Hoàn thiện môi trường hành nghề KTS trong quá trình hội nhập

Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Việc hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu mối quan hệ thương mại với các nước, các tổ chức là một cơ hội để đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển và đây cũng là xu hướng tất yếu. Rõ ràng rằng, việc hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới trong thời gian qua đã thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,… trong đó nghề thiết kế kiến trúc cũng đã góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế.

Sài Gòn Mũi Né Resort

Xem thêm: Diễn đàn Hành nghề KTS và Hội nhập

Nghề thiết kế kiến trúc là một trong các nghề đặc thù có tác động trực tiếp đến sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và góp phần phát triển nền văn hóa dân tộc – Luật Hành nghề KTS là cơ sở để kiểm soát chặt chẽ hành nghề KTS nhằm phục vụ việc bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, toàn xã hội và đất nước.

Nghề kiến trúc có nhiệm vụ rất vinh quang, có nhiệm vụ thiết kế chỗ ở, sáng tạo ra những công trình kiến trúc (ngôi nhà, đô thị, khu dân cư nông thôn, các vùng lãnh thổ…), góp phần tạo lập môi trường sống tiện nghi, mỹ quan và bền vững, cũng như thỏa mãn tối đa các nhu cầu sống, làm việc, nghỉ ngơi, giải trí, đi lại của con người và toàn xã hội.
Tạo lập một môi trường sống chất lượng tốt rất tốn kém, có ảnh hưởng đến vận mệnh, tương lai của từng gia đình và đất nước. Nhiệm vụ của các KTS, những người có trách nhiệm đưa ra các ý tưởng, giải pháp đúng, sáng tạo có sức thuyết phục cho các chủ đầu tư (khách hàng) và người quản lý, đảm bảo tính tư tưởng, công năng, mỹ quan, tiện nghi, kinh tế và bền vững của công trình kiến trúc.

Hiện nay, đội ngũ KTS của Việt Nam đã lên đến khoảng hơn 20.000 người, với gần 30 cơ sở đào tạo. Ngoài ra, nhiều KTS, cử nhân kiến trúc tốt nghiệp ở nước ngoài trở về bổ sung cho số lượng KTS ngày càng lớn hơn mỗi năm.
Tuy nhiên, lực lượng KTS đông nhưng không mạnh, một phần là do chất lượng đào tạo KTS tại nhiều cơ sở còn yếu kém, phần khác là do không có môi trường hành nghề phù hợp. Do đó, đến nay nước ta vẫn chưa có được những KTS có tài, có tầm làm trụ cột trong sự nghiệp xây dựng nền kiến trúc vùng, miền, quốc gia. Trong hoạt động hành nghề, do không được đào tạo lại thường xuyên một cách có hệ thống, nhiều KTS hành nghề còn thiếu kiến thức, kỹ năng và thái độ phục vụ. Điều này có ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ và sáng tạo. Khi lực lượng KTS cả nước không được tập hợp thì khó có thể phát huy hết vai trò, trách nhiệm và sức mạnh tổng hợp trong việc thực hiện các nhiệm vụ to lớn là xây dựng nền kiến trúc tiên tiến của nước nhà mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Đặc biệt, trong quá trình hội nhập – thực tế hiện nay cho thấy, KTS nước nhà đang đối mặt với các vấn đề sau:

  • Hành nghề KTS là một dịch vụ kết hợp giữa kỹ thuật với mỹ thuật và đang cạnh tranh khốc liệt theo cơ chế thị trường khi hội nhập;
  • Hội thảo Hành nghề kiến trúc và hội nhập quốc tế

    Theo thoả thuận với các tổ chức kinh tế thế giới, Việt Nam chúng ta sẽ hội nhập sâu, rộng trên tất cả mọi lĩnh vực để phát triển kinh tế – xã hội, do đó giới KTS cũng không là ngoại lệ. Khi đó các KTS, các tổ chức thiết kế xây dựng quốc tế sẽ vào hoạt động tự do ở nước ta, trong khi pháp lý khung về hành nghề KTS ở ta chưa có.
    Hiện nay, hoạt động của KTS và hành nghề KTS trên lãnh thổ Việt Nam được điều chỉnh bởi các Luật, Nghị định, văn bản quản lý nhà nước của các Bộ:

  • Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Luật Doanh nghiệp số 43/2013/QH13, Luật Dân sự số 33/2005/QH11…nhưng chủ yếu vẫn là Luật Xây dựng số 50/2014/QH 13.
  • Nghị định: Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 07/04/2010 của Chính phủ về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý qui hoạch đô thị; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 7/5/2010 của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng; Nghị định số 207/20113/NĐ-CP ngày 11/12/2010 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 48/2010/NĐ-CP; Nghị định số 23/2009/NĐ-CP ngày 27/02/2009; Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Thông tư số 12/2009/TT-BXD ngày 24/6/2009 của Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; Thông tư số 08/2008/TT- BXD ngày 10 tháng 4 năm 2008 của Bộ Xây dựng hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Hội đồng Kiến trúc- Quy hoạch cấp tỉnh, thành phố và hiện nay Bộ Xây dựng đang soạn thảo thông tư quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng…

Xem thêm: Thỏa thuận về dịch vụ kiến trúc giữa các nước ASEAN: Bước chuẩn bị cho hành nghề của KTS trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

Nhìn chung, hệ thống văn bản pháp luật liên quan về hoạt động hành nghề kiến trúc sư vừa qua đã được ban hành tương đối đầy đủ, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại chủ yếu sau:

  • Quy định chưa được thống nhất, thiếu cụ thể đối với nghề kiến trúc, chưa phù hợp với yêu cầu quản lý với nghề mang tính đặc thù.
  • Nhiều qui định còn chung chung, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và ít có tác dụng đối với việc đào tạo xây dựng đội ngũ KTS hành nghề chuyên nghiệp và các điều kiện để KTS có thể cung cấp các dịch vụ đạt chất lượng.
  • Các văn bản ban hành còn chưa tập trung, hiệu lực pháp lý chưa cao và chưa điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh như:

+ Quản lý chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của KTS hành nghề trong điều kiện nền kinh tế thị trường;
+ Hình thức hành nghề: KTS độc lập;
+ Hoạt động hành nghề của tổ chức, cá nhân nước ngoài hành nghề KTS trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Về việc đăng ký hoạt động hành nghề KTS;
+ Cơ chế thị trường tư vấn kiến trúc trong bối cảnh hội nhập quốc tế;
+ Tăng cường sự tham gia của tổ chức xã hội nghề nghiệp trong quản lý hành nghề KTS;
+ Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và giảm bớt thủ tục hành chính đối với hoạt động hành nghề KTS.

  • Bên cạnh sự hạn chế của hệ thống pháp luật về thiết kế kiến trúc và hành nghề KTS, thì các văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ,… đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới một số quy định có liên quan đến hành nghề KTS nhưng lại không tương thích với lĩnh vực kiến trúc và hành nghề KTS.
  • Hội KTS Việt Nam là thành viên của Hội KTS quốc tế UIA. Tổ chức này rất quan tâm đến chất lượng hành nghề kiến trúc của KTS. Cụ thể là Quy ước về tiêu chuẩn hành nghề KTS đã được Đại hội UIA lần thứ 21 thông qua tại Bắc Kinh năm 1999 và Khuyến nghị hành nghề được Đại hội lần thứ 22 thông qua tại Berlin năm 2002. Khuyến nghị hành nghề này đã được ban hành với sự thỏa hiệp công nhận của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh thể chế pháp luật liên quan đến vấn đề tổ chức và quản lý hành nghề KTS theo hướng phù hợp với nguyên tắc thông lệ của thế giới. Cụ thể là phù hợp với cam kết quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên của WTO, đồng thời phù hợp với khuyến nghị hành nghề của UIA.

Xem thêm: Nhìn lại các chính sách hành nghề KTS

Trên tinh thần đó, ngày 10/7/2013, Bộ Xây dựng đã có Công văn số 1365/BXD-PC đề nghị Hội KTS Việt Nam chủ trì nghiên cứu, soạn thảo Dự thảo Luật Kiến trúc sư (Luật Hành nghề KTS). Thực hiện nhiệm vụ trên, Hội đã thành lập Tổ soạn thảo và nhóm Cố vấn Pháp luật, gồm một số chuyên gia của Hội KTS Việt Nam, Bộ Xây dựng, Bộ Tư pháp, Hội Luật gia Việt Nam, Văn phòng Quốc hội để nghiên cứu, xây dựng Dự thảo Luật Hành nghề KTS (HNKTS). Với 9 chương 79 Điều, Dự thảo là cơ sở để Bộ Xây dựng tiếp tục hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ theo đúng quy trình xây dựng văn bản pháp luật của Nhà nước, có cấu trúc như sau:

  • Chương I: Những Quy định chung (từ Điều 1-Điều 10).
  • Chương II: KTS hành nghề (từ Điều 11-Điều 23).
  • Chương III: Đoàn KTS: gồm 2 Mục, 8 Điều.

Mục I: Đoàn KTS Việt Nam (từ Điều 24 -Điều 27).

Mục II: Đoàn Kiến trúc sư cơ sở (từ Điều 28 -Điều 31).

  • Chương IV: Hành nghề KTS: Gồm 3 Mục 16 Điều.

Mục I: Hoạt động hành nghề của KTS (từ Điều 32- Điều 38).

Mục II: Tổ chức hành nghề KTS (từ Điều 39- Điều 43).

Mục III: Hành nghề KTS với tư cách cá nhân (từ Điều 44- Điều 47).

  • Chương V: Hành nghề KTS nước ngoài tại Việt Nam, gồm 3 Mục, 14 Điều

Mục I: Hành nghề của tổ chức KTS nước ngoài tại Việt Nam (từ Điều 48-Điều53).

Mục II: Hành nghề của KTS nước ngoài (từ Điều 54-Điều 57).

Mục III: Thủ tục cấp phép đối với chi nhánh, công ty tư vấn kiến trúc và KTS nước ngoài hành nghề tại Việt Nam (từ Điều 58-Điều 61).

  • Chương VI: Sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trong hành nghề KTS: Gồm 6 Điều (từ Điều 62-Điều 67).
  • Chương VII: Quản lý hành nghề KTS: gồm 2 Điều ( từ Điều 68- Điều 69).
  • Chương VIII: Xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp: Gồm 2 Mục, 8 Điều.

Mục I: Xử lý kỷ luật KTS hành nghề, giải quyết tranh chấp (từ Điều 70- Điều 73).

Mục II: Xử lý vi phạm đối với KTS hành nghề, tổ chức hành nghề KTS (từ Điều 74-Điều 77).

  • Chương IX: Điều khoản thi hành: gồm 2 Điều ( từ Điều 78-Điều 79).

Thay lời kết

Luật Hành nghề KTS được ban hành sẽ bảo đảm sự đồng bộ với các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành, khắc phục những hạn chế đã nêu trên và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế – là cơ sở thực hiện cam kết quốc tế, trước hết là với các nước trong khối cộng đồng ASEAN, với UIA và WTO… Qua đó sẽ có tác động mạnh mẽ đến việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề KTS nước ta, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân hành nghề KTS trong nước cũng như nước ngoài ở Việt Nam, đồng thời sẽ có những tác động lớn về kinh tế, môi trường, xã hội:

  1. Việc thể chế hóa về tiêu chuẩn và các quyền liên quan đến hành nghề KTS, tạo điều kiện nâng cao chất lượng kiến trúc, góp phần hình thành nền kiến trúc bản sắc, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, phù hợp với luật pháp quốc tế trong quá trình hội nhập cũng như nâng cao nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần của dân cư và cộng đồng.
  2. Hoàn thiện môi trường hành nghề KTS lành mạnh, phù hợp với luật pháp quốc tế và góp phần tăng cường hội nhập quốc tế.
  3.  Thúc đẩy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành nghề KTS, đáp ứng yêu cấu phát triển đất nước trong điều kiện thúc đẩy CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.
  4.  Tăng cường sức cạnh tranh trong hoạt động hành nghề KTS trong nước và khu vực.
  5. Tổ chức bộ máy quản lý hành nghề KTS:
  • Thực hiện xã hội hóa trong quản lý hoạt động hành nghề KTS.
  • Tinh giản bộ máy quản lý hành nghề KTS.

Xem thêm: Luật Hành nghề Kiến trúc sư – Một đòi hỏi cho quá trình hội nhập

ThS.KTS Trịnh Ngọc Phương
Chủ tịch Hội KTS Tây Ninh

Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 12-2016