Đào tạo kiến trúc gắn với nhu cầu và giải quyết các vấn đề của cộng đồng

Sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và xã hội trong những thập kỷ qua đã tạo ra những thách thức với thực tiễn kiến trúc và đào tạo KTS. Chính vì thế, đào tạo kiến trúc cần thay đổi để thích ứng. Bài báo này giới thiệu cách tiếp cận học cùng cộng đồng và khu vực tư nhân trong các chương trình đào tạo kiến trúc ở các nước, qua đó có thể học hỏi và áp dụng ở Việt Nam.

Các hình thức học cùng cộng đồng – Kinh nghiệm các nước

Học cùng cộng đồng (service learning) là một trong những phần học không thể thiếu ở các quốc gia phát triển. “Học cùng cộng đồng” là một phương pháp tiếp cận sáng tạo, tiên tiến và phổ biến trong giáo dục đại học ở nhiều nước trên thế giới, và là một phần của chương trình giảng dạy chính thức trong các trường. Phương pháp này kết hợp những ưu điểm của các phương pháp đào tạo truyền thống, thực tập và hoạt động tình nguyện, đem lại lợi ích cho giảng viên, sinh viên (SV) và chính cộng đồng – nơi SV ứng dụng kiến thức chuyên ngành của mình vào việc giải quyết các vấn đề và nhu cầu của người dân trong cộng đồng. Ở nhiều nước, đào tạo ngành kiến trúc không thể tách rời với việc học cùng cộng đồng hay học qua làm việc thực tế (service learning – SL). Phần này giới thiệu cách tiếp cận học cùng cộng đồng (SL) ở Hòa Kỳ, Latvia, và một số phản ánh về cách dạy và học này.

1. Học cùng cộng đồng – Kinh nghiệm ở Hoa Kỳ

Học cùng cộng đồng rất phổ biến ở Hoa kỳ và được áp dụng từ khi học sinh còn học phổ thông. Ở Hoa Kỳ học cùng cộng đồng ít nhất có sáu hình thức dưới đây [1].

  • Học cùng cộng đồng một cách thuần túy: SV được cử đến phục vụ cộng đồng. SV tình nguyện hay tham gia các hoạt động cộng đồng với tư cách công dân. Những hoạt động này có thể là các hoạt động hay công việc mà cộng đồng cần giải quyết và không gắn với một môn học nào cụ thể.
  • Học cùng cộng đồng gắn với các môn học cụ thể: SV được yêu cầu có mặt tại cộng đồng trong suốt kỳ học và thường xuyên được yêu cầu báo cáo những trải nghiệm và kiến thức học được trong suốt quá trình học đối chiếu và phân tích các hiểu biết thực tế với các nội dung theo yêu cầu của khóa học hay tín chỉ mà SV tham gia.
  • Học cùng cộng đồng dựa vào chủ đề hay vấn đề cụ thể: SV làm việc với các thành viên cộng đồng để tìm hiểu hay nghiên cứu một vấn đề hay một nhu cầu cụ thể của cộng đồng. Hình thức học này giúp SV có những kiến thức cơ bản nhất định ngoài thực tế, từ đó có thể đưa ra khuyến nghị cho cộng đồng hay có thể đưa ra một giải pháp đối một vấn đề cụ thể nào đó.
  • Học cùng cộng đồng dựa vào đồ án: Các khóa học này yêu cầu SV tự nghiên cứu tìm hiểu và rút ra kiến thức trong suốt quá trình học hoặc là kết hợp với các công việc liên quan tại cộng đồng theo đồ án. Những khóa học này là cách tốt nhất để giúp SV hiểu được kiến thức về mặt lý thuyết và cách áp dụng các kiến thức đó vào thực tế cuộc sống, thông qua việc giúp SV thiết lập hay kết nối với những người làm chuyên môn.
  • Thực tập phục vụ cộng đồng: Hình thức học này thường chuyên sâu hơn các hình thức học tập cùng cộng đồng khác. SV cần làm việc mỗi tuần từ 10-20 tiếng tại cộng đồng. Học qua hình thức thực tập phục vụ cộng đồng là cơ hội để SV thường xuyên cọ sát và tìm hiểu thực tế, có thể phân tích những trải nghiệm mới dựa trên các kiến thức và nội dung trên lý thuyết mà SV đã được học. Những cơ hội học tập này có thể thực hiện được theo nhóm nhỏ SV cùng năm học, hoặc có thể từng cá nhân SV với sự hỗ trợ của những có vấn học tập ở các khoa, hoặc có thể học và có sự hỗ trợ từ xa của các thành viên trong các trường hay các khoa thông qua thư điện tử hay các phương tiện liên lạc khác. Cách học này cần có sự trao đổi qua lại thường xuyên giữa giáo viên, SV và đại diện cộng đồng, và mục tiêu chính là cả cộng đồng và SV cùng hưởng lợi từ cách học này. Các vấn đề của cộng đồng được giải quyết và SV thì có trải nghiệm và kỹ năng làm việc thực tế.
  • Nghiên cứu hành động dựa vào thực tế cộng đồng của SV chưa tốt nghiệp: Đây là cách học tương tự như một nghiên cứu độc lập dành cho một số ít SV đã có rất nhiều kinh nghiệm với công việc cộng đồng. Cách học này có thể hiệu quả đối với các lớp quy mô nhỏ hay các nhóm nhỏ SV. Hình thức học này, SV sẽ làm việc chặt chẽ với các giảng viên, và nghiên cứu viên trong các trường hay các khoa để học các phương pháp nghiên cứu và tiến hành các nghiên cứu thực tế để phục vụ cộng đồng.
Hình 1: Các cấu phần của phương pháp học cùng cộng đồng (SL) (Ash và Clayton 2009)

2. Học cùng cộng đồng – Kinh nghiệm ở Latvia [2]

Học cùng cộng đồng ở Latvia là cách học dựa trên hai phía: Trường đại học (cán bộ chuyên môn và SV) và chính quyền địa phương (hội đồng thành phố, các liên đoàn hay các tổ chức). Mục tiêu của chương trình và khóa học là cung cấp cho SV kiến thức và kỹ năng yêu cầu cần đạt trong chương trình qua những công việc cụ thể ngoài thực tế. Tùy mức độ kiến thức, kỹ năng, và yêu cầu của từng khóa học, SV sẽ được giao và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể ở từng phần hay hoạt động của dự án và ở mức độ khác nhau trên thực tế. Từ việc thưc hiện nhiệm vụ được giao, SV có thể nắm được các kỹ năng chuyên môn và nghề nghiệp cụ thể ở từng mức độ và công việc trên thực tế.

Để có thể thực hiện được chương trình này, cần có sự tham gia và ủng hộ của ba cơ quan liên quan dưới đây:

  • Chính phủ địa phương là cơ quan đứng ra ký giao hợp đồng (khách hàng). Hợp đồng sẽ xác định rõ nhu cầu công việc của địa phương, đưa ra nhiệm vụ và yêu cầu kết quả đạt được, cung cấp các bản vẽ bản đồ, ảnh cần thiết, các tư liệu lưu trữ, các bài giảng theo chủ đề và các tư liệu liên quan.
  • Dựa vào các yêu cầu của khách hàng và yêu cầu kiến thức lý thuyết và năng lực cần đạt được của SV, các giảng viên sẽ chuẩn bị và giao nhiệm vụ cho SV một cách cụ thể và chi tiết hơn. Nhiệm vụ có thể liên quan đến nghiên cứu cấu trúc và giá trị không gian cảnh quan, nghiên cứu về di sản, các giải pháp thiết kế, quy hoạch ở cấp độ khác nhau và chi tiết khác nhau tùy vào các chi tiết cụ thể của từng khu vực hay địa bàn dự án. Trong vòng 8 tuần, giảng viên sẽ giới thiệu với SV các phần lý thuyết. SV có thể đi thực địa 1-2 lần, thực hiện nghiên cứu sâu hơn về các địa điểm đó và đánh dấu trên bản đồ; SV cũng có thể chụp ảnh, dự các buổi giảng, hội thảo, và hướng dẫn từ hội đồng thành phố.
  • Cùng với việc nắm các kiến thức từ lý thuyết, SV cần hình thành các ý tưởng và hình thành ý tưởng thiết kế/xây dựng các dự án tại địa bàn hay khu vực được giao. Trong quá trình thiết kế, SV cần phải làm báo cáo tiến độ, thông qua các báo cáo tiến độ đó, giảng viên có thể đánh giá được tiến độ làm việc của từng SV và nhóm SV. Giáo viên sẽ chỉ ra các vấn đề cần giải quyết thấu đáo, nếu cần, SV cũng sẽ được hướng dẫn để dùng các bảng hỏi, cách phân tích cảnh quan, cách trình bày các ý tưởng và cách trao đổi và giao tiếp với khách hàng, cách tổ chức thảo luận và trình bày trong các báo cáo tiến độ và cách thiết kế trên các vật liệu hình ảnh.
  • SV có thể tiếp thu kiến thức trong suốt khóa học. Kỹ năng trình bày và kỹ năng thực hiện triển khai dự án hoặc kỹ năng làm việc trên thực tế sẽ được học hỏi và thu được từ việc trình bày dự án cuối cùng với khách hàng. Đại diện khách hàng sẽ dự phần trình bày cuối cùng, tham gia thảo luận, đặt câu hỏi và bình luận về kết quả làm việc của SV, dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Dựa trên các công việc mà SV đã hoàn thành và trình bày, khách hàng có thể thu được các tài liệu nghiên cứu khác nhau từ SV, qua đó xem xét việc phát triển dự án trên các lãnh thổ hay khu vực tiềm năng, tìm ra ý tưởng mới và đưa ra yêu cầu tiếp theo. Sau đó, giáo viên sẽ làm việc với SV để so sánh ý kiến của đại diện khách hàng với các nhiệm vụ cụ thể đã giao và mức độ hoàn thành của các SV. Những nhiệm vụ đó được chia ra theo diện tích khu vực mà SV được giao nhiệm vụ và triển khai.

3. Phản ánh về phương pháp “Học cùng cộng đồng trong lĩnh vực kiến trúc” Hoa Kỳ [3]

Theo Schuman có hai nguyên tắc cơ bản trong học cùng cộng đồng: i) Phản ánh: Sau khi học cần xem xét xem quá trình học bằng cách yêu cầu SV phản ánh lại quá trình học để xem cách học này giúp SV xây dựng và tư duy trong quá trình phát triển dự án qua các nhiệm vụ được giao; ii) Sự trao đổi có đi có lại: Nguyên tắc là cả phía khách hàng và SV cùng có lợi ích từ dự án (và đảm bảo rằng trường Đại học không sử dụng cộng đồng như một địa điểm cho SV trải nghiệm, mà thực sự cần tham gia giải quyết các công việc cụ thể của cộng đồng) [4].

Các dự án học cùng cộng đồng cần đảm bảo mục tiêu các bên cùng có lợi, chứ không chỉ đáp ứng nhu cầu học của SV. Các trường, các khoa và SV kiến trúc nếu muốn áp dụng cách học này thì cần hiểu rõ khái niệm và bản chất của thuật ngữ thì sau đó mới có thể áp dụng và thực hiện được hiệu quả trên thực tế (xem thêm minh họa hình 1).

Các dịch vụ cộng đồng thường được sử dụng để dạy SV về trách nhiệm công dân với kỳ vọng SV sẽ hình thành ý thức và thái độ công dân có trách nhiệm lâu dài sau khi học xong đại học [5]. Thực tế những SV theo học các trường đại học ở Hoa Kỳ ở những năm 2000 thường có trách nhiệm công dân tốt hơn những SV năm trước đó [6]. Số lượng SV đại học tham gia phục vụ cộng đồng như các tình nguyện viên tăng gần 600.000 ngàn SV từ 2,7 triệu SV từ năm 2002 lên 3,3 triệu năm 2005. Năm 2009, có 3,2 triệu SV đại học đã dành 307 triệu giờ phục vụ cộng đồng năm 2009 [7]. Hình 2 minh họa mối liên hệ giữa SL và các hoạt động phục vụ cộng đồng liên quan cho SV.

Kinh nghiệm và thực tiễn học cùng cộng đồng (SL) trong các chương trình đào tạo KTS trên thế giới

Phần này giới thiệu một số thực tiễn và hình thức học cùng cộng đồng (SL) của các chương trình dạy ngành kiến trúc hoặc khoa kiến trúc từ Hoa Kỳ, Úc và Vương Quốc Anh. Phần này đưa ra những ví dụ cụ thể về cách học cùng cộng đồng từ các trường, các chương trình đào tạo, và trung tâm thiết kế.

1. Trung tâm thiết kế East St. Louis (Hoa Kỳ) [8]

Trung tâm thiết kế khuyến khích SV hợp tác với cộng đồng trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Có nghĩa là SV sẽ cung cấp các dịch vụ mà cộng đồng đang cần và qua đó SV có cơ hội làm việc để có thể học hỏi và nắm được kiến thức chuyên môn thông qua các công việc mà mình làm tại cộng đồng. SV cũng có cơ hội nâng cao các kỹ năng khi làm việc phục vụ cộng đồng và có liên hệ trực tiếp với các gia đình sống tại cộng đồng. SV cũng có thể có những hoạt động đóng góp trực tiếp cho cộng đồng dưới các hình thức khác nhau.

Cách học này cũng đôi khi có hạn chế. Ví dụ, SV có nguồn gốc Châu Phi sẽ khó tiếp cận hay kết nối với cộng đồng hơn SV da trắng. SV da trắng có nguồn gốc và có lợi thế và có nền tảng gia đình và kinh tế có điều kiện hơn nhiều khi cũng khó khi tiếp cận với cộng đồng, chủ yếu là người da đen hay những người thiệt thòi hơn. Chính vì thế ngoài việc học các kiến thức về thiết kế, SV cần được trải nghiệm và giáo dục về đa văn hóa để có sự thấu cảm và có thể hoàn toàn hòa nhập với cộng đồng kém may mắn hay có hoàn cảnh thiệt thòi hơn thì quá trình học mới không bị cản trở. Nhưng cần lưu ý phân biệt rõ ràng đây không phải là hoạt động từ thiện mà là các hoạt động hợp tác, gắn kết cộng đồng và đôi bên cùng có lợi. Giáo viên cần nhấn mạnh điều này để SV có thể hiểu rõ và lập mục tiêu rõ ràng như trách nhiệm của công dân đối với những người khác.

2. Trường đại học Clemson (Nam Carolina, Hoa Kỳ) [9]

SV học và làm việc thông qua dự án: “Nhà nghỉ chân của Foothills”, giúp cho nhân viên ở các khu vực đó có các giải pháp thiết kế để chăm sóc và cung cấp dịch vụ miễn phí cho cư dân hiện tại ở đó. Dự án xem xét lại các cách tiếp cận truyền thống đối với môi trường và khuôn viên các khu nghỉ chân trong các khu dân cư và tìm kiếm ý tưởng và khả năng cải thiện các khu này. Để giúp SV nắm được kiến thức cơ bản, và có kỹ năng nghiên cứu, sẽ có các buổi giới thiệu và hướng dẫn tìm tài liệu từ thư viện. Sau đó xây dựng một chương trình hiệu quả gồm quá trình năm bước: Thiết lập mục tiêu; nghiên cứu các thông tin và dữ liệu; tìm các khái niệm mới; xác định nhu cầu; nêu các vấn đề.

Mỗi bước đều được đánh giá qua các chức năng, biểu mẫu, xem xét về thời gian và kinh tế.

Sự hợp tác giữa thư viện Kiến trúc Gunnin và khoa Kiến trúc giúp cho SV có thể tiếp cận hiệu quả hơn với các thông tin giá trị và giúp SV có thể xem và thống kê được các nguồn tư liệu từ lịch sử để hiểu hơn cách cách tiếp cận truyền thống từ đó có thể đánh giá và nhìn nhận lại và đưa ra ý tưởng, giải pháp.

Hình 2: Mối liên hệ giữa học cùng cộng đồng (SL) và trách nhiệm công dân (McCormick, 2008, điều chỉnh từ Furco 1996)

3. Trường đại học Bắc Carolina ở Greensboro (UNCG) – Khoa kiến trúc nội thất (Hoa Kỳ) [10]

SV năm thứ tư sẽ được thử thách bằng việc tham gia vào xưởng thiết kế với cộng đồng người Mỹ gốc Phi gần trường học. SV từ trường UNCG rõ ràng là không có kết nối gì với cộng đồng đó. Vì thế, để có thể tạo ra sự liên hệ về mặt văn hóa và nhân khẩu học ở các khu vực khác nhau và UNCG, cũng như đánh giá nhu cầu của thư viện về mặt không gian và cách tận dụng các không gian một cách thông minh nhất, SV khảo sát, phỏng vấn và thảo luận cùng với cộng đồng.

SV có thể thu xếp và thảo luận với hai nhóm: Một nhóm là lãnh đạo cộng đồng và hội đồng tư vấn của thư viện và nhóm khác là thanh niên – những người sử dụng các không gian và địa điểm của thư viện. Sau đó có thể đưa ra giải pháp cân bằng nhu cầu của hai nhóm đối tượng này.

4. Trường đại học thiết kế ở Vương Quốc Anh – Khoa thiết kế [11]

Trường đại học này lại thiết kế một chương trình học hè ở nước ngoài tại Brazin. Trong chương trình hè này, SV làm việc với trường để xây dựng và thiết kế các phương tiện và công cụ giáo dục phù hợp với mô hình giáo dục và tầm nhìn của nhà trường. Trong quá trình học, SV sẽ được ở các trang trại để gần với người dân và hiểu rõ cách nghĩ, cách làm việc, sinh sống và hệ thống canh tác nông nghiệp của người dân ở đó. Trải nghiệm này giúp SV hiểu được quy hoạch và thiết kế cần tính đến tất cả những chi tiết và yếu tố liên quan đến nhu cầu cộng đồng và sự cần thiết phải giao tiếp và trao đổi với cộng đồng để hiểu được các nhu cầu của họ. Thêm vào đó, đối với một số SV thì trải nghiệm này buộc SV có một cách nhìn khác đi, làm cho SV nghĩ đến nền văn hóa của chính mình, chỉ ra cho SV những cách nghĩ khác, đưa ra các phương án và khả năng khác nhau.

Nhìn chung, tham gia cùng và sống tại cộng đồng giúp SV hiểu được việc giao tiếp và tìm hiểu về môi trường văn hóa xã hội là một phần không thể thiếu trong thiết kế. Trường đại học này áp dụng chương trình này với mục tiêu hỗ trợ cộng đồng (trường bỏ ra kinh phí, cộng đồng có nhiệm vụ và công việc SV cần làm). SV sẽ đến và làm việc đưa ra các giải pháp thiết kế thực tế mà cộng đồng đang cần. SV cần ở tại cộng đồng để hiểu rõ nhu cầu của họ. SV trải nghiệm và có thêm kiến thức về kinh tế xã hội và văn hóa thông qua làm việc và sinh sống cùng với các thành viên cộng đồng trong thời gian học.

5. Trường Đại học Syney (Úc)

Chương trình cao học về bảo tồn si sản kiến trúc nhằm cung cấp kỹ năng tốt nhất về bảo tồn cho SV, các kiến thức để sử dụng lại tòa nhà và quản lý các dự án bảo tồn về các địa điểm có nhiều di sản và di tích văn hóa, cũng như khả năng xác định giá trị và ý nghĩa của các di sản và làm căn cứ để xây dựng các chính sách bảo tồn. Khi SV học về các thực tiễn bảo tồn quốc tế và địa phương, SV có thể học được các kỹ năng tài liệu hóa, quản lý và diễn giải các địa điểm có ý nghĩa và giá trị về văn hóa và lịch sử.

Hình 3: Một trong những nhà làm bằng đất cần bảo tồn ở ƠConnell

Kết luận

Thực tế đào tạo các ngành kiến trúc và quy hoạch hiện nay ở Việt Nam vẫn chủ yếu tập trung vào lý thuyết và các bài giảng trên lớp. SV ít có cơ hội trải nghiệm, hay làm việc trên thực tế theo như các mô hình của các nước. Chính vì thế, kiến thức và kỹ năng thực tế và kỹ năng làm việc, cũng kiến thức thực tế về kinh tế văn hóa xã hội của SV vẫn còn hạn chế. Thực tiễn các nước cho thấy nếu việc dạy và học ngành kiến trúc và quy hoạch nếu thay đổi sẽ mang lại lợi ích không chỉ cho SV mà còn lợi ích cho cộng đồng và cho sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước. Thay đổi về phương pháp này sẽ giúp cho cộng đồng và các bên liên quan hiểu thêm giá trị và lợi ích về bảo tồn và có ý thức về bảo tồn để gìn giữ những đặc trưng văn hóa, truyền thống, lịch sử của từng địa phương ở Việt Nam để phát triển bền vững. Kinh nghiệm của Anh, Hoa Kỳ, và Úc, cho thấy việc áp dụng cách học này ở Việt Nam sẽ cần nhiều sự tham gia của nhiều bên liên quan, thời gian và nỗ lực.

Hiện nay, ở Việt Nam cũng đã có một số trường thí điểm phương pháp này. Các trường hay các ngành đào tạo kiến trúc cần xem xét thí điểm mở rộng và áp dụng vào chương trình học (có thể học theo tín chỉ hay đồ án). Cần có tổ chức hỗ trợ và kết nối với các địa điểm hay các dự án cần nguồn lực để bảo tồn hay phát triển, cũng như tìm kiếm nguồn lực để thí điểm các hoạt động tại các trường. Các trung tâm, viện nghiên cứu, hay các tổ chức phi chính phủ cần phát huy vai trò kết nối để có nguồn lực thí điểm và đưa cách học cùng cộng đồng vào trong chương trình học, góp phần đào tạo được đội ngũ kiến trúc sư, các nhà thiết kế, quy hoạch, có đầy đủ kiến thức, kỹ năng thực tế đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của đất nước.

Tài liệu tham khảo
1. University of William and Mary https://www.wm.edu/as/charlescenter/scholars/sharpe/resources/faculty-resources/coursedev/models/index.php
2. Natalija Ņitavska, Daiga Zigmunde, Madara Markova, Una Īle, Landscape architecture studies by using service-learning method; Available at: http://www2.llu.lv/research_conf/proceedings2016_vol_1/docs/LatviaResRuralDev _22nd_vol1-189-196.pdf [Accessed 20 Aug. 2019]
3. REFLECTING ON SERVICE-LEARNING IN ARCHITECTURE: Increasing the Academic Relevance of Public Interest Design Projects, A.GREGORY & A. Heiselt file:///C:/Users/user/Documents/REFLECTING_ON_SERVICE-LEARNING_IN_ARCHIT.pdf
4. Schuman, A. (2006). Introduction: The Pedagogy of Engagement. From Studio to the Streets: Service-Learning in Planning and Architecture. Sterling, VA: Stylus. 1-15.
5. Astin, A. W., Sax, L. J., & Avalos, J. (1999). Long-term effects of volunteerism during the undergraduate years. Review of Higher Education, 22(2), 187-202
6. Corporation for National and Community Service, Office of Research and Policy Development. (2010, June).Volunteering in America 2010: National, state, and city information. Washington, DC.
7. Volunteering in America 2010 Fact Sheet. (2010). Retrieved from: http://www.nationalservice.gov/pdf/10_0614_via_2010_ fact_sheet_6_10_10.pdf
8. Sara Houshmand, Lisa B. Spanierman, Amanda M. Beer, V. Paul Poteat, and Laura J. Lawson, The Impact of a Service-Learning Design Course on White Students’ Racial Attitudes [online] Available at: https://files.eric.ed.gov/fulltext/EJ1029843.pdf [Accessed 20 Aug. 2019]
9. Sarah E. McCleskey and DavidJ.Allison, Collaboration for service learning in Architectural Education [online] Available at: file:///C:/Users/user/Documents/ServiceLearning%20(1).pd
10. Travis L. Hicks and Rebekah Ison Radtke, Reshaping the Boundaries of Community Engagement in Design Education: Global and Local Explorations [online] Available at: https://files.eric.ed.gov/fulltext/EJ1067042.pdf
11. Travis L. Hicks and Rebekah Ison Radtke, Reshaping the Boundaries of Community Engagement in Design Education: Global and Local Explorations [online] Available at: https://files.eric.ed.gov/fulltext/EJ1067042.pdf
12. University of Sydney: https://sydney.edu.au/architecture/study-architecture-design-planning/heritage-conservation.html

TS.KTS Đặng Hoàng Vũ
Giảng viên, khoa Kiến trúc, ĐH Kiến trúc Hà Nội

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2019)