Tạo lập dự án thành phần theo mô hình cộng đồng hộ dân trong quy hoạch chi tiết cải tạo, xây dựng lại khu chung cư cũ (ví dụ: minh họa khu tập thể kim liên, Hà Nội)

1. Mở đầu

Ngày 18/12/2021, UBND TP. Hà Nội đã ra Quyết định số 5289/QĐ-UBND về việc ban hành Đề án Cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ trên địa bàn TP. Hà Nội với 8 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm và 6 kế hoạch triển khai Đề án.

Ngày 28/06/2025, tại Công văn số 164/BC-SXD, Sở Xây dựng đã báo cáo Kết quả triển khai thực hiện Đề án và các Kế hoạch triển khai Đề án cải tạo, xây dựng (XD) lại chung cư cũ (CCC) trên địa bàn TP. Hà Nội – Quý II/2025: “Đến nay tiến độ triển khai công tác cải tạo, XD lại nhà chung cư trên địa bàn Thành phố còn chậm: (i) Chưa có khu/nhà chung cư nào trên địa bàn được phê duyệt Quy hoạch (QH) chi tiết; (ii) Chưa hoàn thành công tác kiểm định; (iii) Chưa thực hiện khảo sát, xác định số liệu hiện trạng, xác định phạm vi, ranh giới dự án,…”

Công văn số 164/BC-SXD cũng khẳng định: Nếu triển khai thực hiện dự án cải tạo, XD lại nhà chung cư trên quy mô toàn khu sẽ mất nhiều thời gian do phải thỏa thuận với toàn bộ các hộ dân. Do vậy, để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, ngay khi lập QH chi tiết 1/500 cần phải xác định phạm vi ranh giới dự án cải tạo XD lại toàn khu nhà ở và xác định phạm vi ranh giới dự án thành phần để triển khai trước các nhà chung cư có vị trí thuận lợi, khả thi cao, những nhà chung cư còn lại thực hiện hình thức “cuốn chiếu”. Đồng thời triển khai trước việc lập, phê duyệt QH chi tiết dự án thành phần sau đó cập nhật vào QH chi tiết toàn khu.

Việc quy gom, phân nhóm, xác định phạm vi, ranh giới và tính khả thi các dự án thành phần trong dự án cải tạo, XD lại khu CCC hoàn toàn có thể theo “Mô hình Cộng đồng hộ dân tổ chức liên kết cải tạo, XD lại CCC “.

2. Mô hình Cộng đồng hộ dân tổ chức liên kết cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ

2.1. Mô hình xã hội hóa đầu tư cải tạo, XD lại CCC

Tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa mà việc cải tạo, XD lại CCC khác nhau trong mỗi quốc gia. Từ đây, hình thành nhiều mô hình cải tạo, XD lại CCC theo hướng đầu tư của nhà nước hay xã hội hóa. Hiện có 5 mô hình chính:

  • Mô hình A: Đầu tư cải tạo, XD lại CCC bằng nguồn vốn ngân sách, do Nhà nước làm chủ đầu tư;
  • Mô hình B: Đầu tư cải tạo, XD lại CCC bằng nguồn vốn xã hội hóa do nhà đầu tư thực hiện với sự hỗ trợ một phần từ ngân sách của Nhà nước;
  • Mô hình C: Đầu tư cải tạo, XD lại CCC bằng nguồn vốn xã hội hóa do nhà đầu tư chủ động thực hiện. Hiện nay, các giải pháp QH, tổ chức thực hiện đều định hướng theo mô hình này (liên quan đến lợi ích của nhà đầu tư và việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhà đầu tư và hộ dân chủ sở hữu căn hộ thông qua hệ số đền bù k – điểm nghẽn chính của Mô hình);
  • Mô hình D: Cộng đồng hộ dân (chủ sở hữu công trình, căn hộ) tự tổ chức liên kết cải tạo, XD lại CCC. Cộng đồng hộ dân góp đất, nhà đầu tư góp kinh phí;
  • Mô hình Đ: Cộng đồng hộ dân (chủ sở hữu công trình, căn hộ) tự tổ chức cải tạo CCC. Mô hình xã hội hóa D và Đ chưa phổ biến tại Việt Nam.

2.2. Mô hình D – Cộng đồng hộ dân tổ chức liên kết cải tạo, XD lại CCC

a) Giới thiệu chung về Mô hình:

  • Mô hình Cộng đồng hộ dân tổ chức liên kết cải tạo, XD lại CCC hoàn toàn tuân theo Luật Nhà ở, Luật số 65/2014/QH13 và các quy định pháp lý khác có liên quan.
  • Mô hình Cộng đồng hộ dân tổ chức liên kết cải tạo, XD lại CCC cũ là kết quả của đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp cải tạo, XD lại CCC ở các đô thị Việt Nam, thí điểm tại Hà Nội” – Đề tài cấp Bộ do Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện; Mã số: B2022 – XDA – 08; Chủ trì: Trường ĐHXD Hà Nội; Nghiệm thu năm 2024.
  • Mô hình D bắt nguồn từ thực tiễn cải tạo, XD lại CCC của một số nước có điều kiện tương tự như Việt Nam. Yếu tố cộng đồng luôn có vai trò then chốt: i) Do cộng đồng hộ dân chủ động thực hiện toàn diện; ii) Được thúc đẩy bởi nhu cầu thực của cộng đồng; iii) Tôn trọng văn hóa, lịch sử, truyền thống của cộng đồng; iv) Cộng đồng tổ chức liên kết với các đối tác khác nhau để thực hiện; v) Hướng đến thay đổi toàn diện phù hợp với chiến lược phát triển chung.
  • Mô hình là tích hợp của 3 loại: i) Dự án tái phát triển đô thị; ii) Dự án kinh doanh bất động sản; iii) Dự án nâng cao chất lượng sống, sinh kế và cộng đồng.
  • Mô hình thể hiện sự tác động đồng bộ của 3 chủ thể chính có liên quan:
    • Chính quyền TP. Hà Nội và địa phương: Tổng rà soát, khảo sát, kiểm định chất lượng CCC; lập, phê duyệt QH chi tiết, tổng mặt bằng; phê duyệt chủ đầu tư dự án; tạo cơ chế hỗ trợ…;
    • Cộng đồng hộ dân – Chủ sở hữu CCC: Cung cấp địa điểm thực hiện dự án; lập Ban cải tạo, XD lại CCC, Ban quản lý chung cư; lựa chọn nhà đầu tư; giám sát việc triển khai thực hiện dự án; tổ chức tái định cư; phân chia quyền lợi trong dự án; nhận bàn giao công trình và vận hành…;
    • Nhà đầu tư kinh doanh bất động sản hay công ty đối tác XD: Thu xếp vốn cho dự án; lập dự án, giải phóng mặt bằng, tạm cư và tổ chức đầu tư XD; kinh doanh thu hồi vốn đầu tư XD; bàn giao công trình…
  • Mô hình thực hiện phù hợp với Dự án đầu tư XD lại CCC: Tuân theo QH chi tiết, tổng mặt bằng và phương án kiến trúc đã được phê duyệt; thống nhất chủ sở hữu căn hộ và công trình bởi cộng đồng hộ dân.
  • Sau khi đầu tư XD, công ty đối tác XD bàn giao toàn bộ tầng hầm và tầng thương mại dịch vụ cho cộng đồng hộ dân. Lợi nhuận kinh doanh được phân chia hài hòa giữa cộng đồng hộ dân và công ty đối tác XD;
  • Hình thức kiến trúc cân bằng giữa XD mới và bảo tồn kiến trúc công trình, cảnh quan, văn hóa đặc trưng của địa điểm.
  • Theo mô hình, cộng đồng hộ dân chủ động tổ chức liên kết XD lại chính ngôi nhà của họ, thay vì thụ động chờ đạt được các thỏa thuận lợi ích với nhà đầu tư kinh doanh bất động sản đến từ bên ngoài. Nhà đầu tư chỉ là Chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án. Chung cư XD lại luôn thuộc về Cộng đồng hộ dân.

b) Hệ số đền bù tái định cư trong Mô hình:

  • Đối với hộ dân tại nhà chung cư (có sổ đỏ):
    • Hệ số đền bù chính theo NĐ 98/2024/NĐ-CP- K1:
      • Diện tích đền bù cho căn hộ tại tầng 1: K1a= 2 lần.
      • Diện tích đền bù cho căn hộ tại tầng 02 trở lên: K1b= 1,5 lần (khó đáp ứng nhu cầu ở với quy mô hiện trạng từ 25 – 30m2/căn hộ).
    • Hệ số đền bù hỗ trợ của Cộng đồng theo Mô hình Cộng đồng hộ dân – K2:
      • Diện tích đền bù hỗ trợ cho căn hộ tại tầng 1: K2a = 0,4 lần, nhằm tạo cho các hộ dân tại tầng 1 cơ hội sinh kế với diện tích kios khoảng 10m2.
      • Diện tích đền bù hỗ trợ cho căn hộ tại tầng 02 trở lên: K2b = 0,5 lần, nhằm tạo cho các hộ dân tại tầng 2 cơ hội nâng cao chất lượng sống với diện tích căn hộ tối thiểu khoảng 60m2.
  • Đối với hộ dân cơi nới diện tích xung quanh nhà chung cư (không sổ đỏ):
    • Hệ số đền bù hỗ trợ của cộng đồng theo Mô hình cộng đồng hộ dân – K3:
  • Diện tích tích đền bù hỗ trợ: Toàn bộ diện tích XD công trình (không tính sân, vườn); công trình hiện tại cao 1 – 5 tầng, bao gồm diện tích kinh doanh và diện tích ở.
  • Hệ số đền bù hỗ trợ K3 = 0,5 lần. Tùy theo khảo sát hiện trạng tại từng địa điểm, diện tích kinh doanh sau khi đền bù sẽ được bố trí tại tầng 1 của công trình chung cư XD lại; diện tích ở được bổ sung vào diện tích ở của các hộ dân tại công trình chung cư XD lại.
  • Hiệu quả tổng hợp của Mô hình liên quan đến hệ số đền bù:
    • Đối với căn hộ tại tầng 1, hệ số đền bù được tính bằng K = K1a + K2a + K3, tối thiểu là 2,4 lần và tùy theo từng trường hợp có thể đạt tới 2,6 lần.
    • Đối với căn hộ tại tầng 02 trở lên, hệ số đền bù được tính bằng K = K1b + K2b + K3, tối thiểu là 2 lần và tùy theo từng trường hợp có thể đạt tới 2,3 lần.

3. Tạo lập các dự án thành phần theo Mô hình cộng đồng hộ dân trong QH chi tiết cải tạo, XD lại Khu tập thể Kim Liên và phụ cận

3.1. Giới thiệu chung về Khu tập thể Kim Liên và phụ cận, Hà Nội

Ngày 19/02/2025, tại Quyết định số 822/QĐ-UBND, UBND TP Hà Nội đã phê duyệt Nhiệm vụ QH chi tiết cải tạo, XD lại Khu tập thể Kim Liên và phụ cận, tỷ lệ 1/500. Địa điểm: Phường Kim Liên, Hà Nội.

Diện tích khu đất QH khoảng 35,5ha. Dân số hiện trạng khoảng 17.825 người.

Khu tập thể Kim Liên là một trong những khu tập thể theo mô hình tiểu khu đầu tiên của Việt Nam, được chuyên gia Triều Tiên hỗ trợ XD vào những năm 1959 – 1965. Đây được xem là khu tập thể tương đối rộng rãi và khang trang thời bấy giờ.

Theo thời gian, phần lớn các công trình hạ tầng kỹ thuật và chung cư đã xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu sử dụng và quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Xung quanh nhà chung cư bị lấn chiếm bởi nhà ở và kios xây dựng tạm.

Khu tập thể Kim Liên thế hệ đầu tiên phải đổi mới sau 60 năm sử dụng.

3.2. Quan điểm lập QH chi tiết cải tạo XD lại Khu tập thể Kim Liên và phụ cận

a) Phù hợp theo quy định pháp luật có liên quan và QH cấp cao hơn:

  • Việc lập QH thực hiện theo Luật QH Đô thị và Nông thôn số 47/2024/QH15 ngày 26/11/2024; Thông tư số 16/2025TT-BXD ngày 30/06/2025 của Bộ XD quy định chi tiết một số điều của Luật QH Đô thị và Nông thôn.
  • Việc lập QH phù hợp với QH cấp cao hơn: QH Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1569/QĐ-TTg, ngày 12/12/2024; Điều chỉnh QH chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045 và tầm nhìn đến năm 2065 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1668/QĐ-TTg, ngày 27/12/2024; QH phân khu đô thị H1-3, tỷ lệ 1/2.000 đã được UBND TP. Hà Nội phê duyệt tại Quyết định số 1356/QĐ-UBND, ngày 19/03/2021.
  • Đất ở trong khu vực lập QH chi tiết gồm 3 loại: i) Khu chung cư XD mới; ii) Khu chung cư cải tạo, XD lại; iii) Khu dân cư hiện có chỉnh trang theo QH. Trong đó, khu chung cư cải tạo, XD lại có vai trò quan trọng, chiếm khoảng 55% đất ở hiện trạng. Đây cũng chính là khu vực xác định các dự án thành phần cải tạo, XD lại CCC.
  • Theo QH phân khu, tại Khu tập thể Kim Liên và phụ cận bố trí ga ngầm tại phố Hoàng Tích Trí của tuyến đường sắt đô thị số 2 (Thượng Đình – Trần Hưng Đạo). QH không chỉ nhằm cải tạo, XD lại CCC, mà còn hướng tới phát triển hệ thống dịch vụ thương mại và công trình công cộng theo mô hình TOD (phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng).

b) Cách tiếp cận mới phù hợp với một khu đô thị và cộng đồng dân cư đã tồn tại từ lâu:

  • Việc lập QH chi tiết cải tạo, XD lại Khu tập thể Kim Liên và phụ cận không thể thực hiện theo cách QH khu đô thị mới thông thường, mà phải có cách tiếp cận riêng, phù hợp với một khu vực tập trung sinh sống của nhiều cộng đồng dân cư đô thị.
  • Theo tính toán sơ bộ hiện trạng (năm 2025), tại Khu tập thể Kim Liên và phụ cận có khoảng hơn 40 chung cư cao 2- 5 tầng. Các tòa nhà được đặt tên theo ký hiệu B1 đến B24, C1 – C15 và một vài chung cư khác mới XD trong những năm sau này.
  • Các hộ dân sống trong các chung cư với hơn 60 năm, không phải là số đông hộ dân đơn lẻ, mà đã dần hình thành những nhóm cộng đồng dân cư có truyền thống và cả sức mạnh của văn hóa và văn minh đô thị, tích hợp từ:
    • Sự tuân thủ các chính sách của Nhà nước có liên quan để thực hiện đúng và sáng tạo việc cải tạo, XD lại CCC;
    • Sự hiểu biết về thị trường bất động sản để chủ động khai thác có hiệu quả địa điểm có giá trị bất động sản cao tại trung tâm thành phố;
    • Khả năng lựa chọn và liên kết với các đối tác khác nhau (nhà đầu tư, tài chính, khoa học công nghệ và môi trường, luật pháp…) để cùng thực hiện hiệu quả dự án;
    • Sự đoàn kết trong việc thực hiện nhu cầu thực của cộng đồng và cùng hỗ trợ những thành viên trong cộng đồng còn khó khăn.

3.3. Tạo lập các dự án thành phần theo Mô hình cộng đồng hộ dân

a) Quy gom, phân nhóm CCC để xác lập dự án thành phần:

  • Về quy mô: Không quá 2 ha, phù hợp với quy mô các khu chung cư đơn lẻ. Mỗi dự án thành phần quy gom từ 2 – 6 CCC, tạo thành một cộng đồng hộ dân mới có quy mô lớn hơn so với cộng đồng hộ dân cũ.
  • Về ranh giới: Rõ ràng, được xác định theo lộ giới của các tuyến đường QH và ranh giới sử dụng đất của các ô đất kề liền.
  • Số lượng: Dự kiến phân nhóm thành 11 dự án, ký hiệu từ N.01 – N.11. Riêng dự án thành phần N.04, đất XD chung cư B17 (thuộc Ngoại giao đoàn), được giữ nguyên hiện trạng. Đây trở thành nơi lưu giữ hình ảnh của công trình chung cư thuộc Khu tập thể Kim Liên xưa cho thế hệ sau.

b) Tính toán chi phí đầu tư XD từng dự án thành phần:

Việc xác định chi phí đầu tư XD quyết định hệ số đền bù tái định cư; xác định số tầng nhà và hiệu quả tổng hợp của từng dự án. Chi phí đầu tư XD gồm:

  • Chi phí tạm cư để chủ sở hữu căn hộ tự lo chỗ ở trong thời gian XD (2,5 – 3 năm);
  • Chi phí XD gồm: Chi phí XD công trình; chi phí XD sân vườn ngoài nhà; chi phí đóng góp cho việc cải tạo, XD lại hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung toàn khu; chi phí dự phòng và thuế giá trị gia tăng;
  • Lãi vay trong thời gian XD;
  • Lợi nhuận của nhà đầu tư hay công ty đối tác XD (dự kiến chiếm 10% tổng vốn đầu tư xây dựng, tương đương với dự án nhà ở xã hội).

c) Thống nhất hệ số đền bù tái định cư:

Phù hợp với việc xác định hệ số đền bù tái định cư của Mô hình, gồm 2 loại: Hệ số đền bù chính, theo NĐ 98/2024/NĐ-CP: K1; hệ số đền bù hỗ trợ của cộng đồng: K2 và K3, nhằm đáp ứng nhu cầu thực của cộng đồng về cơ hội sinh kế, nâng cao chất lượng sống và trách nhiệm hỗ trợ những thành viên còn khó khăn trong cộng đồng. Lợi thế về vị trí của khu vực trong thị trường bất động sản có vai trò tích cực trong việc xác lập các hệ số đền bù này.

Hệ số đền bù tái định cư được thống nhất cụ thể giữa cộng đồng hộ dân và công ty đối tác XD.

d) Xác định số tầng nhà căn cứ theo khả năng thu hồi vốn đầu tư:

Theo mô hình, sau khi đầu tư XD hoàn thành, nhà đầu tư hay công ty đối tác XD bàn giao hoàn toàn công trình cho cộng đồng hộ dân, gồm tầng hầm và các tầng thương mại dịch vụ, nhằm tạo lập quỹ bảo trì chung cư và quỹ hỗ trợ các thành viên trong cộng đồng.

Diện tích để kinh doanh thu hồi vốn đầu tư XD chủ yếu là diện tích căn hộ. Quy mô phần diện tích này và giá trị bất động sản căn hộ trên thị trường vào thời điểm đầu tư XD quyết định điểm hòa vốn và là cơ sở cho việc xác định số tầng nhà.

Số tầng nhà tại các dự án thành phần trong khu vực lập quy hoạch khoảng 25, 27 và 30 tầng, mật độ XD khoảng 35% (Theo Nhiệm vụ QH chi tiết cải tạo, XD lại Khu tập thể Kim Liên và phụ cận đã được phê duyệt, công trình trong khu vực được phép cao đến 40 tầng).

đ) Đánh giá sơ bộ mức khả thi của từng dự án thành phần:

Việc đánh giá sơ bộ mức khả thi của từng dự án thành phần căn cứ vào:

  • Vị trí dự án thành phần so với các tuyến đường QH chính xung quanh, kể cả với ga tàu điện ngầm; liên quan đến giá trị bất động sản;
  • Phạm vi ranh giới rõ ràng của dự án thành phần;
  • Khả năng giải tỏa các hộ dân cơi nới, lấn chiếm; kế hoạch đầu tư XD hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật kết nối;

Không đánh giá dự án thành phần N.04 (chung cư Ngoại giao đoàn).

Những dự án thành phần thuộc nhóm rất thuận lợi có thể thực hiện được ngay.

3.4. Giải pháp QH Khu tập thể Kim Liên thế hệ mới

QH chi tiết khu tập thể cũ tại TP Hà Nội không chỉ phục vụ cho dự án kinh doanh bất động sản, mà là một dự án tái phát triển đô thị mang tính thường xuyên, một dự án nâng cao chất lượng sống, cơ hội sinh kế và phát triển cộng đồng.

QH chi tiết Khu tập thể Kim Liên và phụ cận được thực hiện theo nguyên tắc toàn khu về sử dụng đất, kiến trúc cảnh quan, giao thông, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và môi trường, hướng tới một Khu tập thể Kim Liên thế hệ mới, một khu đô thị thông minh và phát triển bền vững.

Việc phân chia các dự án thành phần theo Mô hình cộng đồng hộ dân là một trong những giải pháp thực tiễn cho việc lập QH chi tiết cải tạo, XD lại Khu tập thể Kim Liên và phụ cận. Mô hình không chỉ tạo điều kiện duy trì được nhóm cộng đồng, thu hút được nhiều nhà đầu tư (thay vì một nhà đầu tư duy nhất cho cả khu), mà còn góp phần đẩy nhanh quá trình lập và thực hiện quy hoạch thông qua việc giải quyết điểm nghẽn về quyền lợi giữa cộng đồng hộ dân và nhà đầu tư.

Ngày 16/7/2025, Trường ĐH Xây dựng Hà Nội đã tổ chức Hội thảo: “Ứng dụng Mô hình Cộng đồng hộ dân tổ chức liên kết cải tạo, XD lại CCC tại các khu tập thể cũ – Ví dụ minh họa tại Khu tập thể Kim Liên, Hà Nội”. Tham dự Hội thảo có các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng, quy hoạch, kiến trúc, một số nhà đầu tư và 10 tổ trưởng cộng đồng hộ dân tại Khu tập thể Kim Liên. Tất cả đại biểu tham gia Hội thảo đều thống nhất với tính thực tiễn và khả thi của việc thiết lập các dự án thành phần theo Mô hình cộng đồng hộ dân trong việc lập QH chi tiết cải tạo, XD lại Khu tập thể Kim Liên và phụ cận.

4. Kết luận

a) Ngoài các vấn đề về rà soát cơ chế, chính sách, XD các nhiệm vụ trọng tâm đối với Ban chỉ đạo, Sở, Ban, Ngành, UBND phường có liên quan, cần thiết phải tạo điều kiện cho người dân, chủ sở hữu CCC, trực tiếp tham gia quá trình cải tạo, XD lại CCC, thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng – “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

b) Việc lập QH chi tiết các khu CCC, trong đó có Khu tập thể Kim Liên và phụ cận, phải tuân theo quy định pháp luật có liên quan. Song để đảm bảo tính thực tiễn, không thể thực hiện như QH một khu đô thị mới thông thường, mà phải có cách tiếp cận riêng, phù hợp với một khu vực tập trung sinh sống của cộng đồng dân cư đô thị đã tồn tại nhiều năm với giá trị bất động sản cao tại trung tâm Thủ đô.

c) Trong quá trình lập QH chi tiết khu CCC, cần tiến hành thu gom, phân nhóm CCC thành các dự án thành phần. Việc tạo lập và đánh giá tính khả thi của các dự án thành phần hoàn toàn có thể áp dụng Mô hình Cộng đồng hộ dân.

d) Hệ số K đền bù cho mỗi hộ dân không chỉ đáp ứng lợi nhuận của nhà đầu tư nhằm thu hồi vốn, mà còn liên quan đến giá trị bất động sản của địa điểm. Tại đây, ngoài Hệ số K đền bù chính theo QĐ 98/2024/NĐ-CP, còn có Hệ số K hỗ trợ của chính Cộng đồng dân cư (chủ sở hữu bất động sản) cho mỗi thành viên trong cộng đồng của mình. Hệ số K cũng là chỉ số quyết định số tầng của các CCC được XD lại.

đ) Việc xác lập và thực hiện các dự án thành phần theo Mô hình Cộng đồng hộ dân cũng chính là cơ hội để cộng đồng hộ dân tại các khu CCC đoàn kết lại, thay đổi toàn diện nhận thức, trách nhiệm, hành động và hình thành nên chuẩn mực mới của cộng đồng dân cư đô thị trong giai đoạn mới.

Mô hình Cộng đồng hộ dân tổ chức liên kết cải tạo, XD lại CCC, không chỉ phù hợp với 306 CCC đơn lẻ và khu chung cư dưới 2 ha mà có thể mở rộng, áp dụng tại các dự án thành phần trong dự án khu chung cư quy mô lớn, góp phần đẩy nhanh việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm và kế hoạch triển khai theo Đề án cải tạo, XD lại CCC trên địa bàn TP Hà Nội – Đề án 5289.

TS. Phạm Đình Tuyển
Trường Đại học Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 12-2024)