huế dưới triều Nguyễn. Bảng 2 liệt kê 16 hạng mục phân loại theo các tư liệu lịch sử đã trích dẫn, bao gồm hàng trăm công trình kiến trúc phục vụ những chức năng thiết yếu của triều đình. Theo đó, đền miếu được quy hoạch ở phía Tây bên ngoài Kinh thành; lăng tẩm hoàng đế được quy hoạch ở khu vực núi đồi phía Tây Nam cách xa Kinh thành, các công trình phòng thủ quân sự, trung tâm thương mại và cảng biển được quy hoạch về phía Đông bên ngoài Kinh thành (Bảng 3).

Về mặt quy hoạch đô thị, nếu Kinh thành là lõi của Kinh đô Huế thì sông Hương (香江) [13] là lõi của Phủ Thừa Thiên. Theo đó, trục trung tâm của Kinh thành được thiết kế theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, còn trục quy hoạch Kinh đô Huế được xác lập hướng Đông – Tây, thuận theo dòng chảy tự nhiên của sông Hương bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây và Tây Nam, chảy qua trước Kinh thành rồi đổ ra Biển Đông. Dựa vào các đặc điểm địa lý tự nhiên của cuộc đất này, một công thức quy hoạch truyền thống đã được thiết lập: “Tây Miếu – Đông Thị” (西廟東巿), trong đó Kinh thành được xem là vị trí trung tâm để xác định phương hướng (Hình 9).
Theo đó, Cảng Thuận An ở phía Đông của Kinh thành là nơi mở ra các hoạt động giao thương đường thủy trong nước và quốc tế, do đó ở gần khu vực cảng biển này đã đồng thời hình thành nên các thương cảng và phố thương mại như Cảng Thuận An, Cảng Thanh Hà, Phố Tràng Tiền, Gia Hội, Chợ Dinh; kèm theo đó là các tiền đồn quân sự như Trấn Hải Đài ở phía biển và Trấn Bình Đài ở góc Đông Bắc của Kinh thành (thường được gọi là đồn Mang Cá).

Việc quy hoạch xây dựng lăng tẩm của các vị hoàng đế và các đền miếu hoàng gia ở khu vực đồi núi phía Tây và Tây Nam của Kinh thành, nơi đầu tiên tiếp nhận nguồn nước từ trời với nền đất cao hơn, có thể xuất phát từ lòng tôn kính tổ tiên và các vị thần linh. Và cũng có lẽ điều này chịu ảnh hưởng bởi quan niệm cho rằng hướng Tây mặt trời lặn là nơi kết thúc vòng đời để quay về với tổ tiên, và để tái sinh trở lại.

 Hình thái và Lý khí

Khái niệm “Sơn Thủy” (山水) của châu Á cổ đại khác với “Phong – Thủy” (Feing-shui/風水) có nguồn gốc từ Trung Hoa. Xét theo nghĩa từ nguyên, “Phong” là Gió (風) và “Thủy” (水) là Nước, nước là nguồn tài nguyên thiết yếu chỉ có thể thụ hưởng được từ trời đất thông qua vòng tuần hoàn của nó. Nước làm mát không khí, tạo chênh lệch áp suất để không khí chuyển động sinh ra gió, vật chất và năng lượng tồn tại trong không khí theo gió tác động đến đời sống con người. Xét theo nghĩa vật lý, Phong Thủy là một loại “Khí Lực” thiên nhiên toát ra từ hình thái sông núi, ao hồ, quang cảnh động tĩnh và vận phước của con người, từ đó kiến trúc và đô thị được thiết kế qui hoạch nhằm thụ hưởng tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của khí lực thiên nhiên đó.

Hình thái đô thị phong thủy là mẫu số chung của các quốc gia châu Á nhận ảnh hưởng văn minh Trung Hoa nói chung và Việt Nam nói riêng, mà trường hợp điển hình là Kinh đô phong thủy của triều Nguyễn (1802-1945) ở Huế. Những thuật ngữ phong thủy được tìm thấy trong các nguồn sử liệu triều Nguyễn giúp xác minh rằng nguyên lý quy hoạch, ý tưởng thiết kế và xây dựng Kinh đô Huế chịu ảnh hưởng sâu sắc của nguyên tắc phong thủy địa lý phương Đông. Cụ thể là:

(1) Địa thế “Long bàn Hổ cứ” (龍蟠虎踞), tức là bố cục tổng thể của phủ Thừa Thiên mà Kinh đô Huế là phần lõi được bao bọc bốn phía bởi núi đồi, cồn cát nổi, sông chảy uốn khúc, đầm phá trải rộng, giống như tư thế của rồng cuộn hổ ngồi;

(2) Địa thế “Sơn hồi Thủy tụ” (山廻水聚), tức là dãy núi phát triển về phía trước rồi chuyển hướng vòng lại bao bọc thung lũng bằng phẳng ở giữa nơi có nước tụ lại thành ao hồ, sông suối;

(3) Địa thế “Tứ thủy triều qui” (四水潮皈), tức là dòng chảy của Sông Hương và các chi lưu của nó là Sông Bồ và Sông Ô Lâu hợp lưu ở Ngã Ba Sình tạo thành cuộc đất ở giữa gọi là “Vương Đảo” (王嶋) với bốn mặt xung quanh tiếp giáp với nước, mà trên đó là vị trí tọa lạc của Kinh thành;

(4) Địa thế “Tả sa tác án chi huyền thủy” (左娑作泱之玄水), tức là dòng nước Sông Hương chảy uốn lượn theo hình chữ Chi (之) đổ xuống từ phía trái của cuộc đất, tạo thành một áng nước rộng trước mặt Kinh thành, đóng vai trò là yếu tố “Minh đường” tự nhiên, tấm gương phản chiếu vũ trụ;

(5) Địa thế “Hổ thủy” (虎水), tức là nơi dòng Sông Hương uốn khúc đột ngột làm cho nước chảy xiết; “Long sa” (龍沙) tức là cồn cát nổi lên giữa lòng sông;

(6) Khái niệm “Long mạch” (龍脈), ở diện quan sát vĩ mô là hình thế, hướng mạch của các dãy núi Hoành Sơn, Trường Sơn và Bạch Mã bao bọc ba hướng Bắc, Tây và Nam của Kinh đô Huế; ở diện quan sát vi mô là hình thế và hướng của mạch núi bao bọc xung quanh các khu vực lăng tẩm hoàng đế;

(7) Khái niệm “Cát mạch” hay “Kiết mạch” (桔脈) là nơi có luồng sinh khí kết tụ, đất đai cao ráo sạch sẽ, màu mỡ, có trường năng lượng mạnh.

Trên cơ sở phương vị của la bàn phong thủy, các nhà qui hoạch thời Nguyễn đã lồng ghép một cách khéo léo Kinh thành Huế vào một khung cảnh thiên nhiên sẵn có với đầy đủ các yếu tố phong thủy hình thái. Kinh thành Huế nằm trên trục Dũng Đạo, hướng Nam, phía trước có núi Ngự Bình đóng vai trò là Chu Tước (Tiền Án/chim Phượng đỏ/hành Hỏa), sau xa phía Bắc có dãy Hoành Sơn là Huyền Vũ (Hậu Chẩm/Rùa đen/hành Thủy), bên trái là hướng Đông có cồn cát nổi lên giữa lòng sông tên gọi Yến Thanh (thường gọi Cồn Hến) là Thanh Long (Tả/Rồng xanh/hành Mộc), bên phải là hướng Tây có cồn Dã Viên là Bạch Hổ (Hữu/Cọp trắng/hành Kim), ở vị trí trung tâm là Kinh thành – Trung ương (Huỳnh Thổ/Đất vàng/hành Thổ), ngay phía trước Kinh thành là sông Hương với khoảng lòng sông rộng nhất chảy qua là yếu tố Minh đường. Trong những yếu tố đó, sông Hương nổi bật lên với vai trò là tấm gương lớn phản chiếu vũ trụ, là nơi chan hòa năng lượng của trời đất. Quả thật, đây là một cuộc đất đẹp lý tưởng có một không hai cho một Kinh đô phong thủy .

Các yếu tố cấu thành phong thủy hình thái của Kinh đô Huế

Theo chỉ dụ của Hoàng đế Gia Long, và người tiếp tục thực hiện là Hoàng đế Minh Mạng, Kinh thành “Tọa Càn Hướng Tốn” [14] (tức là mặt sau tựa vào quẻ Càn, mặt trước hướng vào quẻ Tốn). Theo kết quả đo đạc thực tế bằng máy toàn đạc quang tuyến (Optimal Measurement Machine) và thiết bị định vị toàn cầu (Global Positiion System) thì trục Dũng Đạo (trục đối xứng trung tâm) của Kinh thành Huế được thiết kế theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, mặt trước hướng Nam, lệch trục Bắc – Nam 25 độ .

Trục và hướng của Kinh thành Huế theo la bàn phong thủy và theo kết quả trắc đạc

Nếu áp la bàn Hậu Thiên Bát Quái vào họa đồ này thì trục Bắc – Nam tương ứng với hướng Tý – Ngọ, tức quẻ Khảm (☵), quẻ Ly (☲); trục Tây Bắc – Đông Nam lần lượt tương ứng với quẻ Càn (☰), quẻ Tốn (☴). Và, trong trường hợp này, quẻ Tốn cũng chính là cung mạng tử vi của Hoàng đế Gia Long.

Phương vị và Quẻ của Tiên Thiên Bát Quái (hình trái) và Hậu Thiên Bái Quái (hình phải)

Trên phương diện vật lý kiến trúc, hướng Đông Nam là hướng tốt nhất, và cũng là hướng vương mệnh của Hoàng đế theo Dịch học: “Thánh nhân Nam diện vi thính thiên hạ” (Bậc Thánh nhân quay về hướng Nam lắng nghe tâm tư của người dân để cai trị). Nếu ghép quẻ Càn và quẻ Tốn theo thứ tự Càn trên Tốn dưới thì được quẻ “Thiên Phong” (天風), Tốn trên Càn dưới thì được quẻ “Dịch Thiên” (澤天) của “Lục thập tứ quái phương vị đồ” (Bản đồ phương vị 64 quẻ dịch). Hai quẻ “Thiên Phong” và “Dịch Thiên” đều ám chỉ nguyên khí vũ trụ mà tùy theo địa điểm của địa cuộc (không gian) và thời điểm của thời cuộc (thời gian) sẽ kết tụ hay phân tán. Như vậy, yếu tố không gian và thời gian đều hiện hữu và hòa quyện vào nhau trong ý tưởng qui hoạch, làm phông nền cho cơ cấu phong thủy Kinh đô Huế.

Kết luận

Phong thủy Kinh đô Huế được xác lập trên phông nền không gian và thời gian, trong đó Núi – Sông biểu hiện quy luật Âm Dương, những yếu tố cấu thành phong thủy hình thái tự nhiên (Thanh Long – Chu Tước – Hoàng Thổ – Bạch Hổ – Huyền Vũ) biểu trưng cho Ngũ Hành, và yếu tố con người trong mối quan hệ Thiên – Địa – Nhân tương dữ biểu trưng của Tam Tài, mà trong đó, yếu tố Nhân là dấu gạch ngang kết nối Thiên – Địa của nội hàm khái niệm Tam Tài ấy.

Phong thủy hiểu theo nghĩa từ nguyên là Gió và Nước, hiểu theo nghĩa đời sống xã hội là một loại khí lực thiên nhiên toát ra từ hình thái sông núi, hiểu theo nghĩa khoa học thực chứng là trường năng lượng tích cực của địa cầu và của vũ trụ, là sự tập hợp của những hạt vật chất siêu cảm vi tế tồn tại dưới dạng lượng tử. Một khi trường năng lượng này được kích hoạt sẽ tạo nên hiệu ứng phong thủy mạnh mẽ, đem lại sự hưng thịnh cho vùng đất, đời sống ấm no hạnh phúc cho con người.

Phong thủy hình thái tự nhiên qua thời gian đã được đúc kết thành một dạng công thức phong thủy hình thái giả lập, được áp dụng trong qui hoạch xây dựng đô thị, và cũng được tin tưởng rằng chúng sẽ mang đến phước lành, may mắn, thịnh vượng. Đất phước ắt có phước chủ, người phước ắt tìm được phước địa. Một khi đã có yếu tố đất phước, người phước, gặp thời vận tốt sẽ thành đại nghiệp như câu nói: “Thời thế tạo anh hùng” là vậy.

Để bảo tồn và phát triển đô thị di sản một cách bền vững cần kế thừa những đặc trưng địa lý thủy văn vốn có của cuộc đất mà đô thị tọa lạc, đồng thời cần hiểu rõ những nguyên lý quy hoạch nguyên bản đã tạo nên đô thị đó để tiếp tục duy trì mạch phát triển tích cực của đô thị. Lịch sử đã chứng minh rằng, cứ mỗi lần địa lý thủy văn thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi vị trí chiến lược của mỗi vùng đất, hoặc cả một triều đại. Kế thừa đô thị di sản trước tiên là kế thừa điều kiện địa lý thủy văn và những yếu tố nguyên bản cấu thành phong thủy hình thái của mỗi cuộc đất đã từng được lựa chọn để trở thành những trung tâm chính trị – văn hóa – kinh tế trong quá khứ, và để tiếp tục tích lũy gia tốc tạo đà cho sự phát triển của những đô thị lịch sử này trong tương lai.

TS.KTS. Lê Vĩnh An1, KTS. Lê Xuân Vĩnh Khang2,
ThS. Nguyễn Anh Tuấn3
1 Đại học Công nghiệp TP. HCM
2 Công ty cổ phần BO Design Construction, TP. HCM
3 Khoa Xây dựng, Học viện Hàng không Việt Nam
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06-2025)


Chú thích:
[1] Nội các triều Nguyễn, “大南寔録, 紀1” (Đại Nam Thực Lục, quyển 1), NXB Giáo Dục, Hà Nội 2002, tr. 28; Nội các triều Lê, “大越史記全書, 紀3” (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển 3), NXB Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội 2004, tr. 137; Nội các triều Nguyễn, “大南一統志, 承天府, 卷1” (Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên Phủ, quyển 1), dịch tiếng Việt bởi Phạm Trọng Diễn, NXB Thuận Hóa, Huế 2006, tr. 165;
[2] Tana L., “Nguyen CochinChina – Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries”, New York 1998, Cornell University, Seap, pp. 11–17, 139–154;
[3] Trần Quốc Vượng, “Xứ Huế dưới góc nhìn Chính trị Văn hoá”, Tạp chí Di sản Văn hoá, số 3, Hà Nội 2003, tr.5;
[4] Nội các triều Nguyễn, “欽定大南會典事例正編, 工部, 巻205” (Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ Chính Biên, Công Bộ, quyển 205), NXB Khoa học-Xã hội, Hà Nội 2004, tr. 29;
[5] An.V.L., “Indigenous Fundamental Layouts of the Hue Ancient Capital City during Nguyen Dynasty (1802-1945), Vietnam”, Science and Technology: Developments and Applications Vol. 9, Chapter 11, BP International Publisher 2025 (ISBN 978-93-49729-08-7 (Print), ISBN 978-93-49729-44-5 (eBook)), pp. 144-188; https://doi.org/10.9734/bpi/stda/v9/4137;
[6] Jan M. P., “Historical Atlas of South-East Asia”, Leiden-New York-Koln 1995, map 4, pp. 12, 27;
[7] Cotterell A., “A History of Southeast Asia” (ISBN: 978-981-4361-02-6), Marshall Cavendish Editions 2017, p. 90;
[8] Trần Quốc Vượng, “Từ một cái nhìn Thánh địa Mỹ Sơn” – Tham luận hội thảo khoa học quốc gia về Mỹ Sơn, Sở Văn hóa và Thông tin Tỉnh Quảng Nam 1998, tr. 29; Trần Kỳ Phương, “Bước đầu tìm hiểu về địa – lịch sử của vương quốc Chiêm Thành ở miền Trung Việt Nam: Với sự tham chiếu đặc biệt vào hệ thống trao đổi ven sông của lưu vực sông Thu Bồn ở Quảng Nam”, Tạp chí Văn hóa-Nghệ thuật miền Trung, Huế 2004, tr. 221-222;
[9] Nguyễn Đình Hòe, “Điện Huệ Nam”, Những Người Bạn Cố Đô Huế (B.A.V.H), NXB Thuận Hóa, quyển 2, Huế 1997, tr. 342-343;
[10] Nội các triều Nguyễn, 1969, đã dẫn, tr. 147; Parmentier H., “Inventaire descriptif des monuments čams de l’Annam, Tome II, Étude de l’art čam. Ernest Leroux”, Paris 1918, pp. 513-514; Jean Y.C., “Hành trình vào sự nghiên cứu nước Annam và nước Chăm Pa” (Journey into the study of Annam and Champa), Bulletin des Amis du vieux Hue (B.A.V.H), dịch tiếng Việt bởi Đặng Như Tùng, NXB Thuận Hóa, Huế 1997, tr. 61-62; Trần Quốc Vượng, “Việt Nam – cái nhìn Địa – Văn hóa”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội 1998, tr. 388-417; Nguyễn Văn Doanh, “Thành cổ Chămpa – Những dấu ấn của thời gian”, NXB Thế Giới, Hà Nội 2011, tr. 31-54;
[11] Pugnaloni P., Carlorosi C., “Champa Architecture – Vietnam Towers Roads”, Universita Politecnica Delle Marche-Italy 2014 (ISBN 9788876637926), pp. 102-103;
[12] Nội các triều Nguyễn, 1960, đã dẫn, tr. 17-20, 62, 17-91;
[13] Nội các triều Nguyễn, “大南一統志, 承天府, 卷1” (Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên Phủ, quyển 1), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1969, tr. 39-40;
[14] Phan Thuận An: “Kinh thành Huế”, NXB Thuận Hóa, Huế 1999, . 84-85; Nội các triều Nguyễn, “大南寔録, 紀3” (Đại Nam Thực Lục, quyển 3), NXB Sử Học, Hà Nội 1963, tr. 117; Thái Văn Kiểm “Cố Đô Huế – Lịch Sử – Cổ Tích – Thắng Cảnh”, Nha Văn Hóa – Bộ Quốc Gia Giáo Dục Publisher, Sài Gòn 1960, quyển 7, tr. 3.