1000 Thăng Long Hà Nội những dấu ấn kiến trúc qua năm tháng

Những ngày này, nhân dân Thủ đô và nhân dân cả nước đang hân hoan đón chào Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội với niềm vui to lớn trước những thành tựu về mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, trong đó phải kể đến lĩnh vực quy hoạch kiến trúc xây dựng Hà Nội.
Đây cũng là dịp để giới kiến trúc nước nhà tạm gác lại những lo toan bức xúc, những áp lực thường ngày của công việc quy hoạch kiến trúc, tĩnh tâm nhìn lại những dấu ấn thăng trầm của kiến trúc qua những năm tháng của Thăng Long Hà Nội trong suốt 1000 năm phát triển của mình, để từ đó tìm ra những giải pháp, hướng đi phù hợp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kiến trúc Thủ đô hiện đại – giàu bản sắc trong thế kỷ 21.

1. KIẾN TRÚC, ĐÔ THỊ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1010 – 1873
Đức vua Lý Thái Tổ – Vị Vua sáng lập của triều Lý trước khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long  năm 1010 đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của một kinh thành với sự suy thịnh của đất nước. Cùng với những điều kiện về thiên nhiên, giao thông, về nhân vật lực thuận lợi trù phú. Chỉ vài năm sau, hình ảnh một kinh đô mới về cơ bản đã rõ nét.
Kinh thành Thăng Long gồm hai phần: Hoàng Thành là nơi Vua ở và làm việc của triều đình, kinh thành là khu vực nhân dân và quan lại ở, bao bọc quanh Hoàng thành. Trong Hoàng thành có Cấm thành là nơi Vua và các Hoàng hậu, cung tần mỹ nữ ở.
Phía ngoài là khu thị dân, bao gồm xóm làng nông nghiệp, phố phường công thương nghiệp, hệ thống bến sông và chợ, bao quanh bởi thành Đại La. Thăng Long đã phát triển thành một thành thị, kinh thành của nước Đại Việt độc lập và thống nhất.
Trải qua các triều đại từ Lý (1009 – 1225) – Trần – Lê… tới Thời Tây Sơn – Triều Nguyễn (1802 – 1945) mặc dù kinh thành thường xuyên chịu sự tàn phá của giặc ngoại xâm, của điều kiện thiên nhiên hết sức khắc nghiệt, song nhìn chung Thăng Long vẫn đã được xây dựng và phát triển với quy mô ngày một lớn hơn. Các công trình kiến trúc chủ yếu trong  khu vực Hoàng thành được cải tạo, xây dựng lại và mở mang với những kỹ thuật xây cất và trang trí ngày một cao hơn, tinh vi hơn. Bên cạnh kiến trúc cung đình còn có các kiến trúc Phật giáo, đền miếu, Quốc Tử Giám, thành luỹ, chợ búa, bến thuyền, các phường thủ công và buôn bán, …
Năm 1802 nhà Nguyễn đóng đô tại Phú Xuân. Thăng Long chỉ còn là lỵ sở của tổng trấn Bắc Thành. Hoàng Thành cũ bị phá bỏ để xây lại một Hoàng thành mới nhỏ hơn trước rất nhiều. Thành xây kiểu Vauban có chu vi khoảng 5km hoàn thành năm 1804 – 1805. Không còn vua chúa và bộ máy triều đình trung ương. Quần thể Phủ chúa Trịnh đồ sộ nguy nga cùng với nhiều công trình kiến trúc khác ở ngoài Hoàng Thành đã bị thiêu huỷ hoàn toàn.
Từ đây đô thành Thăng Long, yếu tố “đô” sút kém dần, nhưng yếu tố “thị” thì vẫn không ngừng phát triển, một phần dựa trên tiềm năng kinh tế của mình, một phần là sự nới lỏng những o ép và kiểm soát của triều đình phong kiến trung ương.
Dấu ấn kiến trúc đặc trưng của thờikỳ này dễ dàng được nhận thấy. Đó là quy hoạch kiến trúc đô thị nương tựa, gắn kết hài hoà với thiên nhiên. Việc tổ chức bố trí mạng lưới đường xá trong khu thị dân, phố phường bến sông, khu chợ thường mềm mại linh hoạt dựa vào thế đất, bám vào thế sông. Các công trình kiến trúc từ Cung điện đền đài trong kinh thành tới đình chùa, nhà ở thị dân đều có quy mô không lớn, phát triển theo bề mặt (chiều ngang) chứ không phát triển theo chiều cao, phù hợp với điều kiện địa hình và điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Việt Nam.

2. KIẾN TRÚC, ĐÔ THỊ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1873 – 1954
Năm 1873 thực dân Pháp chiếm Thành Hà Nội, các công trình còn lại trong Hoàng thành được người Pháp chiếm dụng cho đến 1884 – 1886 thì phá sạch để xây dựng Sở chỉ huy pháo binh, chỉ còn giữ lại Cột cờ (dựng năm 1812). Từ năm 1888 – 1920 là thời kỳ của chương trình khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất, phần tường thành còn lại của Hoàng thành bị phá nốt, chỉ còn để lại cổng chính Bắc. Phía tây hồ Hoàn Kiếm xây Nhà thờ Lớn, Nhà hát Lớn thành phố, Phủ Toàn quyền, Bưu điện… Sự tàn phá của thực dân Pháp ở khu vực hồ Hoàn Kiếm đã làm cho gần như toàn bộ các di tích văn hóa, lịch sử và kiến trúc truyền thống rải rác quanh hồ bị biến mất một cách thô bạo.
Cấu trúc đô thị mới được dần hình thành bởi những khu chức năng riêng biệt: Khu thương nghiệp dịch vụ trung tâm trên đường Tràng Tiền, Hàng Khay; Khu hành chính chính trị ở phía đông hồ Hoàn Kiếm và khu vực Hoàng thành; Khu ở của người Pháp ở phía nam hồ Hoàn Kiếm; các khu kho tàng, nhà máy rải rác trong thành phố; Khu thương mại dịch vụ truyền thống ở 36 phố phường. Sự cách biệt của khu phố Tây và các khu người bản xứ là một dấu ấn hết sức nặng nề.    
Từ năm 1920 đến Giải phóng Thủ đô 1954 là thời kỳ của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2. Với quy mô và tốc độ lớn hơn nhằm ổn định và phát triển kinh tế ở chính quốc đã bị thiệt hại nặng nề sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Người Pháp tới Đông Dương nhiều hơn, hoạt động kinh tế khẩn trương hơn, số cư dân đô thị tăng lên một cách nhanh chóng, từ 7 vạn dân năm 1918 lên 13 vạn năm 1928, và 30 vạn năm 1942.
Ban hành các sắc lệnh về vệ sinh đô thị (1928), về quy hoạch mở rộng thành phố (1930), thành lập các Sở chuyên ngành về kiến trúc quy hoạch, Hội đồng đô thị và nhà ở Đông Dương. Năm 1926 mở Khoa Kiến trúc trong Trường Mỹ thuật Đông Dương, tuy chỉ với số lượng đào tạo ít ỏi. Trong những kiến trúc sư có tên tuổi từ Pháp cử sang, làm việc trong các Sở chuyên môn và tham gia giảng dạy có Éc-nét Hê-bơ-ra (Ernest Hébrard) người có công khởi xướng một phong cách kiến trúc mới là khai thác đặc điểm kiến trúc phương Đông và nhiệt đới kết hợp với kỹ thuật xây dựng phương Tây mà ông gọi là “Phong cách kiến trúc Đông Dương”. Đây là giai đoạn mà phong cách kiến trúc cổ điển nhập khẩu nguyên vẹn từ Pháp mất dần vị trí độc tôn, xuất hiện xu hướng tìm sự kết hợp Âu – Á, khai thác những đặc điểm kiến trúc cũng như điều kiện khí hậu địa phương hoặc theo phong cách đặc trưng của kiến trúc hiện đại, thoát ly khỏi những chi tiết phức tạp, chú trọng xử lý hình khối và đường nét đơn giản đang là một quan điểm thẩm mỹ kiến trúc có tính cách mạng trong những năm 20 của châu Âu. Tuy chưa đạt tới sự nhuần nhuyễn về ngôn ngữ biểu hiện, nhưng phong cách này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác của nhiều kiến trúc sư Pháp làm việc ở Đông Dương trong những năm 1930 – 1945. Thế hệ các kiến trúc sư Việt Nam được người Pháp đào tạo đã có nhiều cố gắng tìm về dân tộc trong bối cảnh đó thật đáng trân trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến các thế hệ kiến trúc sư Việt Nam sau này.

Phong cách kiến trúc hiện đại bắt nguồn từ châu Âu mà trong chừng mực đã ảnh hưởng tới một số công trình xây dựng tại Hà Nội. Đặc điểm của xu hướng này là vận dụng đường nét hình học trong xử lý hình khối, không dùng chi tiết trang trí cầu kỳ. Trào lưu này muốn thoát khỏi chủ nghĩa cổ điện kinh viện, hướng tới một quan niệm thẩm mỹ mang tính hợp lý và coi trọng công năng, là xu hướng phát triển mạnh mẽ sau đó.
Cũng ở thời kỳ này, trên khu vực “phố Tây”, tầng lớp thị dân giàu lên hoặc những công chức làm việc cho Pháp đã cải tạo và xây dựng ngôi nhà của mình, có mặt ngoài cũng như bên trong sao chép theo kiến trúc cổ điển của vùng Paris; với các thức cột, vòm cuốn, các trang trí, tường hoa chắn mái…

Dấu ấn kiến trúc đặc trưng của giai đoạn 1873-1954 nổi bật là:
Thành phố Hà Nội đã thay đổi từ một đô thị truyền thống tiêu biểu của Việt Nam sang một đô thị theo kiểu phương Tây với những kỹ thuật và vật liệu xây dựng mới. Từ khu nhượng địa và khu thành cũ đã nhanh chóng nối với nhau bằng một “khu phố Tây” trở thành bộ phận quan trọng trong cấu trúc đô thị, đường phố theo kiểu ô cờ khác hẳn với khu 36 phố phường, có không gian khoáng đạt khá thích hợp với khí hậu nhiệt đới. Kiến trúc Thăng Long Hà Nội từ chỗ không có ranh giới với nông thôn đến hình thành sự cách biệt rõ ràng. Các kiến trúc theo phong cách thịnh hành ở châu Âu thời đó như Phục hưng, Cổ điển Pháp, Gô tích, Rô-măng cho tới dòng phong cách Kiến trúc Đông Dương sau này được sử dụng cho nhà hành chính, văn hoá cũng như cả cho nhà ở (biệt thự) đã tạo cho kiến trúc Hà Nội có một sắc thái riêng. Nhờ sự bố trí hợp lý và khống chế chặt chẽ chiều cao khoảng 3 tầng, cùng với một hệ thống cây xanh trên nhiều đường phố và vườn hoa hồ nước và các di tích đã tạo nên sự hài hoà giữa con người, công trình và thiên nhiên.
Cùng với kiến trúc của 36 phố phường được sắp xếp và xây mới nhiều chỗ, hệ thống các đền chùa và di tích kiến trúc cổ còn giữ lại được từ đầu thể kỷ. Các nhà máy kho tàng, cầu đường, các làng nghề và nông nghiệp ven đô… Hệ thống đô thị Hà Nội đã hiện rõ lên với những khu đặc trưng cơ bản, tạo được những cảnh quan đô thị khá ấn tượng. Cùng với đô thị, rất nhiều công trình kiến trúc đã trở thành những di sản quý giá, cần thiết phải gìn giữ bảo tồn.


3. KIẾN TRÚC, ĐÔ THỊ  HÀ NỘI TỪ NĂM 1954 ĐẾN NAY
3.1. Kiến trúc Hà Nội thời kỳ 1954 – 1965
Sau Giải phóng, thủ đô Hà Nội bắt tay vào cải tạo và xây dựng kinh tế trong bối cảnh đất nước còn bị chia cắt hai miền. Địa giới Hà Nội mở rộng, từ 1.500 ha năm 1954 tăng lên 2000 ha  năm 1959, với dân số năm 1960 là 638.000 người.
Với phương châm “Thích dụng, tiết kiệm, vững chắc hợp với mỹ quan trong điều kiện có thể”. Kiến trúc Hà Nội trong những năm khôi phục kinh tế (1955 – 1957) tiếp theo là cải tạo và phát triển kinh tế (1958 – 1960) và kế hoạch dài hạn (1960 -1965) đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhưng cũng không ít mặt còn hạn chế.
Ngay sau khi giải phóng, một số khu ở một tầng, hai tầng chủ yếu bằng gỗ mái ngói ở bờ sông. Tất cả có căn hộ đơn giản ở nhà chính, bếp và vệ sinh tắm giặt chung ở nhà phụ phía sau, là những kiến trúc có tính chất tạm thời, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của cán bộ công nhân viên. Từ 60 – 65 bắt đầu xây dựng khu nhà ở Kim Liên, lần đầu tiên nhà ở được lắp ghép theo hình thức tấm nhỏ với sự trợ giúp của chuyên gia Triều Tiên, có bố cục theo hình thức tiểu khu và khu nhà ở, phương thức thịnh hành ở các nước xã hội  chủ nghĩa (XHCN).
Khu nhà ở Nguyễn Công Trứ được xây dựng trên khu đất 6 ha, toàn khu ở được 4.200 người theo phân phối khoảng 4m2/người. Mỗi nhà gồm 2 đơn nguyên, các căn hộ dùng chung khu bếp và khu vệ sinh.
Nhiều công trình hành chính và ở trụ sở cơ quan trường học được xây dựng. Trước hết là những công trình xây dựng cấp tốc, sử dụng ngắn hạn với giải pháp kiến trúc và vật liệu xây dựng vô cùng giản dị, nhưng không ít sự tinh tế và khéo léo trong bố cục, như lễ đài Ba Đình, Nhà hát Nhân dân … Các công trình kiên cố vào thời kỳ này chủ yếu có kết cấu tường  gạch chịu lực, sàn bê tông đổ tại chỗ như Trụ sở Tổng cục Thống kê, Học viện Thuỷ lợi, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc…

3.2. Kiến trúc Hà Nội thời kỳ 1965 – 1986
Trong những năm1970 – 1971 Hà Nội đã triển khai thể nghiệm nhà lắp ghép  tấm lớn bằng khung chèn vật liệu nhẹ và thiết kế căn hộ ở khép kín với tiêu chuẩn tối thiểu tại Yên Lãng và Trương Định. Tiếp theo đó là mẫu nhà tấm lớn bê tông đúc tại hiện trường cho căn hộ nhà chung cư khép kín. Đây là những thí điểm có tính chất ngòi nổ cho tất cả các dạng nhà lắp ghép tấm lớn được phát triển sau đó trên toàn miền Bắc, một xu thế mà vào thời bấy giờ được ưu tiên số 1 trong xây dựng nhà ở của các nước XHCN.
TL71 là mẫu nhà cơ bản 5 tầng được áp dụng tại các khu ở theo dạng tiểu khu như Khương Thượng,  Trung  Tự, Giảng Võ, Vĩnh Hồ, Thành Công cùng với các biến thể của nó  TL.73, TL.76 được sử dụng cho đến cuối thập kỷ 80 ở Hà Nội. Tiếc rằng việc nhắc lại quá nhiều loại nhà tấm lớn này, khi sự nghiên cứu chưa tới mức hoàn thiện, cả về kiến trúc lẫn cấu tạo, đã gây nên một sự nhàm chán đơn điệu và dần hình thành một tâm lý tiêu cực.
Từ 1980 – 1986 xây dựng nhà ở tăng dần và sôi động hơn. Năm 1984 đạt 125.000m2. Các kiểu nhà xây dựng tại Thanh Xuân  đã tạo được sự đa dạng trong kiến trúc với 5 loại hộ 16, 27, 32, 35 và 40m2 đảm bảo độc lập và khép kín.
Hàng loạt các công trình văn hoá và thể dục thể thao, trụ sở cơ quan, trường học, nhà trẻ, bệnh viện… đã được cải tạo và xây dựng mới ảnh hưởng nhiều bởi tiêu chuẩn, kiến trúc các nước XHCN. Thời gian gần đây người ta đã tiến hành sửa chữa, thay thế một số. Tiếc rằng, những sự đắp điếm mới đã làm hỏng đi đặc trưng kiến trúc công cộng của một thời kỳ, lẽ ra phải cố gắng giữ gìn như là một món quà của các nước XHCN, một dấu ấn không quên.
Dấu ấn đặc trưng của kiến trúc Hà Nội giai đoạn 1954-1986 là:
Đô thị được quy hoạch kiến trúc theo mô hình của các nước XHCN: khu nhà ở, tiểu khu nhà ở (tương đương quận và phường bây giờ) với hệ thống phục vụ công cộng xã hội tầng bậc ba cấp: cấp thành phố – cấp khu – cấp tiểu khu…. Đây là mô hình tổ chức quy hoạch kiến trúc có nhiều ưu điểm và tỏ ra khá thành công ở một số nước XHCN phát triển, mạnh về tổ chức và quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá, tập trung bao cấp. Khi áp dụng vào Hà Nội, Việt Nam với điều kiện kinh tế mới khôi phục sau chiến tranh chống pháp lại phải lao vào cuộc chiến tranh mới chống phá hoại leo thang của đế quốc Mỹ nên không tránh khỏi những thiếu sót tồn tại, thể hiện ở sự mất cân đối , thiếu đồng bộ trong quy hoạch, sự đơn điệu nghèo nàn và có phần cứng nhắc trong kiến trúc…
Song tất cả những cái đó cũng không thể làm phai mờ hay giảm đi những giá trị, những dấu ấn tốt đẹp mà nó để lại. Chúng ta sẽ mãi ghi nhận kiến trúc Hà Nội những năm tháng 54-86 như những nét phác kiến trúc hồn nhiên, trong sáng của một nền kiến trúc mới chuyển mình, chưa từng trải, chưa được vật lộn thử thách. Điều tốt đẹp ở nó mà ngày nay khó có thể tìm thấy, đó là sự trật tự ngăn nắp trong tổ chức không gian kiến trúc, một cơ sở nền tảng cho vẻ đẹp đô thị hiện đại, một dấu son mà cho đến bây giờ chúng ta vẫn phải ngoái lại tìm kiếm và tiếc nuối.


3.3. Lịch sử Kiến trúc đô thị Hà Nội từ 1986 đến nay
Đất nước chuyển mình xoá bỏ cơ chế bao cấp, chấp nhận kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, Hà Nội cùng cả nước tiến hành công cuộc Đổi mới, kiến trúc đô thị đã có những bước phát triển vượt bậc về quy mô, loại hình, tạo một sắc diện mới cho Thủ đô nghìn năm tuổi. Nhằm tập trung sức lực cho việc xây dựng Thủ đô Hiện đại hoá – Công nghiệp hoá. Năm 1991, Quốc hội ra Nghị quyết thu hẹp địa giới hành chính, diện tích Hà Nội còn lại 921 km2.
Trong bước đường phấn đấu để trở thành “trái tim của cả nước, trung tâm đầu não về chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế” (Nghị quyết 15/BCT và Pháp lệnh Thủ đô). Hà Nội đã có những chuyển biến tích cực trong việc tạo dựng nhiều khu đô thị mới, mở mang hệ thống phục vụ công cộng văn hoá xã hội, góp phần tích cực phát triển kinh tế đất nước. Song cũng tồn tại khá nhiều bất cập về phân bố dân cư, cơ cấu lao động, về phát triển không gian đô thị thiếu cân bằng, về nguy cơ xuống cấp xâm hại môi trường, về sự bế tắc trong xử lý hệ thống giao thông…mà một trong những nguyên nhân của các tồn tại trên là Hà Nội không đủ quỹ đất, hay nói cách khác là chiếc áo 921km2 đã tỏ ra quá chật.
Chiều ngày 29-5-2008 với số phiếu đồng thuận rất cao: 92,9%, Quốc hội đã quyết định một việc hệ trọng, mang ý nghĩa lịch sử trọng đại là mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội. Theo Nghị quyết, Hà Nội “mở rộng” có diện tích 334.470 ha-gấp 3,6 diện tích hiện nay, dân số 6 triệu người, bao gồm 27 đơn vị hành chính quận huyện, 575 đơn vị xã phường, thị trấn. Đây là cuộc thay đổi chuyển mình vĩ đại trong lịch sử phát triển Hà Nội. Triển vọng to lớn, song thách thức cũng không hề nhỏ. Tám mươi triệu con dân đất Việt mong muốn về một Hà Nội mở rộng hồi sinh những giá trị trong quá khứ và mạnh mẽ hướng tới tương lai. Hà Nội phải trở thành một Thủ đô phát triển ổn định bền vững, đạt hiệu quả cao trên cả ba lĩnh vực kinh tế – xã hội – môi trường, là đô thị phát triển thịnh vượng, có sức cạnh tranh trong nước, khu vực và quốc tế, có chất lượng cuộc sống tốt, quản lý tốt và có nền tài chính tốt.


Nhìn nhận và đánh giá kiến trúc công trình trong thời gian 1986 đến nay có thể thấy rõ sự thay đổi mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực, từ nhà ở cho tới các loại hình nhà công cộng phục vụ đời sống văn hoá xã hội.
Sau nhiều năm bao cấp, lần đầu tiên người dân Hà Nội tự bỏ tiền xây nhà cho mình, hoặc cải tạo sửa sang nơi đang ở, dỡ bỏ những che chắn. Nhà cửa đua nhau mọc lên, người ta tranh thủ sự buông lỏng quản lý, lợi dụng những quy định chưa rõ ràng, tranh thủ những mảnh đất trống, ai cũng muốn vươn ra mặt đường, tận dụng chỉ giới, cố gắng vươn rộng ở phía trên cao. Một khung cảnh hỗn độn xây dựng không phép với các hình thức tuỳ tiện, nguy cơ của những khu ở bất quy tắc kiểu mới. Giải pháp xây dựng nhà ở bằng kiểu quy hoạch chia lô tồn tại một thời gian khá dài, có ưu điểm là huy động tối đa vốn của dân và nhanh chóng hình thành bộ mặt đô thị, nhưng vì thiếu nghiên cứu, không hướng dẫn, buông lỏng quản lý, không quan tâm đến các dịch vụ đô thị khác ….đã tạo ra những tuyến phố lộn xộn, kém thẩm mỹ, ít kinh tế trong xây dựng, lãng phí đất đô thị, dịch vụ ít thuận tiện, mặc dầu không ít nhà được thiết kế khá tốt.
Mọi người quay lưng lại với nhà chung cư. Những khu ở tập thể trước đây vốn chất lượng và tiện  nghi thấp, lại thiếu sự quản lý và bảo trì nên nhanh chóng xuống cấp, số người tăng lên, hộ mới tách ra, những ban công, lô gia biến thành chỗ ở, thành khu phụ. Không đủ diện tích, người ta lao dầm thép vươn xa để tạo những chiếc cũi khổng lồ được gọi là  những “chuồng cọp”, đẩy các khu chung cư cũ vào tình trạng chóng bị huỷ hoại hơn.
Nếu như trước năm 1998 chỉ mới từng bước áp dụng mô hình xây dựng nhà theo dự án thì từ đây việc xây dựng nhà ở đã được tập trung chủ yếu vào các khu đô thị mới.  
Số lượng khu đô thị mới được triển khai ngày một nhiều, đây là một giải pháp tất yếu, số lượng chung cư cao tầng xây điểm trên các tuyến phố cũng tăng lên đáng kể. Diện mạo đô thị trở lên khang trang hiện đại. Hà Nội đã có nhiều cơ chế chính sách đầu tư cho nhà ở cao tầng để đáp ứng nhu cầu đa dạng, nhà ở kinh doanh , nhà ở cho đối tượng thu nhập thấp, đối tượng chính sách, nhà bán trả dần…
Bình quân diện tích ở đầu người đến năm 2010 đã là 8m2.
Thời kỳ 1986 đến nay cũng là giai đoạn phát triển nhanh chóng các loại nhà công cộng, được đánh dấu bằng nhiều công trình quan trọng, đa dạng về thể  loại với các công năng khác nhau, có những tìm tòi đáng chú ý: Nhà văn hóa, công trình tưởng niệm, khách sạn, bảo tàng… và hàng lọat các cấp độ trụ sở cơ quan được ra đời.


Những năm cuối thế kỷ 20, kiến trúc nhà công cộng của Hà Nội càng phát triển nhộn nhịp hơn, đầu tư nước ngoài đã tạo cơ hội cho nhiều kiến trúc sư nước ngoài được thiết kế các công trình ở Hà Nội. Đó là các cao ốc văn phòng, khách sạn, Trung tâm thương mại …các Ressot nghỉ dưỡng cao cấp…
Bước vào thập niên đầu của thế kỷ 21, Hà Nội bùng nổ nhà cao tầng: Chung cư, Khách sạn, Office Building…Các chủ đầu tư, các doanh nghiệp lao vào cuộc đua chinh phục các đỉnh cao, các nhà “khủng”: Toà nhà Keng Nam 70 tầng chưa xây xong đã nhanh chóng phải nhường kỷ lục cao nhất cho các toà nhà của Tập đoàn Dầu khí, Công trình Kinh Bắc 102 tầng (trên đường Phạm Hùng –Khu Mỹ Đình – Hà Nội) sắp khởi công xây dựng.
Hà Nội trở thành thị trường nhà đất, bất động sản sôi động hàng đầu châu Á (có lẽ chỉ đứng sau Trung Quốc) đã thu hút các tập đoàn đầu tư lớn trên thế giới và trong khu vực kéo theo sự tham gia tư vấn thiết kế của các kiến trúc sư lừng danh hàng đầu thế giới.
Các sáng tác của KenzoTange, Von Gerkan, Tadao Ando, Norman Foster, Renzo Piano đã xuất hiện trong các cuộc thi quốc tế sáng tác các công trình tại Hà Nội và chắc chắn trong tương lai chúng sẽ là những biểu tượng, những Landmark của Hà Nội để khách du lịch thế giới tìm đến…
Khu phố cổ Hà Nội (36 Phố phường), qua thời gian dài của thời kỳ chiến tranh và kinh tế bao cấp nói chung ít sự biến động lớn. Bước sang thời kỳ kinh tế thị trường sự xâm hại ngày một trở nên đáng lo ngại. Mỗi ngày, người ta chứng kiến những giá trị văn hoá trước hết là những di sản kiến trúc mất đi một cách công khai, không thể cứu vãn. Nhiều hội thảo, nhiều kiến nghị, đề xuất để gắng tìm những giải pháp khả thi. Thành phố thành lập Ban quản lý phố cổ, công việc điều tra nghiên cứu, lựa chọn giải pháp, soạn thảo quy chế, kiểm soát việc xây lại hoặc sửa chữa trong toàn khu…. đã tiến hành khá tích cực, nhưng xem ra chưa đáp ứng được những mong muốn. Trong suốt cả một thời gian dài của phố cổ, Hà Nội với sự giúp đỡ của thành phố Toulouse (Pháp) chỉ mới trùng tu lại một cách bài bản được vài ngôi nhà ở 58  phố Mã Mây, 38 Hàng Đào và ở 52 Hàng Bạc…. Trong lúc đó nhiều nhà vẫn xây cao 4-5 tầng, với kiến trúc mới, hoặc sửa chữa lại nhà cũ một cách tuỳ tiện. Nhiều công trình thờ cúng tín ngưỡng và nhà ống quý giá đang mục nát hư hỏng. Mật độ dân số quá cao và tình trạng chưa có được sự đồng thuận giữa người ở và chính quyền thành phố về việc bảo tồn tôn tạo khu phố cổ đang là những khó khăn cơ bản không dễ gì giải quyết.
Hà Nội có một di sản văn hoá phong phú, trong đó thắng cảnh và di tích lịch sử giữ vai trò quan trọng. Những năm gần đây nói chung công tác bảo tồn, tôn tạo các di tích đã được quan tâm chú ý nhiều hơn.


Dấu ấn kiến trúc tích cực của giai đoạn 1986 đến nay dễ dàng nhìn thấy là:
 – Bộ mặt kiến trúc đô thị Hà Nội khang trang hơn, đẹp đẽ hơn, hiện đại hơn.
– Nhà ở và các loại nhà công cộng phục vụ đời sống nhân dân Thủ đô ngày một tăng mạnh về số lượng, phong phú đa dạng về chủng loại và nâng cao đáng kể về chất lượng đã góp phần cải thiện và phát triển đời sống vật chất và tinh thần của dân Thủ đô.
– Trình độ tư vấn thiết kế và công nghệ xây dựng ngày một tiến bộ từng bước hội nhập khu vực và quốc tế, trong đó không ít các công trình kiến trúc của các tác giả trong nước và ngoài nước đã vươn kịp tầm quốc tế, khu vực cả về kỹ thuật lẫn nghệ thuật.
Những dấu ấn tiêu cực cũng không khó để nhận ra: Sự phát triển quá nhanh của kinh tế thị trường dẫn tới sự bùng nổ tới mức mất kiểm soát của kiến trúc quy hoạch mà nguyên nhân chính là sự yếu kém trong quản lý xây dựng.
– Sự phát triển ồ ạt của nhà ở dân tự xây đã khiến bộ mặt đường phố Hà Nội vượt quá ranh giới của sự phong phú đa dạng ban đầu chuyển sang sự hỗn loạn bất quy tắc. Bức tranh đô thị bên cạnh những mảng màu tươi sáng vẫn còn xen lẫn những mảng xám tối không nhỏ.
– Sự yếu kém năng lực và đạo đức nghề nghiệp của một số kiến trúc sư cộng với trình độ hiểu biết hạn chế về thẩm mỹ kiến trúc của một bộ phận người dân, chủ đầu tư và cả nhà quản lý đã dẫn tới không ít các công trình kiến trúc nhà ở, công sở…mang biểu hiện của bệnh hình thức nhại cổ, hoặc cóp nhặt lai căng, nhố nhăng trưởng giả.
– Công tác bảo tồn và phát huy giá trị những di sản kiến trúc chưa được coi trọng, việc nghiên cứu bản sắc dân tộc trong kiến trúc chưa tìm được hướng đi. Phát triển chưa đi đôi với bảo tồn dẫn tới những sai lầm đáng tiếc mà con cháu chúng ta sẽ phải trả giá sau này.


4.  THAY LỜI KẾT
Qua mười thế kỷ dựng xây phát triển có lúc thăng, lúc trầm nhưng Kiến trúc, quy hoạch Hà Nội ngày càng rạng rõ và mang những đặc trưng nổi bật:
– Kiến trúc, đô thị nương tựa, gắn kết, hài hòa với thiên nhiên, kiến trúc gắn bó hữu cơ với mạng lưới sông, hồ, cây xanh.
– Quy hoạch, kiến trúc Hà Nội thể hiện nhiều sắc màu của thời gian và không gian. Còn in dấu những kiến trúc từ thế kỷ 11 và xa xưa hơn nữa, ngoài những kiến trúc truyền thống kiến trúc Hà Nội còn có sự góp mặt của kiến trúc phương Tây, phương Đông. Tuy có lúc, có nơi còn có độ vênh thậm chí đối nghịch trong kiến trúc nhưng nhìn chung về tổng thể cơ bản là hài hòa, tương hỗ nhau. Tạo nét đa dạng nhưng rất riêng của đô thị đầy ắp những sự kiện lịch sử, văn hóa.
– Kiến trúc Thăng long – Hà Nội từ không có ranh giới với nông thôn đến khi có sự cách biệt rõ ràng đầu thế kỷ 20 rồi càng mờ đi và mở rộng nhanh chóng những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 bởi quá trình đô thị hóa đang diễn ra rất mạnh.
Kiến trúc, đô thị Hà Nội hơn lúc nào hết đang trưởng thành nhanh chóng nhưng do có lúc còn vội vã, chưa suy tính kỹ nên đã để lại không ít những “vết thương” khó lành. Trước xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế và sự phát triển mọi mặt của Hà Nội nói riêng, Việt Nam nói chung, Kiến trúc đô thị Hà Nội đang đứng trước những thời cơ mới và cả những thách thức lớn. Hàng loạt các vấn đề đang đặt ra cần giải quyết: Bảo tồn và phát triển; Cải tạo và phát triển; Cân bằng và sinh thái; Hiện đại và bản sắc, ……Đó là những cặp phạm trù hệ trọng mà người làm quy hoạch kiến trúc phải quan tâm tới nếu muốn giải quyết tốt mối quan hệ giữa các mặt đối lập trong một sự vật phát triển.
Mở rộng Thủ đô cùng cương lĩnh, mục tiêu  phát triển đô thị bền vững sẽ định dạng sự phát triển đô thị cũng như hình thể và linh hồn của Thành phố. Nó cần được đặt trong mối quan hệ với quốc tế, quốc gia và đặc biệt với Vùng Hà Nội.
Mở rộng và phát triển Hà Nội cần vận dụng sáng tạo lý thuyết về phát triển đô thị tiên tiến trên thế giới, phải phù hợp với quy luật khách quan và tiến trình phát triển của đô thị trong mối quan hệ hài hoà với phát triển của đất nước.
Hơn lúc nào hết, mong muốn về một Hà Nội mở rộng có sự hồi sinh những giá trị của quá khứ, song mạnh mẽ hướng về tương lai càng cháy bỏng trong mỗi người con dân Hà Nội – Việt Nam. Nó kêu gọi nhiệt huyết và trách nhiệm của giới kiến trúc và cộng đồng xã hội hãy chung vai, sát cánh xây dựng Thủ đô tươi đẹp bền vững cho con cháu muôn đời.

GS.TS.KTS Nguyễn Việt Châu