Tóm tắt
Không gian xanh là thành phần thiết yếu của cấu trúc đô thị. Không gian xanh góp phần tạo ra môi trường sống lành mạnh bằng cách cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và khôi phục sự cân bằng sinh thái. Hơn nữa, không gian xanh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của khu vực và tạo ra các đặc điểm của đô thị.
Thành phố (TP) Hà Nội, đánh giá cao tầm quan trọng và sự cần thiết của không gian xanh, đặc biệt là trong tình hình đô thị hóa hiện nay. Mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành TP “Xanh – Thông minh và Hiện đại” vào năm 2030 đã được đề ra tại Đại hội Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XVII.
Tuy nhiên, việc thiếu không gian xanh và quỹ đất ở Hà Nội đặt ra những thách thức đáng kể. Do đó, Hà Nội nghiên cứu các giải pháp để tăng cường không gian xanh đa chiều của khu vực nội thành lịch sử để đạt được các mục tiêu mong muốn và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
Từ khóa: Phát triển khu vực bền vững, chất lượng cuộc sống, đô thị hóa, phát triển đa chiều không gian xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.
1. Giới thiệu về Không gian xanh và vai trò của không gian xanh đối với phát triển đô thị bền vững
- Hệ thống xanh đô thị là một phần của không gian đô thị, bao gồm không gian xanh tự nhiên, bán tự nhiên và nhân tạo được tổ chức trong một cấu trúc không gian đô thị và mối quan hệ của chúng.
- Hệ thống cây xanh mang lại nhiều lợi ích về vật chất và tinh thần đồng thời góp phần nâng cao chất lượng không khí. Hơn nữa, cây xanh trong khu vực đô thị cũng tạo ra cảnh quan sinh thái và giúp điều hòa khí hậu ở các tiểu khu.
- Ngoài ra, hệ thống sông hồ cũng mang lại lợi ích cho TP bằng cách cung cấp giải pháp thoát nước đô thị. Hệ thống sông hồ đặc biệt cần thiết ở một TP được xác định là “TP của sông hồ” như Hà Nội.
- Sự kết hợp giữa hệ thống không gian xanh và hệ thống sông hồ tạo ra các giá trị lịch sử và văn hóa cũng như cảnh quan đô thị, cân bằng sinh thái, điều hòa không khí và giảm thiểu biến đổi khí hậu.
- Không gian xanh đóng góp đáng kể vào các cấu trúc phát triển, đảm bảo quy hoạch bền vững và thúc đẩy nền kinh tế của từng khu vực đô thị.
2. Hiện trạng hệ thống không gian xanh tại khu vực nội thành và ngoại thành Hà Nội
a. Vị trí
Hà Nội được bao quanh bởi các tỉnh:
- Phía Bắc giáp Thái Nguyên và Phú Thọ;
- Phía Nam giáp Ninh Bình và Hưng Yên;
- Phía Tây giáp Phú Thọ;
- Phía Đông giáp Bắc Ninh và Hưng Yên.
Hà Nội cách TP cảng Hải Phòng 120 km và cách thành phố Ninh Bình 90 km, tạo thành ba cực chính của đồng bằng sông Hồng.
b. Tổng quan về không gian xanh của TP Hà Nội
Tính đến năm 2020, tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nội là 332.889ha. Trong đó, có 178.836ha đất phi nông nghiệp, 152.242ha đất nông nghiệp, 66.875ha đất đô thị, 13.546ha khu bảo tồn thiên nhiên, 12.802ha khu du lịch và 1.811ha đất nhàn rỗi.
Cấu trúc khung tự nhiên của Hà Nội bao gồm các mảng xanh, tuyến xanh và điểm xanh. Các đặc điểm chính của cấu trúc khung tự nhiên của TP Hà Nội là:
- Mảng xanh: Cấu trúc mảng xanh là hệ thống núi và rừng kết hợp với ao hồ. Mảng xanh này bao phủ một diện tích rộng, trong đó phần lớn nhất là núi và rừng, phần nhỏ nhất là núi thấp và đồi. Không gian xanh tập trung ở các khu vực ngoại thành và đô thị. Với tổng diện tích 29.171,3ha, diện tích rừng chỉ chiếm 9 phần trăm diện tích đất tự nhiên. Có 13.982,9ha rừng sản xuất, 5.034,2ha rừng phòng hộ và 10.154,2ha rừng đặc dụng.
- Tuyến Xanh chạy dọc theo hành lang sông: Hà Nội, TP được bao quanh bởi các con sông, từng được người Pháp mệnh danh là “Venice của phương Đông” vì trong suốt chiều dài lịch sử, TP này gắn liền chặt chẽ với nước. Có chín tuyến đường thủy chính chảy qua các vùng ngoại ô của Hà Nội: Sông Hồng, sông Đuống, sông Đà, sông Nhuệ, sông Tích, sông Công, sông Đáy, sông Cà Lồ và sông Bùi. Cũng như bốn con sông chảy qua khu vực nội thành: Sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và sông Kim Ngưu.
- Các điểm xanh liên quan đến hệ thống công viên, ao hồ: Bao gồm một mạng lưới các hồ và ao lớn xen kẽ khắp các khu vực phát triển đô thị và ngoại thành.
c. Tổng quan và đánh giá chung
TP Hà Nội có hệ thống không gian xanh đa dạng gồm sông, hồ, rừng và núi. Hệ thống sông là yếu tố chức năng và kết nối chính tạo nên bộ khung cấu trúc tổng thể của TP.
- Mặc dù Hà Nội có dân số đông thứ hai Việt Nam, nhưng diện tích chỉ đứng thứ 41 cả nước. Hơn nữa, mật độ xây dựng tại Hà Nội khá cao, đặt ra nhiều thách thức trong việc cố gắng đạt được mật độ cây xanh chuẩn.
- Tiêu chuẩn không gian xanh hiện tại ở đô thị Hà Nội chỉ khoảng 1,93m2/người, một diện tích nhỏ so với tiêu chuẩn của Việt Nam là 12-15m2/người. Đây là một trong những lý do khiến chất lượng không khí ở các TP lớn kém, khí hậu thường xuyên nóng bức, ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người dân.
- Ước tính mỗi người dân đô thị cần khoảng 10m2 cây xanh hoặc 25m2 cây xanh để đảm bảo đủ không khí trong lành. Tuy nhiên, quỹ đất dành cho cây xanh ở các quận trung tâm Hà Nội cực kỳ hạn hẹp và phân bố không đồng đều.
d. Thực trạng không gian xanh nội đô Hà Nội
- Có 53 công viên vườn hoa trong nội đô (1m2 cây/người), ít hơn đáng kể so với tiêu chuẩn. Trong khi đó, các khu vực đô thị phải đạt tiêu chuẩn 7m2 cây/người.
- Hiện nay, hệ thống công viên, vườn hoa của Hà Nội gồm 3 loại: Công viên văn hóa tổng hợp, công viên chủ đề và vườn hoa, vườn đi bộ. Hệ thống vườn hoa chiếm khoảng 65% tổng diện tích.
- Năm 2020, Hà Nội có 22 vườn hoa tại các khu vực nội đô lịch sử (trong đó có 14 vườn hoa có diện tích dưới 0,4ha), 06 công viên và 20 hồ nước có đường dạo. Một số các khu công viên có diện tích lớn và rất lớn như Công viên Thống Nhất, xấp xỉ 51ha; công viên Bách Thảo, trên 33ha; một số không gian hồ nước tự nhiên có đường dạo lớn như: Hồ Tây 500ha; Hồ Trúc Bạch; 9ha; Hồ Hoàn Kiếm, 12ha. Các công viên công cộng này là không gian công cộng có giá trị tại các khu vực đô thị, đồng thời có giải pháp thiết kế đô thị với riêng từng khu vực để gia tăng mật độ cây xanh theo các tầng/ tán cây một cách khoa học (có sự kết hợp giữa cây xanh bóng mát và cây xanh trang trí, đồng thời kết nối thành một mạng lưới tổng thể…)
- Công tác quy hoạch xây dựng và hệ thống chính sách, cũng như các văn bản pháp luật đã quy định rõ các tiêu chí cần đạt được. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện lại vô cùng khó khăn. Mặc dù TP đã có chủ trương như di dời các cơ sở công nghiệp, các bộ, ngành ra khỏi nội đô và ưu tiên xây dựng công viên, vườn hoa, nhưng chưa có nhiều tổ chức phát triển không gian xanh công cộng.
- Các khu vực không gian xanh gắn với các công trình văn hóa dần bị lãng quên và bị các tòa nhà cao tầng lấn chiếm.
- Thêm vào đó, nhiều khu dân cư đang lấn chiếm không gian công cộng, các vườn hoa, sân chơi tại các khu dân cư của Hà Nội đang phải đối mặt với tình trạng đất công ngày càng thu hẹp, cạnh tranh giữa đất sử dụng cho các tiện ích công cộng và đất xây dựng hạ tầng dân dụng, cạnh tranh sử dụng đất giữa hạ tầng xã hội và tiện ích công cộng.
- Về diện tích mặt nước, Hà Nội có nhiều sông hồ, bao gồm: Hồ Tây, Hoàn Kiếm, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Ba Mẫu, Nghĩa Tân… tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng diện tích mặt nước để tạo cảnh quan và sinh hoạt đô thị vẫn còn bất hợp lý. Hiện tại các quận trung tâm Thủ đô, tỷ lệ cây xanh chỉ đạt khoảng 1m2/người.
3. Phân loại hệ thống không gian xanh trong nội đô Hà Nội
- Hệ thống không gian xanh đô thị bao gồm: Cây xanh công cộng, cây xanh chuyên dụng và cây xanh sử dụng hạn chế.
- Bên cạnh đó, còn có hệ thống mặt nước bao gồm sông, hồ, ao,…
- Xu hướng hiện nay đòi hỏi phải có quy hoạch tích hợp không gian xanh và mặt nước, tạo thành “lưới” không gian xanh (“lưới xanh-xanh lam”). Công viên Thống Nhất, Công viên Hòa Bình, Vườn bách thảo, Vườn hoa Con Cóc được coi là những ví dụ về sự phát triển xanh đô thị sáng tạo trong tương lai.
4. Đề xuất phát triển không gian xanh trong nội thành Hà Nội
a. Áp dụng nguyên lý sinh thái
Tăng cường đa dạng sinh học ở khu vực đô thị vào không gian xanh công cộng hiện hữu. Với yếu tố xanh – xanh lam, giải pháp này giúp phủ xanh các khu vực công cộng đồng thời tiết kiệm chi phí và tận dụng quỹ đất đô thị khan hiếm. Nguyên lý sinh thái cũng là nền tảng khuyến khích khả năng thích ứng và phục hồi của hệ thống cảnh quan đô thị.
b. Tăng cường không gian xanh hiện hữu
Bằng cách cải tạo, tôn tạo và bổ sung cây xanh trên mái nhà, đường phố, qua đó tăng cường phúc lợi xã hội và cảnh quan thiên nhiên. Nâng cấp không gian xanh hiện tại đòi hỏi sự chăm chút và tinh tế trong khi vẫn bảo tồn các giá trị văn hóa và lịch sử của khu vực và cập nhật các giải pháp hiện đại và kết nối.
c. Chuyển đổi không gian, cải tạo không gian ký túc xá, không gian công cộng và sân chơi trong các chung cư cũ.
d. Áp dụng mô hình không gian đa chiều để phát triển không gian xanh và thích ứng với không gian ngầm. Mô hình này quy hoạch và khuyến khích bổ sung không gian xanh theo chiều ngang và chiều dọc trong các công trình, đường phố. Cụ thể:
- Không gian xanh theo chiều ngang: Bổ sung không gian xanh trên mái các công trình công cộng và nhà ở;
- Không gian xanh theo chiều dọc: Mở rộng không gian xanh theo chiều dọc của các tòa nhà, công trình và các công trình khác;
- Không gian xanh ở các khu vực ngầm như đường hầm dành cho người đi bộ, nhà ga ngầm.
- Công thức tính chỉ tiêu bổ sung cây xanh thành phố:
Chỉ tiêu bổ sung cây xanh thành phố = Số căn hộ, tòa nhà chung cư của thành phố x 50% x diện tích tán cây (5m2/người) - Tại các đô thị như Hà Nội, giao thông phát triển mạnh, cả trên cao và dưới lòng đất. Do đó, việc hình thành không gian xanh đa chiều đã trở thành xu hướng. Việc tổ chức và nghiên cứu các giải pháp mô hình không gian xanh liên quan đến mô hình phát triển giao thông TOD, mô hình không gian xanh cho các khu dân cư hiện hữu và mô hình không gian xanh cho các khu dân cư mới là hết sức cần thiết.
5. Kết luận
Hệ thống không gian xanh trong nội thành Hà Nội, đặc biệt là sự kết hợp giữa cây xanh, mặt nước và vườn hoa công cộng đã góp phần tạo nên hình ảnh của thành phố là một Thủ đô Xanh – Sạch. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng, những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu và mật độ xây dựng cao đều là nguyên nhân khiến hệ thống không gian xanh nội thành Hà Nội suy giảm như hiện nay. Do đó, việc nghiên cứu các giải pháp phát triển hệ thống không gian xanh đa chiều trong nội thành là hết sức cần thiết để đảm bảo tính bền vững của thành phố và nâng cao mức sống của người dân.
Ngoài ra, các cơ quan có liên quan cần xây dựng hệ thống quản lý không gian xanh chặt chẽ dựa trên các quy định và văn bản pháp luật. Cụ thể, quản lý được phân cấp theo Nghị định 64/2010/NĐ-CP về
Quản lý cây xanh đô thị, trong đó nêu rõ phân cấp quản lý thành các cấp sau:
- Bộ Xây dựng;
- Ủy ban nhân dân TP;
- Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch và Kiến trúc;
- Ủy ban nhân dân quận (huyện)/Ủy ban nhân dân phường (xã, thị trấn);
- Chủ doanh nghiệp;
- Người dân sống tại các thành phố.
Yếu tố cư dân đô thị (cộng đồng) có vai trò hết sức quan trọng ở mọi cấp quản lý nhằm tăng mục tiêu không gian xanh tại Hà Nội.
KTS Lê Thị Minh Hằng – KS Phạm Mạnh Linh
KS Vũ Thị Ngọc Trang
Viện Quy hoạch Xây dựng Phát triển Nông thôn – Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn quốc gia – Bộ Xây dựng
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 09-2025)
Tài liệu tham khảo:
1) Phạm Hoàng Phương, chuyên đề “Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển cây xanh đô thị và cây xanh trong công trình kiến trúc” đề tài NCKH cấp Bộ: Cây xanh trong kiến trúc, 02/2020;
2) TS.KTS. Phạm Anh Tuấn (2022): “Không gian xanh đô thị Hà Nội” – Tạp chí Kiến trúc, số 12-2022;
3) Chính phủ (2010): Nghị định số 64/2010/NĐ-CP về quản lý cây xanh đô thị;
4) Thành ủy Hà Nội (2020): Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XVII (Nhiệm kỳ 2020-2025);
5) Bộ Xây dựng (2021): QCVN01:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng;
6) Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn (VIUP), Bộ Xây dựng (2023). Nghiên cứu tiêu chuẩn xây dựng không gian xanh – Yêu cầu thiết kế.




































