Đền tưởng niệm Bến Dược – Củ Chi hay còn gọi ngắn gọn là Đền Bến Dược là quần thể kiến trúc tưởng niệm những anh hùng liệt sỹ Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương và Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; tọa lạc tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Quần thể kiến trúc ngôi đền nằm trong không gian của Di tích lịch sử địa đạo Củ Chi.
Đền được khởi công vào ngày 19/5/1993 nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 103 của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên một vùng đất rộng 7 ha. Tác giả của đồ án là kiến trúc sư Khương Văn Mười, cùng nhiều cộng sự là các kiến trúc sư, họa sỹ, nhà điêu khắc, nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn , nhà thơ… Đền khánh thành giai đoạn 1 vào ngày 19/12/1995 và bắt đầu đón khách trong và ngoài nước đến thăm viếng, tưởng niệm. Hiện đây là đền tưởng niệm lớn nhất Việt Nam.
Quần thể kiến trúc Đền tưởng niệm Bến Dược bao gồm nhiều công trình kiến trúc; từ ngoài vào bao gồm: Tam quan, Nhà văn bia, Tháp chín tầng, Đền chính, Tượng đài.
Tam quan được thiết kế theo phong cách cổ truyền của dân tộc với các hàng cột tròn, trên lợp ngói âm dương. Cổng có hoa văn, họa tiết, mái cong của những cổng đình làng nhưng được cách tân bởi những vật liệu mới. Chính giữa cổng tam quan là biển đề: “Đền Bến Dược” và trên các thân cột là những câu đối của nhà thơ Bảo Định Giang.
Nhà văn bia là một nhà vuông có hai mái, lợp ngói, ở giữa đặt một tấm bia đá cao 3m, ngang 1,7m, dày 0,25m, nặng 3,7 tấn. Tấm bia đá này được lấy từ khối đá nặng 18 tấn ở Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) và được các nghệ nhân chạm khắc những hoa văn độc đáo của dân tộc. Tấm bia đá khắc bài thơ của tác giả Viễn Phương, đây được xem là bản hùng ca về đất và người Củ Chi, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tự hào về quá khứ hào hùng của cha anh.
Các góc đền thờ chính nhìn từ sân hành lễ
Kiến trúc đền chính mang dáng dấp đền đài cổ của Việt Nam, rộng 7 gian, hai tầng mái lợp ngói, xung quanh 4 phía có hàng hiên. Nội thất điện thờ bố trí theo hình chữ U: Trung tâm là bàn thờ Tổ quốc trang nghiêm được bố trí theo kiểu đình Việt Nam. Chính giữa có tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tả, hữu là hai hương án thờ các bậc tiền hiền tiên liệt và đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh, chưa tìm được tên. Dọc theo các bậc tường bên trái là tên liệt sĩ khối dân chính Đảng, các bậc tường bên phải là tên liệt sĩ lực lượng vũ trang. Có tất cả 45.666 tên anh hùng liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng được khắc ghi trên bia tại gian chính điện cùng phối thờ. Phía trên tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh có quốc kỳ, hoành phi: “Tổ quốc ghi công”, hai bên có hoành phi “Vì nước quên mình” và “Đời đời ghi nhớ”. Phía bên phải chính điện có để một bộ ngũ liên trống, bên trái là một Đại hồng chung.
Nội thất đền thờ
Từ hiên bên đền chính có lối xuống tầng hầm nằm dưới đền chính. Tầng hầm của đền là nơi trưng bày sa bàn, tranh, tượng, phù điêu, những tác phẩm nghệ thuật, thể hiện các phong trào đấu tranh, các sự kiện, các nhân vật tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến suốt chiều dài lịch sử hơn 100 năm, từ 1859 đến 1975. Tầng hầm có 9 không gian. Mỗi không gian thể hiện một thời đoạn lịch sử đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định.
- Không gian I: Giặc Pháp xâm lăng, nhân dân đồng lòng bảo vệ Tổ quốc.
- Không gian II: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 tại Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định.
- Không gian III: Phát súng đầu tiên chống Pháp, mở màn cho cuộc kháng chiến kiên cường.
- Không gian IV: Ba mũi giáp công đỉnh cao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
- Không gian V: Cuộc chiến tranh du kích kiên cường của nhân dân ngoại thành và đất thép Củ Chi.
- Không gian VI: Mùa Tết Mậu Thân, quân dân Sài Gòn Chợ Lớn nổi dậy, tiến công mạnh mẽ.
- Không gian VII: Chiến thắng chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng mùa xuân 1975.
- Không gian VIII: Hy sinh vì nghĩa lớn, lấy thân mình làm ngọn đuốc sáng cho đất nước.
- Không gian IX: Khát vọng hòa bình, thống nhất, độc lập và tự do cho dân tộc.
Tháp chín tầng nằm phía trước, bên trái đền (theo hướng nhìn từ ngoài vào), thể hiện cho sự vươn lên đỉnh cao trong tương lai. Tháp có 9 tầng cao 39m, trên vách tháp có nhiều hoa văn, phù điêu thể hiện cuộc sống và chiến đấu của nhân dân Củ Chi Đất thép thành đồng.
Phía sau đền là tượng đài “Hồn thiêng Đất Nước”, cao 16m, nặng 243 tấn, được làm bằng đá granit đặt giữa vườn hoa hướng ra sông Sài Gòn. Biểu tượng được thể hiện qua hình tượng một giọt nước mắt trên đỉnh, khái quát về sự đau thương mất mát của bao thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu hy sinh để giữ gìn đất nước. Tác giả tượng đài là nhà điêu khắc Phan Thị Gia Hương.
Hàng hiên quanh khối kiến trúc đền chính
Một trong những hạng mục đặc biệt nhất là 3 bức tranh gốm nằm ở đền chính, ốp bên ngoài tường 2 bên và phía sau đền. 3 bức tranh gốm này mỗi bức có chiều dài 25m, cao 4m; vào thời điểm khánh thành năm 2001 là bức tranh gốm lớn nhất Việt Nam, do các họa sỹ – giảng viên Trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh sáng tác và thực hiện trên công trình. Các bức tranh này được ghép từ những viên gốm có kích thước 20x20cm và 10x10cm. Để hoàn thành bức tranh gốm lớn nhất này các họa sĩ đã làm việc liên tục bốn năm với hàng trăm phác thảo, thể hiện trên giấy theo tỷ lệ 1:1, rồi lại thể hiện lên gạch gốm.
Bức thứ nhất diễn tả nội dung “Dân khai hoang, Thần lập xứ”, thể hiện 5 chương: chương thứ nhất: đấu tranh với thiên nhiên trong quá trình chinh phục miền đất mới; chương thứ hai là khai hoang; chương thứ ba: ở giữa là người có công mở đất: Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, bên phải mô tả sinh hoạt kinh tế: xây thành, lập chợ…, bên trái là sinh hoạt văn hóa như: đám rước, múa lân; chương thứ tư là thành quả trong cuộc sống và chương thứ năm là đấu tranh chống xâm lược. Tác giả bức này là các họa sỹ Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Đức Hòa, Nguyễn Quang Cảnh.
Bức thứ hai thể hiện nội dung “Sức tiếp sức chống xâm lăng”, tác phẩm này cũng thể hiện năm nội dung: đường Hồ Chí Minh trên biển, chi viện từ hậu phương lớn, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, lớp lớp thanh niên lên đường, chi viện tại chỗ: miền núi, Tây Nguyên, đồng bằng, chi viện từ trong lòng địch và cuối cùng là hoạt động nội thành. Tác phẩm này do các họa sĩ: Lê Đàn, Phan Hoài Phi, Phan Phương Trực, Nguyễn Xuân Đông, Đỗ Mạnh Cường thực hiện.
Bức cuối cùng thể hiện hai giai đoạn lịch sử. Phần một “Nhân dân ta bị đô hộ áp bức”, phần hai là “Đoàn kết, đấu tranh giành thắng lợi”. Tác phẩm này do ba họa sỹ thực hiện, là Hoàng Trầm, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Huy Khôi.
Trích đoạn bức tranh gốm số 2 “Sức tiếp sức, chống xâm lăng”
Đền Tưởng niệm Bến Dược được xây dựng trên một diện tích đất rộng lớn, vốn ngày xưa là nơi khô cằn đầy bom đạn chiến tranh, nay là một không gian xanh mát với nhiều loại hoa, cây quý từ nhiều nơi, nhiều nghệ nhân gửi về tặng. Đặc biệt, các nhà lãnh đạo trung ương, thành phố và các tỉnh đã trồng lưu niệm nhiều loại cây quý ở hoa viên trước đền. Công trình có nhiều hạng mục nhưng được bố cục hợp lý, gắn kết hòa cùng thiên nhiên tạo nên một không gian đẹp, thoáng đãng, tĩnh lặng và thâm nghiêm. Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược – Củ Chi làm cho chúng ta nhớ mãi về lịch sử hào hùng của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến gian khổ đã qua, nhớ đến những Mẹ Việt Nam anh hùng, những anh hùng, liệt sĩ và biết bao đồng bào đã ngã xuống để cho đất nở hoa hôm nay!
Đền Tưởng niệm Bến Dược là một tác phẩm kiến trúc vừa có tính truyền thống vừa mang dấu ấn đương đại, là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc, điêu khắc, hội họa và cảnh quan. Đây là một không gian tâm linh và cũng là điểm tham quan, là địa chỉ về nguồn của nhiều người dân và du khách khi đến với TP Hồ Chí Minh.
Bài và ảnh: Hà Thành


































