Khởi nghiệp trong lĩnh vực kiến trúc và sáng tạo (Phần II)

Phần I: Khởi nghiệp thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa (Phần I)

Việt Nam đang chuyển mình thành Quốc gia khởi nghiệp, đương nhiên ngành Kiến trúc – một trong 12 nhóm ngành Công nghiệp văn hóa hay Công nghiệp sáng tạo không thể đứng ngoài cuộc.
Đối với giới Kiến trúc, khởi dựng một sự nghiệp để sáng tạo ra các sản phẩm mới, từ đó tạo lập vị thế mới cho mình, cho tổ chức của mình và cộng đồng là một việc không hề đơn giản, song lại rất đáng để suy nghĩ và cũng đáng để hành động.

Sáng tạo sản phẩm mới trong lĩnh vực kiến trúc

Sản phẩm kiến trúc

Kiến trúc là một nhóm ngành hoạt động trong lĩnh vực quy hoạch đô thị, thiết kế cảnh quan, thiết kế kiến trúc các tòa nhà và công trình… Lịch sử của các nền văn minh thường được xác định qua những thành tựu kiến trúc còn sót lại.
Sản phẩm kiến trúc, tương tự như sản phẩm các nhóm ngành Công nghiệp văn hóa khác, được tạo ra trong chuỗi sản xuất hàng hóa, gắn trước hết với nguyên liệu đầu vào cho tạo lập sản phẩm chủ yếu là ý tưởng sáng tạo, bản quyền tác giả…Sản phẩm kiến trúc còn có đặc điểm riêng với 6 tiêu chí nổi bật:

i) Là một sản phẩm thể hiện tài năng sáng tạo của con người;
ii) Thể hiện được sự giao lưu (hội nhập), trước hết là tầm nhìn, giải pháp kỹ thuật; bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ có liên quan, trong phạm vi của một vùng kinh tế, văn hóa của quốc gia và quốc tế;
iii) Tiếp nối và phát huy được truyền thống văn hóa hay nền văn minh của khu vực, quốc gia;
iv) Tạo thành một ví dụ tiêu biểu, điển hình về một kiểu kiến trúc xây dựng hoặc một quần thể kiến trúc cảnh quan, nguồn cảm hứng cho việc thiết kế các sản phẩm kiến trúc khác trong khu vực;
v) Tạo thành một ví dụ tiêu biểu, điển hình cho hoạt động cư trú, hoạt động kinh tế và môi trường trong khu vực, dần trở thành các yếu tố văn hóa trong giai đoạn tiếp sau;
vi) Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với các sự kiện văn hóa, tín ngưỡng, truyền thuyết nổi bật của khu vực;

Một ý tưởng kiến trúc có khả năng đáp ứng được một trong những tiêu chí nêu trên đều có khả năng hình thành một sản phẩm sáng tạo mới, mở đầu cho một hoạt động Khởi nghiệp.
Trong thế kỷ 21, các ý tưởng sáng tạo và sản phẩm kiến trúc không chỉ luôn gắn với các tiến bộ về khoa học và công nghệ có liên quan, mà còn hình thành dựa trên nền tảng của công nghệ kỹ thuật số.

Nhà ở xã hội Villa Verde tại Constiucion, Chile, do KTS Alejandro Aravena, Công ty Elemental thiết kế năm 2010

Thị trường của sản phẩm kiến trúc

Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hiện đại hóa. Thị trường xây dựng trong cả nước, từng địa phương rất rộng, nhu cầu rất lớn về sản phẩm kiến trúc và doanh nghiệp kiến trúc, đặc biệt trong lĩnh vực:
– Quy hoạch xây dựng đô thị và các khu kinh tế đặc thù (Khu kinh tế ven biển và kinh tế biển; Khu kinh tế cửa khẩu; Khu công nghiệp, Khu công nghệ và kinh doanh…): Đáp ứng đồng thời các nhu cầu cư trú, hoạt động kinh tế, môi trường và văn hóa; đô thị thông minh…
– Quy hoạch xây dựng nông thôn mới: Về cơ bản Việt Nam đã tiến hành thành công Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới giai đoạn đầu, hiện đang nâng cấp quy hoạch xây dựng Nông thôn mới gắn với thúc đẩy kinh tế và tạo lập môi trường cảnh quan mới…
– Nhà ở: Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở, tại thời điểm 1/4/2014, dân số Việt Nam đạt 90,5 triệu người (mỗi năm tăng lên gần 1 triệu người); Chỉ có 46,6% hộ gia đình sống trong nhà kiên cố, còn lại là nhà bán kiên cố, thiếu kiên cố và nhà đơn sơ; Hàng năm, Việt Nam không chỉ phải tạo thêm khoảng 1 triệu việc làm, mà còn phải xây dựng mới 25 triệu m2 nhà ở, trong đó có 10 triệu m2 nhà ở xã hội.
– Thiết kế kiến trúc phục vụ cho hoạt động sản xuất và dịch vụ có nhiều lợi thế cạnh tranh tại thị trường trong nước và quốc tế: Lĩnh vực sản xuất và phục vụ sản xuất nông nghiệp; kinh tế biển; công nghiệp văn hóa; công nghệ thông tin và giao thức số; xây dựng; công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng; công nghiệp quốc phòng…
Sản phẩm của hoạt động tư vấn kiến trúc không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường xây dựng của quốc gia, tổ chức lớn và số ít các cá nhân thuộc tầng lớp trung lưu trở lên, mà còn phục vụ cả cho đông đảo những người dân, cộng đồng còn gặp nhiều khó khăn.

Kỹ năng sáng tạo sản phẩm kiến trúc

Sự khác biệt về kỹ năng sáng tạo dù nhỏ cũng có thể mang lại thành công trong việc tạo lập sản phẩm mà không hẳn phụ thuộc vào mức độ đầu tư. Kỹ năng sáng tạo sản phẩm kiến trúc gồm:

i) Đồng cảm: Là khả năng thấy, cảm nhận và thấu hiểu hiện trạng và các áp lực phải thay đổi của con người với con người (nhà ở, việc làm), con người với tự nhiên (ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, nước biển dâng), quốc gia với hội nhập quốc tế (môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh), từ đó mới có khả năng nhận diện thực tiễn. Đồng cảm của nhà quản lý khác với đồng cảm của nhà doanh nghiệp…Đồng cảm cao là một trong yếu tố dẫn đến Đoàn kết và phối hợp;
ii) Suy tưởng: Là khả năng diễn giải các nhận thức, từ đồng cảm để nhận diện nhu cầu thực tiễn đến việc tạo ra các ý tưởng và hình thành cơ hội (giải pháp). Trong kỹ năng suy tưởng, tầm nhìn có vai trò quyết định.
iii) Ý chí: Từ suy tưởng có thể hình thành ý tưởng, lý luận hay các mô hình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm mới. Song điều đó không thể thành hiện thực nếu không có ý chí và niềm đam mê, bởi làm cái mới bao giờ cũng khó. Chỉ khi ý tưởng tốt gắn với ý chí cao mới có thể tạo ra niềm tin, nguồn cảm hứng dẫn dắt người khác cùng hành động;
iv) Công nghệ: Là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm có giá trị gia tăng được xã hội chấp nhận. Để tạo ra sản phẩm Kiến trúc cần phải có mức độ tinh thông, thực hiện đồng thời cả 3 loại công nghệ:

– Công nghệ mang tính chiến lược: Liên quan đến tầm nhìn, sự hiểu biết và vận dụng các hành lang pháp lý có liên quan…
– Công nghệ mang tính quản lý: Liên quan đến việc ra quyết định huy động các nguồn lực cho tạo lập, thẩm định sản phẩm, điều hành, giám sát chuỗi sản xuất sản phẩm và hệ thống kết cấu hạ tầng có liên quan;
– Công nghệ mang tính kỹ thuật: Liên quan đến việc tổ chức thực hiện tạo ra, hoàn thiện, định hình và tiêu dùng sản phẩm, gắn với ứng dựng công nghệ thông tin, ví dụ như: Công nghệ trình diễn 3D – Mô hình thông tin kỹ thuật số xây dựng BIM (Building Information Modeling)…

Các giải pháp công nghệ trên đều diễn ra đồng thời trong chuỗi sản xuất: Ý tưởng – Tạo lập sản phẩm – Thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm – Định hình sản phẩm – Tiêu dùng sản phẩm và mở rộng quy mô.
Đối với doanh nghiệp, kỹ năng hay mức độ tinh thông công nghệ còn liên quan đến hiểu biết về môi trường tạo lập doanh nghiệp, khả năng tiếp cận công nghệ quản lý và kỹ thuật phù hợp; dòng tiền, cách thức bán hàng hay tiêu dùng sản phẩm, hợp tác trong tạo lập sản phẩm và văn hóa doanh nghiệp hình thành trong quá trình tạo lập và tiêu dùng sản phẩm.
Không có công nghệ cao hay thấp mà chỉ có công nghệ tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao hay thấp. Cộng đồng (doanh nghiệp, tổ chức) 10 người thì có giải pháp công nghệ phù hợp với 10 người. Cộng đồng 100 người thì có giải pháp công nghệ phù hợp với 100 người. Cộng đồng 10 người này lựa chọn công nghệ trong mối tương quan với công nghệ của cộng đồng 10 người khác để đảm bảo khả năng cạnh tranh. Vì thế mới nói: Cộng đồng trước, công nghệ sau. Mức độ sẵn sàng về công nghệ (để cho cộng đồng lựa chọn) là một trong tiêu chí (hay trụ cột) quan trọng của thế giới đánh giá Năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia.
v) Hiệu quả: Là thước đo thành công hay thất bại của khởi nghiệp. Đối với doanh nghiệp là hiệu quả tài chính, đối với cộng đồng, quốc gia là hiệu quả hay giá trị mới về xã hội và văn hóa.
Những người, cộng đồng khởi nghiệp thành công sẽ củng cố niềm tin để tiếp tục phát triển trong giai đoạn tiếp theo và là nguồn cảm hứng cho thế hệ khởi nghiệp khác.
Đối với doanh nghiệp, để giảm thiểu rủi ro trong thất bại, có nhiều cách, ví dụ như:

– Tìm kiếm thị trường hay đối tượng thích hợp tiêu dùng sản phẩm. Một thị trường ngách có thể tránh được các đối thủ lớn;
– Khai thác tối đa mặt mạnh của doanh nghiệp vừa và nhỏ (khi mới khởi nghiệp), do khả năng linh hoạt, phản ứng nhanh nhạy với thị trường và khả năng cung cấp các dịch vụ mang tính cá nhân;
– Khác biệt hóa các sản phẩm cung ứng, dù nhỏ nhất;
– Tìm kiếm, lắng nghe và tạo được ấn tượng tốt với khách hàng, thậm chí có doanh nghiệp còn dùng khái niệm sáng tạo khách hàng;
– Gây dựng và tạo lập thương hiệu gắn với hình ảnh của sản phẩm và con người của doanh nghiệp.
– Luôn đổi mới để có sản phẩm và dịch vụ tốt hơn; Sẵn sàng cập nhật các tiến bộ của khoa học công nghệ nhằm đổi mới sản phẩm;
– Có kế hoạch kinh doanh cụ thể;
– Học từ thất bại để tái khởi nghiệp thành công…

Vai trò của KTS trong quá trình tạo lập sản phẩm và thương hiệu doanh nghiệp

Các doanh nghiệp tư vấn kiến trúc thường là doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và siêu nhỏ (Theo Thống kê của Phòng Thương mại – Công nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ chiếm đến 96% trong tổng số 500 ngàn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, tạo ra khoảng 1,2 triệu việc làm, đóng góp hơn 40% tổng sản phẩm quốc nội mỗi năm). Các doanh nghiệp này thường hay khởi nguồn từ các KTS. Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp còn lấy tên KTS làm thương hiệu. Vị thế của KTS (nhân tài) càng nổi tiếng, đồng nghĩa với sự nổi tiếng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp quy mô càng lớn, càng tạo điều kiện để thu hút và nuôi dưỡng nhân tài cho chính sự tồn tại và phát triển của mình.
Từ năm 1979 trở lại đây, KTS nổi tiếng, được công nhận trên toàn thế giới, là những người được nhận Giải thưởng Kiến trúc Pritzker, giải trao hàng năm và được coi là giải Nobel của kiến trúc. Quốc gia có nền kiến trúc tiên tiến và doanh nghiệp kiến trúc tầm cỡ thế giới cũng là quốc gia có nhiều KTS nổi tiếng với Giải thưởng Pritzker: Hoa Kỳ: (8 giải thưởng – 1 giải cùng chung với Brasil); Nhật Bản (6 giải thưởng); Anh (4 giải thưởng); Đức (2 giải thưởng); Ý (2 giải thưởng); Bồ Đào Nha (2 giải thưởng); Pháp (2 giải thưởng); Thụy Sĩ (2 giải thưởng); Brasil (2 giải thưởng – 1 giải cùng chung với Hoa Kỳ); Mexico (1 giải thưởng); Áo (1 giải thưởng); Tây Ban Nha (1 giải thưởng); Nauy (1 giải thưởng); Hà Lan (1 giải thưởng); Úc (1 giải thưởng); Đan Mạch (1 giải thưởng); Trung Quốc (1 giải thưởng); Chi Lê (1 giải thưởng).
Tổng cộng đã có 38 giải thưởng Pritzker được trao, trong đó có một giải thưởng chia cho 2 quốc gia. Giải thưởng Pritzker năm 2016 vinh danh KTS người Chile Alejandro Aravena. Ông và doanh nghiệp của ông – Công ty Elemental, nổi tiếng nhờ sản phẩm kiến trúc phục vụ cộng đồng (nhà ở xã hội).
Với phong trào khởi nghiệp sáng tạo, trong tương lai gần, Việt Nam sẽ có KTS nổi tiếng với giải thưởng danh giá Pritzker và cùng với đó là doanh nghiệp kiến trúc tầm cỡ quốc tế.

Xem thêm: Tham gia diễn đàn KTS: Khởi nghiệp Kiến trúc – Dễ hay Khó?

Hệ sinh thái khởi nghiệp kiến trúc

Hệ sinh thái khởi nghiệp và Hệ sinh thái kinh doanh

Trên thế giới, về cơ bản có hai mô hình Hệ sinh thái liên quan đến khởi nghiệp:

i) Hệ sinh thái khởi nghiệp (Startup Ecosystem): Là thuật ngữ chỉ cộng đồng được hình thành bởi những chủ thể khởi nghiệp (cá nhân khởi nghiệp hay doanh nghiệp tái khởi nghiệp) và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp có liên quan như: Nhà đầu tư thiên thần; nhà tư vấn đặc thù (tạo lập sản phẩm, tìm kiếm nhà đầu tư…); Các tổ chức nghiên cứu và cung cấp dịch vụ (tài chính, pháp lý…); Các doanh nhân với vai trò là cố vấn (truyền cảm hứng, xây dựng tư duy tích cực…); Các cộng đồng, tổ chức có liên quan đến hoạt động khởi nghiệp (hiệp hội)…gắn liền với các sự kiện khởi nghiệp (ví dụ như: Ngày hội mở đầu, kết thúc một khóa khởi nghiệp…). Các địa điểm hình thành Hệ sinh thái khởi nghiệp này có thể là thật hoặc ảo (trên mạng). Quy mô của hệ sinh thái chủ yếu là số doanh nghiệp khởi nghiệp được hình thành…
Trong mô hình này, doanh nghiệp khởi nghiệp được ươm tạo bởi các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp.

ii) Hệ sinh thái kinh doanh (Entrepreneurial Ecosystem): Là thuật ngữ chỉ một cộng đồng doanh nghiệp, cộng sinh, chia sẻ và bổ sung cho nhau, tạo thành một môi trường thuận lợi thúc đẩy sự hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và tăng trưởng nhanh. Hệ sinh thái này đáp ứng yêu cầu rộng lớn hơn, không chỉ là hoạt động khởi nghiệp tạo lập doanh nghiệp mà còn cho cả các hoạt động kinh tế và xã hội khác, tạo lập tinh thần kinh doanh của khu vực.
Cộng đồng có thể bao gồm một nhóm công ty, trong đó có doanh nghiệp khởi nghiệp và nhiều tổ chức có liên quan khác, tạo thành một mạng lưới hoặc hệ thống để hình thành một khu vực kinh tế năng động. Quy mô của hệ sinh thái này là quy mô của hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp khởi nghiệp chỉ là một phần trong hệ sinh thái, tập trung vào việc nghiên cứu tạo lập sản phẩm mới.
Trong mô hình này, doanh nghiệp khởi nghiệp được hình thành bởi chính môi trường kinh doanh cộng sinh trong hệ sinh thái. Một môi trường mà doanh nghiệp khởi nghiệp có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận các nguồn tài chính, nguồn nhân lực, mức độ tinh thông nghề nghiệp, hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên nghiệp mà họ cần trong tương lai; nơi mà họ thiết lập được mối quan hệ xã hội với đồng nghiệp và là nơi họ học tập được cách xây dựng nền văn hóa doanh nhân, hiểu rõ được lịch sử của các doanh nghiệp, doanh nhân thành công…
Tại một số quốc gia phát triển, mô hình hệ sinh thái kinh doanh còn được mở rộng hơn, bao gồm cả Khu công nghiệp (Industrial Park), Khu công nghệ (Science Park), Khu kinh doanh (Business Park), tạo thành Cụm kinh tế (Economic Cluster), ví dụ như Thung lũng Silicon (Silicon Valley, California, Mỹ, là Cụm kinh tế đầu tiên trên thế giới, hình thành vào năm 1971; nơi tập trung hay liên kết các mô hình Khu công nghiệp, Công viên công nghệ và Công viên thương mại trong lĩnh vực công nghệ cao, gắn liền với các trường đại học và các khu dân cư; nơi hình thành và phát triển lĩnh vực kinh tế mới – kinh tế số. Mô hình Cụm kinh tế mang tên Thung lũng Silicon phổ biến trên toàn thế giới với gần 100 địa điểm. Riêng Châu Âu có 9 Cụm kinh tế mang tên Silicon Valley, trong đó được biết đến nhiều nhất là Thung lũng Silicon tại Bangalore (Ấn Độ).

Mô hình Hệ sinh thái khởi nghiệp kiến trúc

Trong điều kiện của Việt Nam, Hệ sinh thái khởi nghiệp kiến trúc có thể gồm các mô hình sau:

i) Hệ sinh thái khởi nghiệp (Startup Ecosystem) trong trường đại học: Là hệ sinh thái theo mô hình thứ nhất, dạng đào tạo, ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp. Trường đại học, viện nghiên cứu có ngành đào tạo Kiến trúc, có thể tạo lập hệ sinh thái này. Hệ sinh thái khởi nghiệp trong trường đại học gồm:

– Sinh viên (doanh nhân và nhân tài trong tương lai) và doanh nghiệp (cựu sinh viên của trường) tái khởi nghiệp;
– Các tổ chức đào tạo, khoa học công nghệ trong trường đóng vai trò thúc đẩy khởi nghiệp, tạo lập môi trường học thuật với các cơ sở dữ liệu lớn về công nghệ, đào tạo kỹ năng và thực hành khởi nghiệp;
– Nhà trường tìm kiếm các nguồn tài trợ cho hoạt động khởi nghiệp (Việt Nam hiện có: Quỹ đổi mới sáng tạo quốc gia; Nguồn vốn từ Dự án FIRST – Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ; Hơn 20 quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài…); thu hút các nhà quản lý, doanh nghiệp, công nghệ trong và ngoài trường tư vấn bí quyết khởi nghiệp, truyền cảm hứng, phát triển kỹ năng và thẩm định ý tưởng, cũng như hướng dẫn cách xây dựng đội, nhóm khởi nghiệp và bước đầu phát triển sản phẩm…
– Kết quả: Đào tạo kỹ năng khởi nghiệp cho sinh viên chuẩn bị ra trường, góp phần tạo lập doanh nghiệp và tái khởi nghiệp các doanh nghiệp thế hệ mới; Thông qua đào tạo khởi nghiệp, gắn kết các tổ chức đào tạo, khoa học, công nghệ trong nhà trường với thực tiễn thị trường, với sinh viên đã ra trường và với doanh nghiệp, qua đó tìm được đầu vào cho các hướng nghiên cứu và tạo điều kiện cho thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ…
– Địa điểm: tại các trường đại học, viện nghiên cứu (mô hình này tương tự như dạng vườn ươm tạo doanh nghiệp).

ii) Hệ sinh thái khởi nghiệp (Startup Ecosystem) trong các tổ chức, cộng đồng: Là hệ sinh thái theo mô hình thứ nhất, dạng ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp. Các tổ chức, hiệp hội trung ương, địa phương và cộng đồng xã hội liên quan đến kiến trúc có thể tạo lập hệ sinh thái này. Hệ sinh thái khởi nghiệp này gồm:

– KTS muốn khởi nghiệp và doanh nghiệp tái khởi nghiệp;
– Tổ chức hiệp hội và cộng đồng xã hội kiến trúc có liên quan như: Nhà tư vấn bí quyết khởi nghiệp; Quỹ đầu tư khởi nghiệp… Trong hệ sinh thái này, các cá nhân, doanh nhân thành đạt có vai trò rất quan trọng, không chỉ trong lĩnh vực tư vấn mà còn mang lại niềm tin cho cộng đồng khởi nghiệp.
– Kết quả: Ươm tạo các doanh nghiệp thế hệ mới; hình thành sáng kiến về khởi nghiệp, ví dụ như tổ chức các ngày hội khởi nghiệp để các doanh nghiệp có thể tiếp cận với khách hàng tiềm năng, chuyên gia đầu ngành về công nghệ, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp và truyền thông trong nước và quốc tế; Tổ chức các cuộc thi gắn với nội dung khởi nghiệp…Và chính các tổ chức, cộng đồng này cũng trở thành tổ chức cộng đồng khởi nghiệp, vì đã tạo lập các giá trị mới cho xã hội.
– Địa điểm: Một địa điểm cụ thể hoặc kết hợp với địa điểm ảo trên mạng xã hội;

iii) Hệ sinh thái kinh doanh (Entrepreneurial Ecosystem) tại các Trung tâm Công nghiệp văn hóa: Là hệ sinh thái theo mô hình thứ hai, dạng doanh nghiệp khởi nghiệp được hình thành bởi chính môi trường kinh doanh cộng sinh trong hệ sinh thái.
Theo Chiến lược phát triển các ngành Công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, hình thành Trung tâm Công nghiệp văn hóa (cấp quốc gia và quốc tế) tại TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, TP Đà Nẵng và các Trung tâm gắn với Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (Việt Nam có 8 Di sản thế giới, trong đó có 1 Di sản tại Hà Nội, như vậy đến năm 2030 sẽ hình thành 10 Trung tâm Công nghiệp văn hóa phân bố đều khắp trong cả nước). Trung tâm Công nghiệp văn hóa là một cộng đồng doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành Công nghiệp văn hóa, cộng sinh, chia sẻ và bổ sung cho nhau, tạo thành một môi trường thuận lợi thúc đẩy sự hình thành các doanh nghiệp văn hóa khởi nghiệp, trong đó có doanh nghiệp Kiến trúc.

Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam

Hệ sinh thái khởi nghiệp Công nghiệp văn hóa nói chung và khởi nghiệp kiến trúc nói riêng được hình thành trên cơ sở Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam hay Môi trường Văn hóa khởi nghiệp Việt Nam do Chính phủ kiến tạo.
Tại phiên họp thường kỳ đầu tiên khi Chính phủ mới kiện toàn ngày 4/5/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tuyên bố: Năm 2016 là năm Quốc gia khởi nghiệp.
Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách có liên quan đến khởi nghiệp:

– Ngày 16/5/2016, Chính phủ ban hành Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, trong đó nêu mục tiêu đến năm 2020 sẽ thành lập được 1 triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
– Ngày 18/5/2016 Chính phủ ban hành Quyết định 844/QĐ-TTg phê duyệt Đề án: “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025” với mục tiêu đến năm 2020 hoàn thành hệ thống pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Thiết lập được Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; Xây dựng Khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các Bộ, ngành, địa phương có tiềm năng phát triển hoạt động khởi nghiệp; Nâng cao năng lực và dịch vụ và phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; Hỗ trợ được 800 dự án, 200 doanh nghiệp khởi nghiệp…
– Ngày 16/10/2016, Thủ tướng Chính phủ có cuộc làm việc với lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội. Thủ tướng cho rằng, một trong những thước đo thành công của một trường đại học là bao nhiêu sinh viên khởi nghiệp và thành danh từ mái trường này, chứ không chỉ là có bao nhiêu sinh viên kiếm được việc làm.
– Ngày 18/10/2016, tại Quyết định số 1982/QĐ-TTg, Chính phủ phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam, trong đó Chuẩn đầu ra của người tốt nghiệp đại học (bậc trình độ 6) ngoài kỹ năng cần thiết để có thể giải quyết các vấn đề phức tạp, phải có kỹ năng dẫn dắt, khởi nghiệp, tạo việc làm cho mình và cho người khác.
– Ngày 06/02/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết 19-2017/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020, xác định rõ 4 nhóm chỉ tiêu cần phải thực hiện: i) Môi trường kinh doanh; ii) Năng lực cạnh tranh; iii) Đổi mới sáng tạo và iv) Chính phủ điện tử. Trong đó có rất nhiều tiêu chí liên quan trực tiếp đến Khởi nghiệp thể chế, Khởi nghiệp doanh nghiệp và Khởi nghiệp cộng đồng xã hội.

Nếu coi Khởi nghiệp là một sản phẩm sáng tạo quốc gia, thì “sản phẩm Khởi nghiệp” Việt Nam hiện tại mới chỉ trong giai đoạn xây dựng ý tưởng, đang hoàn thiện, chưa định hình và chưa tạo lập được thị trường của sản phẩm.

Cần thiết phải xây dựng Hệ thống lý luận về khởi nghiệp, bắt nguồn từ thực tiễn khởi nghiệp, trong đó làm rõ các vấn đề như: Niềm tin chiến lược về khởi nghiệp; Tư duy và tầm nhìn khởi nghiệp; Quyền lợi quốc gia, cộng đồng và cá nhân trong quá trình khởi nghiệp; Giá trị mới về xã hội và văn hóa từ khởi nghiệp…
Trong điều kiện Việt Nam hiện tại, khi mà các Khu công nghệ (Science Park), Khu kinh doanh (Business Park) hay Cụm kinh tế (Economic Cluster) theo mô hình Thung lũng Silicon còn chưa được hình thành và hoạt động hiệu quả, thì Hệ sinh thái khởi nghiệp (Startup Ecosystem) trong các trường đại học và Hệ sinh thái khởi nghiệp (Startup Ecosystem) trong các tổ chức hiệp hội, cộng đồng xã hội là những hệ sinh thái có điều kiện chủ động triển khai sớm và rộng khắp trong cả nước; là thành phần chủ yếu của Hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam.
Mỗi trường đại học, viện nghiên cứu phải trở thành các trung tâm khởi nghiệp; và hỗ trợ cho hệ sinh thái khởi nghiệp trong tổ chức hiệp hội, cộng đồng xã hội.

Đào tạo tinh thần Khởi nghiệp tại Đại học Xây dựng: Báo cáo kết quả của các nhóm Khởi nghiệp Kiến trúc (sinh viên năm thứ 3 và 4); Tổ chức đào tạo: Khoa Kiến trúc và Quy hoạch; Nhà tư vấn đặc thù: Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển công nghệ Đại học Xây dựng (Nucetech);

Niềm tin chiến lược về khởi nghiệp

Phong trào Quốc gia khởi nghiệp nói chung hay Phong trào Kiến trúc khởi nghiệp nói riêng chỉ thành hiện thực khi xây dựng được một Niềm tin chiến lược để có thể huy động tất cả mọi người, mọi tổ chức, cộng đồng xã hội cùng tham gia. Niềm tin về nhu cầu tất yếu và mục tiêu tốt đẹp mà phong trào khởi nghiệp hướng tới; Niềm tin rằng chúng ta có đủ tinh thần, lực lượng và công nghệ để sớm thực hiện cho được mục tiêu tốt đẹp đó.
Chúng ta không mong muốn nền kiến trúc của một quốc gia gần 100 triệu dân mất phương hướng và mất niềm tin ở chính mình, nơi mà khi có nhu cầu đầu tư xây dựng một công trình kiến trúc có quy mô lớn thì lập tức nghĩ ngay đến mời tư vấn nước ngoài. Suy cho cùng, họ cũng chỉ có thể trợ giúp chúng ta về mặt kỹ thuật, chứ không thể tạo lập được môi trường không gian gắn kết được con người với con người Việt Nam, không thể tạo lập được môi trường cảnh quan gắn kết được con người Việt Nam với tự nhiên của Việt Nam và càng không thể tạo lập được môi trường văn hóa gắn kết được con người Việt Nam với niềm tin và văn hóa của tiền nhân; hôm nay là Công trình kiến trúc, ngày mai là Di sản văn hóa…
Năm 2016 là năm Quốc gia khởi nghiệp, cũng là năm Kiến trúc khởi nghiệp.
Khởi nghiệp kiến trúc để sáng tạo ra sản phẩm mới và tạo lập vị thế mới, hình thành một Thế hệ KTS mới và một Nền kiến trúc mới, góp phần đưa Việt Nam sớm (5, 10 năm tới) trở thành một quốc gia đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, đóng góp vào sự thịnh vượng chung của thế giới.
Xem thêmBàn về khởi nghiệp trong nghề kiến trúc?

TS. Phạm Đình Tuyển
Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, ĐH xây dựng
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 02-2017)