Quận Nam Từ Liêm – Truyền thống lịch sử và Di sản Văn hóa

Quận Nam Từ Liêm là một phần của vùng đất Từ Liêm. Gần hai nghìn năm trước, địa danh Từ Liêm đã xuất hiện và trở thành một đơn vị hành chính cấp huyện từ thế kỷ thứ 7, theo đó, các quận Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Cầu Giấy, 5 phường của quận Tây Hồ (Nhật Tân, Phú Thượng, Quảng An, Tứ Liên và Xuân La), phường Nhân Chính của quận Thanh Xuân nằm trong huyện Từ Liêm rộng lớn trước đây, chạy suốt từ Hồ Tây đến giáp Hà Đông.

Nam Từ Liêm – một vùng đất cổ, với truyền thống lịch sử hào hùng

Khi Thăng Long trở thành Kinh đô của Đại Việt (1010), Từ Liêm là cửa ngõ phía Tây – địa bàn có ý nghĩa cơ động và chiến lược về nhiều mặt chính trị, kinh tế, lịch sử và văn hóa.

Thời các vua Hùng dựng nước, giặc ngoại xâm phương Bắc thường xâm lược nước ta. Phan Tây Nhạc, tướng của vua Hùng thứ 18 đã cùng vợ chọn Hòe Thị, Thị Cấm (nay thuộc phường Phương Canh) là nơi đóng quân và hành binh đi chống quân xâm lược. Năm 545, nhà Lương đem quân xâm lược nước ta, Lý Nam Đế (Lý Bí) đã tổ chức lãnh đạo nhân dân thành lập lũy trên địa bàn sông Tô Lịch, nhân dân Mễ Trì, Mỹ Đình, Xuân Phương đã tham gia hưởng ứng cuộc kháng chiến. Ngày 16/3/1427, một đội quân Minh tập kết vào doanh trại của nghĩa quân ở bãi Sa Đôi (thôn Phú Đô, nay thuộc phường Mễ Trì), nghĩa quân đã chống trả quyết liệt đánh bại quân giặc. Khi 20 vạn quân Thanh sang xâm lược nước ta, vua Quang Trung dẫn đại binh tiến vào thành Thăng Long. Đội quân tiên phong đã được nhân dân Phùng Khoang (nay thuộc phường Trung Văn), Mễ Trì che chở, giúp đỡ lương thực, rơm bện tẩm dầu đưa vào trại giặc ở Khương Thượng đốt lên làm cho quân giặc hoang mang tan rã. Ở Hòe Thị (Xuân Phương), ông Vũ Thường – một tướng chỉ huy nghĩa quân lập công lớn góp phần làm nên chiến thắng Xuân năm Kỷ Dậu (1789).

Cảnh quan đình Đại Mỗ, phường Đại Mỗ

Thời kỳ Kháng chiến chống Pháp bùng nổ (12/1946), Từ Liêm là hậu phương trực tiếp của liên khu – một “chốt thép” giữa vòng vây của địch, đã chiến đấu góp phần giam chân địch 60 ngày trong TP.
Trên đất Nam Từ Liêm hiện còn các di tích và địa điểm di tích chống Pháp và chống Mỹ nổi tiếng như: Cây đa đình Hòe Thị (phường Xuân Phương) – Nơi tổ chức Nông hội đỏ treo cờ búa liềm của Đảng ngày 1/5/1930; Nhà bà Thị Tùng – cơ sở in báo “Giải phóng” và “Cờ Giải phóng” (thôn Ngọc Trục, phường Đại Mỗ, năm 1934 – 1942); Cây Đề chợ Canh – nơi giặc Pháp xử bắn đồng chí Nguyễn Thị Hoài, Bí thư Phụ nữ xã kiêm Chính trị viên Xã đội (phường Xuân Phương); Bốt Đại Mỗ – nơi ghi chiến công của dân quân du kích Đại Mỗ năm 1948 (phường Đại Mỗ); Hầm chỉ huy sư đoàn 361 tại chùa Thanh Quang (phường Mỹ Đình 2). Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã đến thăm Mễ Trì, Mỹ Đình, Xuân Phương. Quận Nam Từ Liêm còn ghi dấu ấn các di tích và địa điểm di tích của Người.

Nam Từ Liêm – Dấu ấn di sản văn hóa của Thăng Long – Hà Nội

Văn hóa vùng Nam Từ Liêm gắn bó với văn hóa châu thổ sông Hồng và sông Nhuệ. Lịch sử trải dài hàng ngàn năm khai phá vùng đất và chống ngoại xâm đã lưu giữ nhiều di tích lịch sử – văn hóa với 45 di tích đã xếp hạng cấp Quốc gia và cấp Thành phố (năm 2015). Đình Đại Mỗ (phường Đại Mỗ) thờ Thành hoàng làng là vị nhiên thần Đức Thủy Hải Long Vương (là một trong 50 người con trai của Lạc Long Quân theo cha, xuống biển, dạy dân làm nghề trồng lúa nước);… bà Ả Lả Nàng Đê, vị nữ tướng của Hai Bà Trưng và ba vị Đại vương họ Nguyễn (tức ba cha con, ông cháu Tể tướng Nguyễn Xung Đức (1648-1720) cả 5 vị này đều được thờ ở các làng thuộc xã Đại Mỗ cũ.

Làng Mễ Trì Hạ thuộc phường Mễ Trì, có ngôi đình cổ ở trung tâm làng. Đầu năm 1426, Lê Lợi từ Thanh Hóa tiến quân ra vây quân Minh ở thành Đông Quan, cánh quân phía Tây do tướng Lê Thụ chỉ huy đến đóng tổng hành dinh trên núi Anh Sơn rồi đưa quân ra chặn đánh tan cánh quân Minh do Phương Chính chỉ huy đóng ở Phú Đô, bọn giặc phải rút chạy vào trong thành cố thủ. Sau khi đất nước giành được độc lập, nghĩ đến công lao của nhân dân xã Anh Sơn đã giúp nghĩa quân Lam Sơn, nên năm Thuận Thiên thứ 5, năm Nhâm Tý (1432) vua Lê Thái Tổ cấp tiền cho dân xây lại, đình không ở chỗ cũ mà mỗi thôn xây một ngôi đình như hiện nay. Đó là đình Mễ Trì Thượng và đình Mễ Trì Hạ. Về sau, nhân dân Anh Sơn trồng được gạo tám thơm tiến vua nên được đổi tên là xã Mễ Trì (nghĩa là ao gạo, vì ở đây có cái đầm rộng 40 mẫu cấy gạo thơm).

Toàn cảnh lễ hội đình Thị Cấm

Nam Từ Liêm, vùng đất khoa bảng, hiếu học “Mỗ – La – Canh – Cót: tứ danh hương”

Làng Tây Mỗ (nay là phường Tây Mỗ) có 8 người đỗ đại khoa (Tiến sĩ) và 75 người đỗ Cử nhân thời phong kiến xưa. Làng Đại Mỗ (Phường Đại Mỗ) có ba cha, con và cháu đỗ đại khoa (Tiến sĩ) của dòng họ Nguyễn Quý: Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Quý Ân và Nguyễn Quý Kính. Nguyễn Quý Đức (1648 – 1720) đỗ Đình Nguyên năm 28 tuổi, làm quan hơn 40 năm, cao nhất là chức Thiếu Phó (1714), Binh bộ Thượng thư, Tham tụng (1708). Ông làm quan nổi tiếng thanh liêm, có nhiều công lao với sự nghiệp phát triển đất nước thời đó. Cả ba người, khi mất đều được vua phong là Đại Vương phúc thần và thờ ở đình làng Đại Mỗ. Xuân Phương, vùng quê của nhà cách mạng – nhà thơ Xuân Thủy, tính đến năm 1915, có 42 Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài. Riêng làng Thị Cấm cũng nổi danh có Bùi Doãn Đốc, đỗ Bảng nhãn năm 1535, tham gia viết “Đại Việt sử ký tục biên” có văn bia ở Cầu Giấy (cầu Tây Dương) khắc năm 1679.

Gắn liền với các di tích và thắng cảnh, trên đất Nam Từ Liêm còn lưu giữ 27 di sản văn hóa phi vật thể: 22 lễ hội, 4 làng nghề truyền thống, 1 tri thức dân gian.

Lễ hội Thổi cơm thi

Các lễ hội truyền thống đều có mặt ở hầu hết các làng, xã (nay là tổ dân phố, phường) trên vùng đất Nam Từ Liêm giàu truyền thống văn hóa. Ở đây, rất độc đáo là lễ hội đình Thị Cấm, có hội Thổi cơm thi rất đặc sắc, được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng Giêng âm lịch. Làng Thị Cấm thờ Phan Tây Nhạc (tướng của vua Hùng thứ 18). Ông từng đóng quân ở Thị Cấm, có tổ chức cho quân lính thổi cơm thi. Sau khi ông mất, làng tôn làm Thành hoàng và hằng năm mở hội lớn tại đình. Tóm tắt Hội Thổi cơm thi đình Thị Cấm như sau: Từ xưa quy định làng có 4 giáp, mỗi giáp cử 10 người nam nữ phân công như sau: 4 người xay thóc giã gạo, 2 người kéo lửa (bằng các cật cây giang), 1 người đi lấy nước, 2 người nấu cơm, 1 người dần sàng. Theo quy định, những người dự thi đều chít khăn xanh, đỏ, vàng, tím và thắt lưng cùng màu khăn để phân biệt các giáp. Ban Giám khảo có chủ khảo đánh trống lệnh và gạo trắng nhất sẽ được giải. Tiếp theo là thi kéo lửa nhanh, lấy nước vào bình bằng ống tre, chạy 1 quãng dài gần 1.000m. Cuối cùng là khâu thổi cơm, giáp nào nấu cơm nhanh và dẻo thì được giải và đưa cơm vào đình cúng thần. Trong cuộc thi, khó nhất là khâu kéo lửa nên người ta chọn các thanh giang già gác trên bếp 1 thời gian cho thật khô, dùng 2 người khỏe cọ các thanh giang vào nhau cho bật lửa, lấy bùi nhùi rơm nỏ châm vào lấy lửa. Phần kết thúc thật là ngoạn mục. Các giáp đã trữ sẵn 1 lượng lớn rơm để ở 4 góc sân đình, mỗi giáp dùng một phần tư, tuy có một nồi cơm ngon, nhưng họ đốt rơm cháy thành nhiều đống, rồi gạt tro làm nhiều phần, khi nồi cơm cạn nước thì họ dùng tro phủ kín lại, rồi dùng tro làm nghi binh, để không ai rõ nồi cơm nằm ở đống nào. Khi Ban Tổ chức cử một người ra thu các nồi cơm đến đâu, các giáp dùng rơm đốt ngăn cản Ban Tổ chức, để cơm kịp chín thêm. Hết đợt trống, Ban Tổ chức lại mất công tìm kiếm nồi cơm, vì nhiều đống tro nghi binh, nên không biết nồi cơm nào ở đống nào. Diễn biến toàn cuộc, từ lúc bắt đầu khai mạc đến kết thúc hội thi, trống chiêng gõ liên tục, khói lửa nghi ngút, lửa nóng mùi rơm, làm không khí rất hào hứng. Người trong cuộc thi và người xem đều căng thẳng thần kinh hưng phấn, sôi nổi trong thời gian kéo dài khoảng 2 giờ.

Làm Cốm ở Mễ Trì

Quận Nam Từ Liêm có 4 làng nghề truyền thống là: Nghề Cốm Mễ Trì, nghề làm Bún Phú Đô, nghề Gò hàn tôn thiếc Phú Thứ (nay thuộc phường Tây Mỗ), nghề Giọt trang kim mỹ nghệ Phú Thứ. Đặc biệt, nghề Cốm Mễ Trì (phường Mễ Trì) được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia (Quyết định tháng 2/2019). Thủ đô Hà Nội có hai làng làm nghề Cốm nổi tiếng của huyện Từ Liêm xưa là làng Vòng (quận Cầu Giấy) và làng Mễ Trì (quận Nam Từ Liêm). Ngày nay, nghề Cốm Mễ Trì phát triển mạnh. Trước đây Cốm Mễ Trì chỉ làm vào mùa Thu (tức vụ Mùa) thì nay được làm quanh năm. Các hộ nghề đã liên kết với các vùng đất trồng lúa nếp để có nguyên liệu làm cốm. Do đã sử dụng máy móc cơ giới, nên các khâu làm Cốm đạt năng suất cao, tiết kiệm, công sức so với làm thủ công mà vẫn đảm bảo hương vị của Cốm Mễ Trì là mỏng, dẻo, thơm.

Thay lời kết

Ngoài các di tích lịch sử – văn hóa và làng quê truyền thống xưa, trên đất Nam Từ Liêm ngày nay đã đang dần hình thành vùng đô thị hiện đại, với nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng như: Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Sân vận động Quốc gia, Bảo tàng Hà Nội, Đại Lộ Thăng Long… Phát huy kế thừa giá trị văn hóa truyền thống và lịch sử, những năm qua, với sự quan tâm sâu sát của chính quyền TP và địa phương, quận Nam Từ Liêm đã có những bước tiến mới, những thành tựu đáng kể trong xây dựng sự nghiệp phát triển chung của Thủ đô. Đó là những thành tựu đáng tự hào, ghi dấu ấn Nam Từ Liêm trong thời kỳ đổi mới, hướng đến phát triển bền vững, hiện đại và bản sắc.

Các công trình di tích Quận NTL – Ảnh: KTS Nguyễn Phú Đức

TS. Lưu Minh Trị
Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội
Ảnh trong bài: Tác giả và KTS Nguyễn Phú Đức
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2019)