50 năm kiến trúc Việt Nam (1975 -2025)

Năm 2025, tròn 50 năm đất nước thống nhất – Dấu mốc quan trọng đối với đất nước và các ngành, trong đó có kiến trúc. Sau 50 năm với gần 40 năm mở cửa và hội nhập quốc tế, bộ mặt kiến trúc đô thị và nông thôn ở nước ta thay đổi nhanh chưa từng có, với những thành công nhưng vẫn tồn tại những hạn chế, bất cập. Đây là dịp cần thiết để tổng kết, đánh giá toàn diện, khách quan và khoa học vì tương lai của kiến trúc nước nhà.

Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá thực trạng phát triển kiến trúc với cách tiếp cận thực chứng và liên ngành từ sáng tác đến nghiên cứu lý luận, mà chưa đề cập đến công tác đào tạo kiến trúc sư (KTS). Trên cơ sở đó, phát huy những xu hướng, phong cách kiến trúc phù hợp với văn hóa dân tộc để phát triển kiến trúc Việt Nam đương đại có bản sắc, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, đúng với Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị Khóa XI về “Xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới”.

Hình 1. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(KTS Nguyễn Ngọc Chân) [14]

Bối cảnh chính trị, kinh tế – xã hội và kiến trúc Việt Nam giai đoạn 1975 – 2025

Giai đoạn 1975 – 2025, đất nước trải qua nhiều biến cố, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có kiến trúc.

Hiệp định Geneve 1954, chia đất nước thành hai miền. Đến trước năm 1975, những KTS thuộc thế hệ đầu tiên của cả hai miền đều ý thức sâu sắc về văn hóa và truyền thống dân tộc nên đã có những sáng tạo mới trên nền văn hóa dân tộc. Ở miền Bắc, là xu hướng kiến trúc hiện đại xã hội chủ nghĩa (XHCN). Ở miền Nam là xu hướng hiện đại nhiệt đới hóa.

Từ năm 1986, công cuộc đổi mới, hội nhập đã thúc đẩy kinh tế phát triển, theo đó nhu cầu xây dựng tăng cao, giới KTS có nhiều cơ hội hành nghề cùng với sự tham gia của KTS nước ngoài. Năm 2019, Luật Kiến trúc và Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam ra đời, tạo điều kiện thuận lợi cho kiến trúc phát triển. Kiến trúc hiện đại Việt Nam đang từng bước định hình theo hướng tiệm cận với thế giới, nhưng vẫn chưa khẳng định được bản sắc riêng. Vì thế, không chỉ say nghề mà còn vì danh dự quốc gia, các KTS vẫn miệt mài sáng tạo cho tương lai của kiến trúc Việt Nam hiện đại và bản sắc – Để có thể sánh cùng với kiến trúc thế giới.

Kiến trúc Việt Nam giai đoạn 1975 – 2025

Nhận diện kiến trúc Việt Nam giai đoạn 1975-2025 là dựa vào nghiên cứu, khảo sát các công trình kiến trúc (tác phẩm) và KTS (tác giả) tiêu biểu, qua đó thể hiện các xu hướng và phong cách kiến trúc.

1. Xu hướng kiến trúc hiện đại

Xu hướng kiến trúc Hiện đại xuất hiện ở nước ta từ trước năm 1975 ở cả hai miền. Miền Nam, do hội nhập sâu rộng với thế giới nên kiến trúc có sự đa dạng và bản sắc, mà tác giả Mel Schenck trong cuốn sách “Southern Vietnamese Modernist Architecture” nhận xét: Sài Gòn – TP HCM là “Bảo tàng của kiến trúc hiện đại thế giới”. Kiến trúc Hiện đại tiếp tục là xu hướng chủ đạo với các phong cách:

a. Phong cách hiện đại bản địa

Đây là phong cách xuất hiện từ thời Pháp thuộc, có sự kế thừa, sáng tạo và phát triển cho đến nay. Ban đầu, kiến trúc hiện đại bản địa dựa trên nguyên tắc tạo hình kiến trúc hiện đại, thoát ly các thức kiến trúc cổ điển, nhưng vẫn giữ tỷ lệ và quy luật đối xứng kiểu cổ điển trong tổ hợp kiến trúc cùng với hành lang, hàng hiên, mái rộng, mảng gạch ô thoáng (cloustras) hoặc thanh, tấm che nắng (brise-soleil) để thông gió bên cạnh việc sử dụng các hoa văn trang trí truyền thống. Phong cách Hiện đại bản địa đạt được thành công ở miền Nam với tên gọi là Kiến trúc hiện đại nhiệt đới hóa. Ví dụ: Dinh Độc Lập, nay là Hội trường thống nhất (KTS Ngô Viết Thụ, 1961-1966); Thư viện Quốc gia Sài Gòn, nay là Thư viện Khoa học tổng hợp TP. HCM (KTS Nguyễn Hữu Thiện và Bùi Quang Hanh, 1968-1972), Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc, nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (KTS Nguyễn Ngọc Chân); Trường ĐH Bách khoa Hà Nội (KTS Liên Xô),… (Hình 1,2)

Hình 2. Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM
(KTS Nguyễn Hữu Thiện, KTS Bùi Quang Hanh) [5]
Từ sau năm 1986, chính sách Đổi mới và hội nhập đã tạo điều kiện thuận lợi cho kiến trúc phát triển nhanh và đa dạng. Triết lý của Kiến trúc nhiệt đới hóa vẫn tiếp tục ảnh hưởng tới tư duy sáng tạo của KTS, đã và đang làm sâu sắc và đa dạng phong cách Hiện đại bản địa. Tiêu biểu là công trình như: Cung Thiếu nhi Hà Nội (KTS Lê Văn Lân); Nhà ở UNDP; Khu Ngoại giao đoàn (KTS Nguyễn Khôi Nguyên); Trung tâm Hội nghị quốc tế (KTS Nguyễn Thúc Hoàng, Đặng Kim Khôi, 1997); Nhà hát Hòa Bình (KTS Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thành Thế, 1980); Hội trường Trường ĐH Cần Thơ (KTS Huỳnh Kim Mãng, 1980); Khoa tiếng Pháp, ĐH Quốc gia Hà Nội (KTS Pháp) (Hình 3,4,5),…

Hình 3. Cung Thiếu nhi, TP Hà Nội (KTS Lê Văn Lân) [5]

Những năm gần đây, yếu tố địa phương đang được các KTS, đặc biệt là KTS trẻ đẩy mạnh khai thác. Theo hướng này, bản sắc địa phương được cảm nhận rõ nét hơn. Vì thế, nhiều tác phẩm kiến trúc đã đoạt các giải thưởng cao trong nước và quốc tế. Điều đó không chỉ khích lệ sáng tạo kiến trúc mà còn đặt nền móng cho sự hình thành xu hướng kiến trúc bản địa mới với các phong cách kiến trúc địa phương.

Về lý luận, kiến trúc bản địa mới là sự kết hợp kiến trúc nhiệt đới hóa với kiến trúc theo Chủ nghĩa Ngữ cảnh (Contextual architecture) nhằm tạo đặc trưng bản địa với hai cách tiếp cận mô phỏng và tiếp biến truyền thống. Nghĩa là, công trình phải phù hợp với ngữ cảnh (nơi chốn), hướng đến sự tiếp nối và bổ sung truyền thống trong bối cảnh thời đại mới. Những công trình đầu tiên theo xu hướng bản địa mới là: Bảo tàng Hồ Chí Minh (KTS Isakovich) – một sự biến đổi kiến trúc phù hợp với truyền thống Việt Nam; công trình cải tạo chợ Đồng Xuân (KTS Lê Văn Lân) với sự tiếp nối cái mới trên cái cũ; Khách sạn Sài Gòn – Mũi Né (KTS Nguyễn Văn Tất) được sáng tạo từ cảm hứng nhà ở dân gian…

Từ những năm 2010, xuất hiện nhiều công trình góp phần định hình rõ hơn xu hướng kiến trúc bản địa mới. Tiêu biểu là: Nhà cộng đồng Cẩm Thanh – Hội An (KTS Hoàng Thúc Hào, 2015); Nhà thờ Ka Đơn (KTS Vũ Hương); Bb Home (H&P Architects); Nhà nguyện (a21 studio); Tòa nhà VUUV (KTS Vũ Hoàng Sơn và Vũ Hoàng Hà); Nhà ở Bắc Hồng (Lab Concept)… (Hình 6,7)

Hình 6. Công trình cải tạo chợ Đồng Xuân (KTS Lê Văn Lân)

Hình7. Nhà cộng đồng Cẩm Thanh, Hội An
(KTS Hoàng Thúc Hào) [5]
b. Phong cách High – tech

Kiến trúc cao tầng thường được thiết kế theo phong cách High-tech với việc áp dụng công nghệ xây dựng tiên tiến, từ kết cấu đến vật liệu. Đây là kiến trúc hiện đại quốc tế, nhưng ở Việt Nam, các KTS (trong nước và quốc tế) mong muốn tạo nên phong cách High-tech Việt Nam và đã đạt được những thành công nhất định. Ví dụ: Kho bạc Nhà nước TPHCM (KTS Nguyễn Trường Lưu); Tháp Bitexco – TP HCM; Khách sạn J.W Marriott Hà Nội (KTS Carlos Zapata); Tháp Lotte Hà Nội (do KTS Hàn Quốc thiết kế); Landmark và các công trình siêu cao tầng khác (Hình 8,9)…

Hình 8. Kho bạc Nhà nước ở TP. HCM
(KTS Nguyễn Trường Lưu) [5]
Hình 9. Tháp Bitexco ở TP. HCM (KTS Carlos Zapata) [5]
Có thể khẳng định phong cách High-tech là phong cách phổ biến, đang thu hút sự quan tâm của các KTS ở nước ta. Vì vậy, việc đánh giá thành công và hạn chế của phong cách này có ý nghĩa quan trọng.

c. Phong cách Hiện đại mới

Phong cách Hiện đại mới hướng về yếu tố công năng và tính khúc chiết trong tạo hình. Ban đầu, theo kiểu Bauhaus và Xô Viết, về sau đa dạng hơn. Những công trình tiêu biểu là: Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô, Hà Nội (KTS Liên Xô); Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội (KTS G. Isacovic, 1989); Khu công nghệ phần mềm ĐH Quốc gia TPHCM (KTS Trần Thanh Bình); Tòa nhà Văn phòng Torseco, Hà Nội (KTS Hồ Thiệu Trị); Trường PTTH Hà Nội – Amsterdam (KTS Nguyễn Tuấn Anh); Khách sạn Century – Huế (KTS Ngô Viết Thụ, năm 1990); Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Huế (KTS Nguyễn Thúc Hoàng, năm 2000); Trụ sở UBND tỉnh Nghệ An (KTS Phan Đăng Sơn, năm 2014); Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Bảo tàng Hà Nội, Nhà Quốc Hội (KTS Von Gerkan); Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành – Bình Định (KTS Jean Milou, năm 2013),… (Hình 10,11,12)

Hình 10. Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô, Hà Nội (KTS Liên Xô) [5]

d. Phong cách Biểu hiện

Kiến trúc biểu hiện theo hướng thiên nhiên hóa kiến trúc, có các công trình như: Nhà trăm mái (KTS Lữ Trúc Phương); Biệt thự Hằng Nga (KTS Đặng Việt Nga); hay nhấn mạnh tính biểu tượng ở các công trình tưởng niệm như: Đài tưởng niệm Bắc Sơn, Hà Nội; Đài tưởng niệm Tuyên Quang (KTS Lê Hiệp); Đài tưởng niệm đôi bờ Hiền Lương (KTS Nguyễn Tiến Thuận),… ; hoặc tập trung vào việc tạo ấn tượng như: Công trình Cầu Vàng – Đà Nẵng (KTS Nguyễn Việt Anh); hay khai thác kiến trúc truyền thống như Bảo tàng Đăk Lăk (KTS Nguyễn Tiến Thuận); Bảo tàng thế giới cà phê – Buôn Ma Thuột (Studio A21) khai thác nhà dài của dân tộc Êdê (Hình 13,14,15).

Hình 13. Biệt thự Hằng Nga, Đà Lạt (KTS Đặng Việt Nga) [5]

2. Xu hướng Hồi cổ

Xu hướng Hồi cổ hướng đến hai nền kiến trúc rực rỡ trong quá khứ, là kiến trúc cổ điển Pháp và kiến trúc truyền thống Việt Nam.

a. Phong cách Tân cổ điển Pháp

Người Việt Nam đến với kiến trúc Pháp như để tìm một vẻ đẹp thuần túy nghệ thuật. Nhiều trụ sở, biệt thự, chung cư được thiết kế theo kiến trúc cổ điển Pháp. Xu hướng này không thể hiện được sự sáng tạo của KTS và tính thời đại. Các công trình tiêu biểu là: Trụ sở Bộ Tài chính (do KTS người Pháp thiết kế, 2004). Tòa án Nhân dân Tối cao, Hà Nội (KTS. Tosten, Công ty Inros Lackner Se, Đức), các biệt thự dạng lâu đài ở nhiều tỉnh, thành ở miền Bắc,… (Hình 16)

Hình 16. Trụ sở Bộ Tài chính (KTS Pháp, 2004). [5]
b. Phong cách Tân truyền thống

Kiến trúc truyền thống đã được định hình qua hàng ngàn năm lịch sử. Điều đó cho thấy triết lý kiến trúc của tổ tiên có sức sống mãnh liệt. Phong cách Tân truyền thống theo hướng hồi cổ thường gặp trong xây dựng mới các ngôi chùa Phật giáo, có quy mô lớn do phải đáp ứng nhu cầu đông người tu tập như: Đại Nam quốc tự – TP. HCM; Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt; Chùa Bái Đính, Ninh Bình; Chùa Tam chúc, Hà Nam; … Vấn đề đặt ra là: Mô phỏng, thậm chí sao chép kiến trúc truyền thống trong công trình mới, cần được xem xét. Tuy nhiên, vẫn có những ví dụ tích cực như: Khu Thái học, Văn miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội (KTS Lê Thành Vinh, 2000) theo hướng chuẩn hóa các thức kiến trúc truyền thống; Tịnh xá (chùa) của hệ phái Khất sĩ thể hiện cô đọng tư tưởng Phật giáo: Bát chính đạo và Tứ diệu đế trong ngôn ngữ kiến trúc truyền thống được cách tân. Đó là chính điện có mặt bằng theo hình bát giác với hệ cột, mái và hàng hiên rộng, trang trí đơn giản mang lại sự gần gũi, phù hợp với khí hậu nhiệt đới; hay gần đây là Tổng thể công trình Phật giáo – Yên tử Legacy (KTS Bill Bensley, 2018) cho thấy tinh thần của kiến trúc truyền thống được khai thác, cách điệu khéo léo hài hòa với cảnh quan thiên nhiên Yên tử,… (Hình 17,18,19)

Hình 17. Khu Thái học, Văn miếu Quốc tử giám, Hà Nội (KTS Lê Thành Vinh) [5]

3. Xu hướng Kiến trúc Xanh

Đây là xu hướng tiến bộ, được ưa chuộng trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu. Theo xu hướng này, các KTS Việt Nam, nhất là KTS trẻ đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế, tiên phong đưa kiến trúc Việt Nam hội nhập với quốc tế. Có thể coi là điểm sáng của kiến trúc Việt Nam đương đại.

Kiến trúc xanh đã được thực hành trong kiến trúc truyền thống nhằm giải quyết hợp lý mối quan hệ hữu cơ giữa Kiến trúc – Con người – Thiên nhiên. Ngày nay được gọi là Kiến trúc xanh thụ động. Đó là quan niệm thiết kế gắn với địa điểm xây dựng (nơi chốn) thông qua việc sử dụng cây xanh, vật liệu địa phương, tiết kiệm năng lượng, thích ứng với khí hậu và tập quán sinh hoạt của người dân. Ngôi nhà ở truyền thống của các dân tộc là ví dụ tiêu biểu. Phát triển theo quan niệm này, nhiều công trình kiến trúc đã thành công, như: Bamboo wing – Flamingo, Vĩnh Phúc; Nhà ở Bình Thạnh (KTS Võ Trọng Nghĩa); Nhà cộng đồng Suối Rè – Hòa Binh; Nhà cộng đồng Nậm Đăm, Hà Giang, Nhà ở công nhân Lào Cai (KTS Hoàng Thúc Hào); M-House (KTS Nguyễn Xuân Minh); Nhà tổ chim (KTS Nguyễn Hòa Hiệp); Vườn vệ sinh (H&P Architects)…

Còn Kiến trúc xanh chủ động là xu hướng liên quan đến sử dụng công nghệ nhiều hơn so với yếu tố văn hóa. Ngôi nhà Đức tại TP. HCM (KTS Von Gerkan) là một ví dụ đầu tiên (Hình 20,21,22).

Hình 20. Bamboo Wing, Flamingo Đại Lải, Vĩnh Phúc (KTS Võ Trọng Nghĩa)

Kiến trúc xanh theo hướng bền vững luôn cần thiết, nhưng làm sao thể hiện được bản sắc văn hóa mới là kiến trúc được đánh giá cao – Đó chính là bản chất của sáng tạo kiến trúc. Vì thế, Kiến trúc xanh theo hướng bền vững đang là một trong những xu hướng kiến trúc hiện đại ở nước ta.

Lý luận và phê bình kiến trúc

Tương tự các lĩnh vực văn học, nghệ thuật khác, lý luận và phê bình kiến trúc (LLPBKT) là lĩnh vực khó bởi tính liên ngành. Đánh giá tình hình LLPBKT là dựa vào khảo sát thực trạng ấn phẩm, so sánh với các công trình kiến trúc tiêu biểu.

1. Ấn phẩm kiến trúc

Những ấn phẩm kiến trúc đầu tiên do người Pháp ở Trường Viễn đông Bác cổ (Ecole Francaise d’Extrême Orient-EFEO) viết từ những năm đầu thế kỷ 20, chủ yếu về lịch sử kiến trúc bản địa. Khi trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập năm 1925, phương châm đào tạo theo hướng hiện đại kết hợp với truyền thống đã được xác định, như họa sĩ Victor Tardieu, Hiệu trưởng đầu tiên đã viết: “Vấn đề là, vừa phải biết tôn trọng các truyền thống mang tính bản địa, vừa phải biết thích ứng với các nhu cầu mang tính hiện đại”. Đây là tư tưởng tiến bộ, nhân văn, tạo niềm tin cho KTS sáng tác kiến trúc hiện đại nhưng không quên truyền thống.

Giai đoạn đất nước bị chia cắt và chiến tranh, ấn phẩm kiến trúc không nhiều. Đáng chú ý là cuốn sách “Chùa Việt Nam” (KTS Nguyễn Bá Lăng) và Tập san Kiến trúc Xây dựng (1961), nay là Tạp chí Xây dựng…

Đất nước thống nhất. Số lượng ấn phẩm tăng nhanh, nhưng về LLPBKT vẫn còn hạn chế. Xuất hiện các tạp chí mới như: Kiến trúc, Kiến trúc Việt Nam, Quy hoạch xây dựng, Đô thị.

Kết quả khảo sát sơ bộ các ấn phẩm kiến trúc cho thấy:

Tổng số là 350 cuốn, trong đó sách lý luận là 49 cuốn (14,4%); Phê bình kiến trúc: 9 cuốn (2,6%); Lịch sử và di sản kiến trúc: 77 cuốn (22,6%); Sáng tác và phổ biến kiến trúc: 205 cuốn (60,4%).

Số bài báo 2.012 bài (100%). Trong đó, chia theo các lĩnh vực: Lý luận kiến trúc – quy hoạch 745 bài, (37%); Phê bình kiến trúc 101 bài, (5%); Di sản kiến trúc 362 bài, (18%); Sáng tác và phổ biến kiến trúc 804 bài, (40%).

2 Đánh giá thực trạng ấn phẩm kiến trúc

Qua kết quả khảo sát sơ bộ có thể nêu nhận xét ban đầu về thành công và hạn chế của các ấn phẩm đối với công tác LLPBKT giai đoạn 1975 – 2025 như sau:

  • Thành công là: Phổ biến những thành quả tiến bộ của kiến trúc thế giới; nâng cao nhận thức về di sản kiến trúc; góp phần định hướng sáng tác.
  • Hạn chế và thách thức là: Giá trị đặc sắc của kiến trúc truyền thống Việt Nam chưa được quảng bá ra thế giới; nội hàm của khái niệm bản sắc kiến trúc chưa được xác định; cơ sở khoa học của lý luận phê bình kiến trúc Việt Nam chưa được hoàn thiện; chưa tạo ra một tư tưởng, quan niệm kiến trúc mới để dẵn dắt sáng tác; LLPBKT chưa là một nghề để được đào tạo chính quy và chưa hình thành một đội ngũ LLPBKT chuyên nghiệp.
  • Về vai trò LLPBKT với sáng tác kiến trúc: Nhìn chung, sáng tác đi trước lý luận và phê bình; sáng tác song hành cùng lý luận và phê bình chỉ mới diễn ra trong lĩnh vực bảo tồn, trùng tu kiến trúc cổ. Lý luận và phê bình về cơ bản chưa dẫn dắt sáng tác.

Kết luận

50 năm qua, kiến trúc Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đa dạng về xu hướng, phong cách và đang từng bước hội nhập với thế giới. Tuy nhiên, để xây dựng một nền kiến trúc hiện đại, bản sắc còn nhiều việc phải làm. Trong đó, việc khảo sát các công trình và ấn phẩm kiến trúc cho phép nhận biết những xu hướng và phong cách kiến trúc tích cực để phát huy cũng như những hạn chế để bổ khuyết.

Trong số các xu hướng, xu hướng kiến trúc hiện đại với các phong cách bản địa, bản địa mới và biểu hiện là những phong cách trọng tâm nên được phát huy. Thực tế cho thấy, đây là các phong cách kiến trúc có sự kế thừa và phát triển tư tưởng kiến trúc của các thế hệ KTS đi trước trong khai thác điều kiện tự nhiên, khí hậu và văn hóa vùng miền. Đồng thời, kiến trúc xanh là xu hướng đang được quan tâm, đã và đang tạo ra những thành công. Trong đó cách tiếp cận kiến trúc xanh thụ động – Tri thức bản địa quý giá rất cần được phát huy, bên cạnh, kiến trúc xanh chủ động – Công nghệ tiên tiến, sẽ là xu hướng kiến trúc được đề cao ở nước ta.

Hy vọng các xu hướng và phong cách kiến trúc này sẽ góp phần tạo nên sự đa dạng và có đặc trưng của kiến trúc hiện đại Việt Nam, tạo nên bản sắc kiến trúc địa phương trong xu thế toàn cầu hóa kiến trúc.

Về LLPBKT, lý luận kiến trúc đã được thế hệ KTS đầu tiên và các thế hệ KTS kế tiếp quan tâm. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu LLPBKT còn thiếu tính hệ thống; đồng thời, chưa có những nhà LLPBKT chuyên nghiệp được đào tạo bài bản. Và như vậy, LLPBKT, trên thực tế chưa thực sự thúc đẩy sáng tác và định hướng phát triển Kiến trúc Việt Nam. Vì vậy trước hết cần xây dựng hệ thống cơ sở khoa học LLPBKT thống nhất, đủ tầm để thúc đẩy sáng tạo kiến trúc cũng như định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam trong thời gian tới. Theo đó, cần có chính sách tập hợp và đào tạo đội ngũ LLPBKT.

Nhìn lại kiến trúc truyền thống, so sánh với nền kiến trúc của Nhật Bản, Trung Quốc – những nước đồng văn, ông cha ta không thua kém về mặt thẩm mỹ và tư tưởng, chỉ có quy mô công trình là nhỏ hơn. Đó là cơ sở, là niềm tự hào để tự tin học bài học của Nhật Bản, Trung Quốc. Chỉ sau 35 năm (Nhật từ 1945 đến 1980, Trung Quốc từ 1976 đến 2012) kiến trúc của họ ngang tầm thế giới với các KTS đoạt giải thưởng Pritzker bằng sự diễn đạt tính hiện đại quốc tế từ sự độc đáo của truyền thống dân tộc.

Để kết luận, có thể khẳng định: Lý luận tư tưởng và thực hành sáng tạo kiến trúc cần luôn đồng hành cùng nhau và quan trọng như nhau.

Kiến trúc Việt Nam hiện đại và bản sắc trong thời gian tới sẽ là sự phát triển kết nối – Vừa phát huy giá trị kiến trúc của quá khứ, vừa cập nhật và tiếp biến hợp lý các giá trị của kiến trúc hiện đại quốc tế.

GS.TS.KTS Nguyễn Quốc Thông
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2025)


Tài liệu tham khảo
1. Trần Trọng Chi, Nguyễn Trực Luyện, Nguyễn Luận, Nguyễn Hữu Thái, Nguyễn Quốc Thông: “Nửa thế kỷ kiến trúc Việt Nam” – NXB Thời đại, 2010
2. Tôn Đại “Xu thế, xu hướng, phong cách kiến trúc Việt Nam đương đại” Tạp chí Kiến trúc số 9/2008.
3. Tôn Đại: “Kiến trúc trong mối quan hệ với các ngành nghệ thuật khác” – NXB Xây dựng, 2020
4. Vũ Hiệp: “Đô thị Việt Nam – Góc nhìn từ những nơi chốn” – NXB Mỹ thuật, 2016
5. Hội KTS Việt Nam: “Hướng tới 50 năm kiến trúc Việt Nam 1975-2025” – Kỷ yếu hội thảo, 2021
6. Đặng Thái Hoàng: “Tủ sách lí luận kiến trúc” – NXB Mỹ thuật, 2016
7. Hoàng Đạo Kính: “Văn hóa kiến trúc” – NXB Tri thức, 2012
8. Nguyễn Mạnh Kiểm: “Bản sắc dân tộc và tính hiện đại trong qui hoạch kiến trúc đô thị, nông thôn” – Tạp chí QHXD số 02/2003
9. Lê Văn Lân: “55 năm kiến trúc Hà Nội” – NXB Thời đại, 2010
10. Nguyễn Luận: “Lí luận và phê bình kiến trúc ở Việt Nam: Sự xa xỉ cần thiết” – Tạp chí Kiến trúc số 12/2004
11. Nguyễn Trực Luyện: “Một vài suy nghĩ về tình hình LL và PB kiến trúc hiện nay” – Tạp chí Kiến trúc số 6/2004
12. Lê Văn Năm: “40 năm quy hoạch và kiến trúc TP. HCM” – TP.HCM, 2015
13. Mel Schenck: “Southern Vietnamese Modernist Architecture” – NXB Thế giới, 2020
14. Đoàn Đức Thành (Hội KTS Việt Nam): “Thế hệ KTS Việt Nam đầu tiên” – NXB Văn hóa Thông tin, 2008
15. Nguyễn Quốc Thông, Doãn Minh Khôi: “Lý luận phê bình kiến trúc ở Việt Nam” – Hội KTS Việt Nam, 2018
16. Nguyễn Mạnh Thu, Phùng Đức Tuấn: “Lý thuyết kiến trúc” – NXB Xây dựng, 2002
17. Nguyễn Tấn Vạn: “Thời của kiến trúc xanh và vật liệu thân thiện với môi trường” – Tạp chí Kiến trúc số 10/2008