Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản kiến trúc, đô thị Việt Nam (giai đoạn 2010-2015)

Bối cảnh kinh tế xã hội và môi trường hoạt động bảo tồn di sản kiến trúc – đô thị
Bảo tồn di tích, di sản là một hoạt động có tính đa ngành và liên ngành, liên quan đến một loạt các vấn đề về lịch sử, văn hóa, xã hội, kỹ thuật – công nghệ truyền thống, kỹ thuật – công nghệ mới… Hoạt động bảo tồn di tích vì vậy rất phức tạp, công phu và tốn kém chi phí hơn nhiều so với hoạt động xây dựng mới (xét ở cùng một quy mô công trình).

1
Đình Chu Quyến

Việt Nam có một hệ thống các di tích lịch sử, văn hoá rất phong phú, dày đặc và đa dạng, trải khắp các vùng miền (theo thống kê của Cục Di sản văn hóa, đến tháng 12/2013, cả nước có khoảng trên 4 vạn di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh). Hệ thống di tích này đã bị xuống cấp khá nặng nề, hầu hết các di tích đều cần được trùng tu, tôn tạo với kinh phí từ vài trăm triệu đến hàng trăm tỷ đồng. Trong giai đoạn 2006-2010, Nhà nước đầu tư 1.635 tỷ đồng cho mục tiêu chống xuống cấp và tôn tạo cho 1198 lượt di tích. Nhưng trên thực tế, kinh phí hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu chỉ chiếm từ 50-80% tổng vốn đầu tư các dự án. Phần còn lại được huy động các nguồn vốn từ xã hội. Tuy nhiên, các nguồn vốn trên mới chỉ đáp ứng 15-20% nhu cầu trùng tu, tôn tạo của hệ thống di tích Việt Nam (nguồn: cinet.gov.vn). Những năm gần đây, trong khó khăn chung của nền kinh tế và xã hội Việt Nam, nguồn lực đầu tư cho hoạt động bảo tồn di tích lại suy giảm. Đây thực sự là một khó khăn lớn khó khắc phục.
Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích lịch sử văn hóa luôn nhận được sự quan tâm của nhà nước và cộng đồng. Nhà nước đã liên tục ban hành và điều chỉnh các văn bản pháp luật về bảo tồn di tích. Luật Di sản văn hóa được ban hành năm 2001, đến năm 2009 đã có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009). Và sau đó là các nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện.

1
Lấy mẫu nấm mốc và khảo sát địa kỹ thuật phục vụ việc lập dự án tu bổ di tích đình Chu Quyến (Hà Nội)

Bên cạnh đó, sự tham gia có kết quả vào các hoạt động quốc tế như tham gia Công ước Di sản thế giới, đề nghị đưa di tích Việt Nam vào danh sách di sản thế giới, tham gia bình chọn kỳ quan thế giới mới… cũng cho thấy sự quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các hoạt động liên quan đến di sản của Nhà nước ta.

Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, luôn phải giải quyết những mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển trong các lĩnh vực văn hóa nói chung và bảo tồn di sản nói riêng. Đặc biệt, đây là vấn đề thường gặp phải đối với các di sản nằm xen lẫn với các khu dân cư, di sản cư trú, di sản đô thị. Bảo tồn di sản đồng thời với phát triển kinh tế, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng cuộc sống… luôn là bài toán khó đặt ra đối với các nhà quản lý và các nhà chuyên môn.

1
Dự án tu bổ đình Chu Quyến được thực hiện để xây dựng những chuẩn mực trong công tác bảo tồn di tích ở Việt Nam

Thực tế hoạt động bảo tồn di sản kiến trúc, đô thị tại Việt Nam
1. Bảo tồn đô thị tại Việt Nam

Bảo tồn công trình kiến trúc đơn lẻ là công việc không còn xa lạ, nhưng khi nói tới bảo tồn đô thị hay cụm dân cư còn nhiều người lúng túng, không biết xác định những giá trị và phương pháp can thiệp vào đô thị như thế nào. Điều này cũng dễ hiểu vì từ mấy trăm năm nay công việc chúng ta thường làm với công trình cụ thể, còn khái niệm bảo tồn đô thị mới xuất hiện trong mấy thập kỷ cuối của thế kỷ 20, trong giai đoạn đô thị bùng nổ và kiến trúc phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá, nảy sinh một thảm họa cho các đô thị bị mất đi bản sắc riêng và mất đi quá khứ của mình.

Bảo tồn đô thị hay cụm dân cư là sự tổng hợp của bảo tồn những giá trị vật chất và phi vật chất, sự bảo tồn này phải nằm trong bối cảnh luôn có những nhân tố mới tác động đến sự biến đổi của đô thị nhưng không làm mất những giá trị gốc. Tại Việt Nam tới nay đã có một số dự án về bảo tồn đô thị hay một cụm dân được thực hiện như ở phố cổ Hội An, khu 36 phố phường Hà Nội, khu trung tâm thị trấn Sa pa và làng cổ Đường Lâm.
– Phố cổ Hội An, khu vực được bảo tồn khoảng trên dưới 2km2 chủ yếu theo ba tuyến phố Bạch Đằng, Nguyễn Thái Học, Trần Phú và Phan Chu Trinh. Công việc bảo tồn ở đây làm khá hiệu quả. Khu phố cổ Hội An có được sự thuận lợi cơ bản là đa phần các nhà cổ đều là sở hữu tư nhân với một chủ và những người dân rất có ý thức trong việc gìn giữ ngôi nhà của ông, cha để lại. Đồng thời sức ép của làn sóng công nghiệp hoá đến sau công việc bảo tồn, nên giá trị của khu phố được khôi phục đúng thời điểm du lịch phát triển. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần quản lý việc xây dựng tại khu vực kề cận để giảm thiểu sự ảnh hưởng tới khu phố cổ.
– Thành phố Huế, rất đáng để lựa chọn để đầu tư vào bảo tồn đô thị với các khu vực rất đặc trưng như khu Đại nội Huế, một quần thể kiến trúc lớn đã được công nhận di sản thế giới; khu Kim Long và Hương Hồ với chùa Thiên Mụ, Văn Miếu, Võ Miếu, nhà vườn; khu Đàn Nam Giao và các Lăng tẩm nhà Nguyễn; khu phố Pháp dọc theo bờ sông Hương. Trong thực tế thành phố đã làm được nhiều việc nhằm giữ gìn các di sản này, nhưng có lẽ còn thiếu một quy hoạch bảo tồn toàn diện và thống nhất cho toàn thành phố.
– Khu phố cổ Hà Nội, hay còn gọi là khu 36 phố phường với diện tích 100ha, đây là cái nôi của đô thị Hà Nội. Cho đến nay không kể những dự án xây dựng và những quy chế về quản lý thì chỉ có một số dự án bảo tồn các công trình đơn lẻ được thực hiện, còn những dự án mang quy mô của bảo tồn đô thị như bao tồn tuyến phố, ô phố hiện mới chỉ nằm trên giấy. Nguyên nhân thì có nhiều, có thể nêu ra mấy nguyên nhân chính sau:
+ Các dự án chỉ được thực hiện như các dự án đầu tư xây dựng thông thường và chủ yếu mới dừng lại ở ý tưởng. Các ý tưởng này chủ yếu dựa trên ý kiến chủ quan của các KTS và nhà quản lý, chưa nghiên cứu sâu những vấn đề xã hội liên quan tới cuộc sống của cư dân nên tính khả thi thấp.
+ Sự phối kết hợp giữa các ngành, ban chưa cao nên trên góc độ thủ tục hành chính còn nhiều mâu thuẫn.
+ Tính pháp lý của việc lập dự án và dự án chưa có, hoặc có cũng chưa cao nên rất khó trong các bước khai triển cũng như phối kết hợp.
+ Các dự án chưa dựa vào cộng đồng.
+ Sự quyết tâm của những người thực hiện chưa cao.
– Đô thị Sa pa, quy chế quản lý (Lào Cai) đã được các nhà quy hoạch – kiến trúc – bảo tồn – quản lý của vùng Aquitaine (CH Pháp) nghiên cứu và từ đó đề xuất các khu vực cần bảo tồn, tôn tạo, đồng thời chỉ rõ các công trình cần bảo tồn trong các khu vực và phương thức bảo tồn như thế nào. Đây là một phương pháp không có gì mới mẻ và phức tạp đối với những ai đã làm công tác bảo tồn, nhưng được trình bày từ những vấn đề chung tới riêng một cách rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và ai cũng có thể tiếp cận. Điều đáng nói ở đây là nó đã được đóng dấu, như vậy có tính pháp lý cao, rất thuận lợi cho công tác quản lý và triển khai chi tiết. Công việc có thành công hay không phải chờ đợi sự triển khai và đặc biệt là công tác quản lý như thế nào.
– Làng cổ Đường Lâm, được công nhận di sản thế giới là một ghi nhận lớn đối với chúng ta. Nhưng hiện nay việc bảo tồn làng cổ đang đứng trước một thách thức lớn là vừa đảm bảo sự bảo tồn vừa đáp ứng được sự phát triển. Trong việc này cần có chính sách, hướng dẫn đi trước, sau đó mới đến các giải pháp về quy hoạch và kiến trúc. Trong soạn thảo chính sách cần chú ý tới khía cạnh quyền lợi kinh tế và vật chất của những người sở hữu di sản, có như vậy mới tạo sự đồng thuận của cộng đồng, một tác nhân quan trong trong bảo tồn đô thị và các điểm dân cư.

1
Đàn Nam Giao, Thành nhà Hồ và cầu Bạch, khu di tích Lam Kinh là những “thất bại” nặng nề trong trùng tu do cách làm tùy tiện, xa rời nguyên lý bảo tồn

2. Đảm bảo sự phát triển bền vững từ góc độ bảo tồn đô thị.
Phát triển bền vững của một đô thị đòi hỏi nhiều lĩnh vực khác nhau cùng nghiên cứu, để từ đó ghép lại xây dựng một chiến lược chung. Trong lĩnh vực chuyên sâu về bảo tồn công trình kiến trúc và đô thị chúng tôi nêu một số vấn đề đã được nghiên cứu trong những năm qua để đóng góp vào việc “Phát triển đô thị Hà Nội hướng tới sự phát triển bề vững“.

Cần hiểu khái niệm bền vững:
“Là sự phát triển phải thoả mãn nhu cầu của con người không chỉ trong giai đoạn hiện tại mà còn cho cả tương lai và phải đáp ứng các yêu cầu kinh tế lẫn bảo vệ môi trường” hay: “Thế hệ hiện tại phải đảm bảo nhu cầu phát triển của thế hệ trong tương lai”. Qua đó cho thấy phát triển bền vững có hai mục tiêu chính:
+ Phát triển kinh tế phải chú ý tới việc sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên (di sản kiến trúc được coi như một dạng tài nguyen không tái sinh) và bảo vệ môi trường.
+ Thế hệ hôm nay phải có trách nhiệm gin giữ cho thế hệ tiếp theo (các thế hệ sau phải được hưởng lợi như các thế hệ trước).
Để thực hiện được hai mục tiêu này, các quốc gia, các nhà chiến lược đã đưa ra nhiều tiêu chí khác nhau nhưng tựu chung có 5 tiêu chí chính như sau:
1. Cần có được bản sắc. Bản sắc ở đây bao gồm tất cả các đặc điểm của đô thị từ vị trí, cảnh quan, cấu trúc đô thị… và các đặc điểm phi vật thể.
2. Cần có tính liên tục và kế thừa. Đô thị phải có lịch sử, các giai đoạn phát triển không nên phủ nhận lẫn nhau.
3. Cần có sự đa dạng, tính mềm dẻo và sự thích ứng. Đa dạng trong các cá thể, trong các tập thể, đa dạng trong nội dung, trong hình thức… đồng thời trong sự phát triển luôn có thay đổi nên cần có sự điều chỉnh để tiếp thu được cái mới nhưng không làm hỏng những cái đã có.
4. Cần có khả năng tự hoàn thiện. Những vấn đề riêng của từng đô thị cần phải do chính đô thị đó giải quyết.
5. Cần sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Phải cân đối nguồn “tài nguyên” ta có với sự sử dụng ngày hôm nay và ngày mai.
Với những mục tiêu và tiêu chí cho sự phát triển bền vững áp dụng vào khía cạnh bảo tồn để nhìn một cách tổng quát về sự phát triển bền vững của Hà Nội, trong đó những khía cạnh về bản sắc, tính liên tục và sự kế thừa cũng như khả năng thích ứng được chú trọng phân tích hơn.

1
Cổng vào khu di tích đền Đinh – Lê (Hoa Lư, Ninh Bình) “khang trang” khác hẳn cổng cũ của di tích vốn rất khiêm nhường, hòa mình vào khung cảnh thiên nhiên xung quanh

3. Những vấn đề bất cập hiện nay đang gặp phải trong việc bảo tồn đô thị Hà Nội:
– Sự phá vỡ cấu trúc truyền thống.
Điều này đang diễn ra rõ nhất ở khu phố cổ, khu phố mang phong cách châu Âu và những làng truyền thống, bởi việc xây dựng khá tuỳ tiện do chưa có thiết kế đô thị một cách rõ ràng và các chỉ số đưa ra còn ít nên thiếu cơ sở cho quản lý thiết kế, quản lý xây dựng. Đồng thời việc áp dụng luật trong xây dựng và bảo tồn còn quá mới mẻ nên người thiết kế, người quản lý chưa theo kịp và sự hiểu biết của người dân còn quá ít đã phần nào phá hỏng cấu trúc truyền thống của đô thị.
– Sự kết nối giữa cục bộ với tổng thể chưa có hiệu quả.
Điều này thể hiện rõ trên những khía cạnh không gian kiến trúc, hình thức kiến trúc, giao thông đô thị. Thực tế cho thấy vấn đề này chưa được chú ý một cách thích đáng và thiếu sự kết hợp đồng bộ giữa các cấp quản lý cũng như các ngành chyên môn, dẫn đến tình trạng từng khu vực nhỏ, từng đọan thì làm khá tốt nhưng khi đấu nối vào hệ thống chung thì kém hiệu quả và bộc lộ nhiều nhược điểm.
– Tính kế thừa và sự liên tục chưa được quan tâm đúng mức .
Nhìn trên bản đồ Hà Nội thấy rõ điểm này trên mạng lưới đường. Giữa khu phố cổ và khu phố mang phong cách châu Âu có sự kết nối của hệ thống đường khá rõ nhưng ở các khu mới như Kim Liên, Trung Tự, Thành Công, Thanh Xuân sự kết nối này chỉ trên một tuyến đường là chính, do đó không thấy sự chuyển tiếp và kế thừa từ mạng lưới ô vuông vốn có nhiều ưu điểm.

Về công trình từ khu phố cổ tới các khu phố mang phong cách châu Âu đều có những công trình khi xây dựng không chú ý tới sự hài hoà chung.

Qua kinh nghiệm của một số nước và qua công việc thực tế ở Việt Nam có thể nêu ra một số điểm chính trong quá trình bảo tồn di sản đô thị cần chú ý:
+ Nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản.
+ Xác định những giá trị, những đặc trưng của đô thị hay cụm dân cư.
+ Lập quỹ di sản, trong đó có hồ sơ đến từng công trình cụ thể.
+ Cần có biện pháp cụ thể cho bảo vệ và bảo tồn di tích ngay từ khi chưa có khả năng tài chính và các khả năng khác để triển khai.
+ Dự án phải đạt được hai kết quả có tầm quan trọng ngang nhau, đó là gìn giữ được các giá trị vật thể, phi vật thể và nâng cao chất lượng sống cho các cư dân trong khu vực bảo tồn.
+ Các dự án phải có ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn đô thị, công trình, khảo cổ, văn hoá … và rất cần ý kiến của cộng đồng cư dân được hưởng lợi từ dự án.
+ Có độ tin cậy của nguồn vốn, trong đó có thể huy động các nguồn khác nhau như vốn của các nhà đầu tư, vốn trong cư dân khu vực bảo tồn, nhưng nguồn vốn nhà nước phải đống vai trò xương sống.
+ Cần có đội ngũ quản lý được đào tạo về khoa học bảo tồn và quản lý .

Công việc bảo tồn đô thị là một công việc rất phức tạp nên sự chuẩn bị cho nó cần có một chiến lược lâu dài và thường xuyên. Giá trị văn hoá lịch sử của đô thị phải được coi là tài sản quốc gia. Có như vậy mới gìn giữ được cho thế hệ mai sau, đây là một khía cạnh của phát triển bền vững.

Bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống di sản kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa.
a. Các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản được nhìn nhận, tổ chức thực hiện, kiểm soát một cách bài bản, chặt chẽ hơn, hướng tới xây dựng các chuẩn mực trong cách tiếp cận và giải quyết vấn đề trong lĩnh vực này.
– Xuất phát từ nhu cầu và mong muốn nâng cao chất lượng và chuẩn mực hóa các hoạt động bảo tồn di tích Dự án thực nghiệm tu bổ, tôn tạo đình Chu Quyến được xây dựng và thực hiện một cách bài bản trên cơ sở các kết quả khảo sát, nghiên cứu toàn diện, kỹ lưỡng về di tích và được tổ chức thi công theo một quy trình khoa học nghiêm ngặt. Thông qua việc thực hiện dự án này, những chuẩn mực trong công tác bảo tồn, trùng tu di tích đã được xây dựng để áp dụng với các di tích khác nhằm nâng cao chất lượng khoa học và hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực bảo tồn, trùng tu di tích. Dự án trùng tu đình Chu Quyến đã đoạt giải cao nhất về bảo tồn di sản kiến trúc năm 2010 tại Hội nghị của Hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế (UIA) khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Những kết quả của dự án này đã trở thành “hình mẫu” để nhân rộng ra các trường hợp khác và là cơ sở khoa học, thực tiễn để ban hành các quy chuẩn trong hoạt động bảo tồn di tích.
– Để giải quyết các mâu thuẫn, tìm ra giải pháp khả thi cho phương án xây cầu vượt qua nút giao Ô Chợ Dừa đi trên khu di tích Đàn Xã Tắc, một cơ chế đối thoại đã được thực hiện. Hội thảo chuyên đề được tổ chức với sự tham gia của bên quản lý: Bộ Giao thông Vận tải, UBND thành phố Hà Nội, Ban quản lý các dự án trọng điểm phát triển đô thị Hà Nội; bên tư vấn: Tổng công ty tư vấn thiết kế Giao thông vận tải; các nhà khoa học, đại diện cho các hội, ngành: Hội Di sản văn hóa, Hội Sử học Việt Nam, Hội Khoa học Kỹ thuật cầu đường… Các tiêu chí đối với phương án cần phải đạt là nút giao khác mức phù hợp quy hoạch, bảo tồn tốt nhất di tích Đàn Xã Tắc, đảm bảo phát triển giao thông đô thị và hạn chế giải phóng mặt bằng. Ngoài ra, cần nghiên cứu cảnh quan kiến trúc trong khu vực để nâng cao giá trị khu di tích, trở thành một điểm nhấn trong khu vực. Phương án được lựa chọn sẽ được lấy ý kiến cộng đồng dân cư 4 phường khu vực quận Đống Đa, trước khi báo cáo, xin ý kiến các Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng.

Như vậy có thể thấy các vấn đề liên quan đến bảo tồn di sản trong phát triển đã được quan tâm, nhìn nhận, tổ chức thực hiện và kiểm soát một cách bài bản, chặt chẽ hơn.
– Để tìm ra giải pháp tối ưu cho việc bảo tồn Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu thuộc Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, UBND thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội và Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội tổ chức cuộc thi “Phương án thiết kế kiến trúc bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích khảo cổ học số 18 Hoàng Diệu”. Các đồ án tham gia cần đảm bảo các nguyên tắc “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản của Khu di tích khảo cổ học; kiến trúc hài hòa với các công trình liền kề và cảnh quan chung của khu vực, tiến tới xây dựng một công viên Lịch sử – Văn hóa Hoàng thành Thăng Long, tôn vinh giá trị khu di sản”. Cuộc thi đã thu hút sự tham gia của đông đảo các tổ chức tư vấn thiết kế với 24 đồ án của 23 đơn vị trong nước và quốc tế tham dự. Các phương án đoạt giải của cuộc thi tiếp tục được trưng bày, giới thiệu, tổ chức tọa đàm để thu thập ý kiến, tiến hành nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện nhằm tìm ra phương án tốt nhất cho việc bảo tồn Khu di tích khảo cổ học số 18 Hoàng Diệu nằm ở trung tâm chính trị của thủ đô và liền kề với Nhà Quốc hội mới.

Những ví dụ trên cho thấy chúng ta đã từng bước hình thành những khuôn khổ cần thiết cho hoạt động bảo tồn di sản, dần hướng các hoạt động này thực hiện theo quy trình nghiêm túc, đúng nguyên tắc bảo tồn, phù hợp với nhu cầu phát triển, tìm được sự đồng thuận của giới chuyên môn và cộng đồng, hướng đến các lợi ích lâu dài về văn hóa xã hội cho đất nước.

b. Vai trò của KTS trong công tác bảo tồn di tích, di sản được nhìn nhận đầy đủ hơn, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.
Thực tiễn cho thấy, việc bảo tồn di sản, tu bổ di tích có chất lượng cao được quyết định bởi sự phát triển tương xứng của nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao. Ở Việt Nam, hoạt động bảo tồn, tu bổ di tích diễn ra sôi động trong giai đoạn vừa qua đã bộc lộ những hạn chế, do nhiều nguyên nhân, nhưng một nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ nguồn nhân lực (đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao) chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế và mức độ tăng trưởng của hoạt động bảo tồn, tu bổ di tích.

Quyết định 581/QĐ-TTg ngày 6/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 có nhận định “Đội ngũ những người làm công tác bảo tồn trong cả nước còn thiếu về số lượng, tính chuyên nghiệp chưa cao, lúng túng trong việc xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo tồn và tôn tạo di tích, thậm chí làm sai lệch, biến dạng tính nguyên gốc của di tích”.

Luật Di sản văn hóa được sửa đổi bổ sung năm 2009 và sau đó là Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL Quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích đã quy định cá nhân chủ trì lập quy hoạch, dự án hoặc chủ trì thi công, giám sát dự án bảo tồn, tu bổ di tích phải có chứng chỉ hành nghề. Qua đó vai trò của KTS trong trong công tác bảo tồn di tích, di sản được nhìn nhận đầy đủ hơn. Nhưng cũng vì thế mà năng lực của đội ngũ này sẽ có vai trò quan trọng trong chất lượng của các dự án. Tuy nhiên, hiện nay năng lực của các KTS hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di sản còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Để cải thiện vấn đề này, từ năm 2010, Viện Bảo tồn di tích đã đề xuất và được giao thực hiện dự án đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ tu bổ di tích cho các kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng đang hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di sản. Cùng với việc tổ chức các khoá đào tạo, Viện Bảo tồn di tích đã xây dựng hệ thống lý thuyết chuyên ngành vừa để hình thành bộ giáo trình chuyên ngành cần thiết cho đào tạo vừa tiến tới tổng hợp, thống nhất những cơ sở lý luận quan trọng ngành bảo tồn di tích ở Việt Nam. Đây là bước đi ban đầu rất quan trọng, tuy nhiên cần phải có sự phối hợp và mở ra ở quy mô rộng lớn hơn mới đáp ứng được nhu cầu thực tế.

c. Việc thiếu cơ sở lý luận, xa rời nguyên lý bảo tồn dẫn đến những tùy tiện, lệch lạc, không đảm bảo chất lượng khoa học trong hoạt động bảo tồn di tích, di sản.
Trong sự đa dạng, phức tạp với biên độ rộng của hoạt động bảo tồn di tích, thực tế luôn tiềm ẩn những thách thức và xuất hiện những kết quả không mong muốn do những “ngã rẽ” chệch quỹ đạo của sự vận dụng kể cả trong bối cảnh đã có những cơ sở lý luận và những chuẩn mực được tạo ra. Và như thế, nếu không có cơ sở lý luận và chuẩn mực tối thiểu thì không thể tránh được những sự tùy tiện, phản khoa học trong tu bổ di tích.

Việc tu bổ Đàn Nam Giao ở Thành nhà Hồ – Thanh Hóa (2012) trong dịp chuẩn bị đón bằng UNESCO công nhận di tích này là Di sản thế giới là một ví dụ về việc xa rời nguyên lý bảo tồn dẫn đến việc tu bổ tùy tiện, phản khoa học mà nhiều nhà chuyên môn cũng như dư luận phải lên tiếng. Ở đây, những người thực hiện dự án đã “phục hồi” kiến trúc Đàn Nam Giao với các bậc cấp, thềm bằng đá và khu vực trung tâm mà không có một cơ sở khoa học chắc chắn nào. Về khái niệm phục hồi, ngay từ năm 1964, các nhà khoa học trên thế giới đã khẳng định và thống nhất nguyên tắc cơ bản (trong Hiến chương Venice về bảo tồn và trùng tu các di tích và di chỉ) rằng “Restoration must stop at the point where conjecture begins” – Phục hồi phải dừng lại tại điểm xuất hiện giả thuyết. Luật Di sản văn hóa của Việt Nam cũng quy định rõ “Phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sơ các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh đó”. Như vậy, việc xây dựng mới các thành phần kiến trúc bằng vật liệu kiên cố ở di tích Đàn Nam Giao, Thành Nhà Hồ hoàn toàn nằm ngoài các khái niệm cơ bản của hoạt động bảo tồn di tích cũng như không tuân thủ các văn bản pháp lý hiện hành. Những sản phẩm đó được làm ra trên cơ sở những giả thiết và sẽ truyền đến người xem những thông tin không chính xác về lịch sử và như vậy đó là một sai lầm nghiêm trọng trong bảo tồn di tích.

Sự tùy tiện còn dẫn đến những khái niệm lệch lạc, hoặc cố tình ngụy tạo như khái niệm “phỏng dựng” (thực chất là việc xây dựng lại các di tích đã bị mất trên dấu tích nền móng của chúng mà không hề có cứ liệu, cơ sở khoa học nào, tạo ra một cách làm phản khoa học, làm méo mó lịch sử). Khái niệm này chưa bao giờ xuất hiện trong lý thuyết bảo tồn trên thế giới. Vì vậy, việc xây dựng lại công trình trên cơ sở các giả thiết đầy cảm tính hoàn toàn không thuộc phạm vi bảo tồn di tích. Điển hình cho cách làm này là các dự án tu bổ, tôn tạo khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa. Lần lượt các hạng mục trong khu di tích này là Cầu Bạch, 9 tòa Thái Miếu, rồi đến Chính Điện ở Lam Kinh đã được “phỏng dựng” theo sự tưởng tượng “lãng mạn” của các KTS từ dấu tích nền móng và các chân tảng còn lại của những kiến trúc đã mất mà không ai có thể biết được chính xác kiến trúc bên trên của các công trình đó đã từng được làm như thế nào trong lịch sử. Đây thực sự là một “thảm họa” trong hoạt động bảo tồn, trùng tu di tích ở Việt Nam.

d. Xuất hiện một số xu hướng lệch lạc trong hoạt động bảo tồn di tích cần phải điều chỉnh và ngăn chặn
– Xu hướng thay thế và làm mới là chủ yếu (hay còn gọi là xu hướng “Trùng tu bền vững”)
Theo xu hướng này, các thành phần bị hư hỏng ở các mức độ khác nhau đều bị loại bỏ để thay thế và làm mới với mục đích làm cho di tích bền vững hơn, “khang trang” hơn. Cách làm này đã hủy hoại những dấu tích vật chất đích thực của di tích, những thành phần chứa đựng cả những yếu tố lịch sử, văn hóa trong đó. Khi thay thế chúng ta sẽ có bản sao 1:1 của cái đã bị thay thế, nhưng cái đó chỉ cung cấp đủ thông tin về quy mô, hình dáng, kích thước, cấu tạo… tức là các yếu tố về “hình thể”, còn đấu ấn thời gian, những tính chất riêng có, tinh thần của di tích, những cái có thể đem đến xúc cảm và sự hưởng thụ thẩm mỹ cho người xem đã bị loại bỏ. Như thế sau mỗi lần trùng tu, giá trị lịch sử, văn hóa của di tích lại bị suy giảm, mất mát dần. Điều đó đi ngược lại với mục đích của bảo tồn

– Xu hướng chú trọng tôn tạo hơn bảo quản, tu bổ.
Tôn tạo là những công việc nhằm mục đích cải thiện môi trường tồn tại của di tích, khôi phục và kiện toàn cảnh quan bao quanh di tích, tạo thuận lợi cho việc tiếp cận, thăm viếng di tích, hình thành những cơ sở cần thiết, phù hợp để phục vụ du khách và các hoạt động tại di tích. Trong các dự án trùng tu, với cách hiểu đúng về “tôn tạo”, hoạt động này sẽ là những phần việc như xây tường bao quanh khuôn viên di tích, cải tạo, bổ sung hệ thống thoát nước mưa, lát nền sân, đường đi trong khuôn viên, trồng thêm cây xanh, kè hồ nước, xây thêm các công trình phụ trợ, lắp đặt hệ thống chiếu sáng…
Trong thực tế trùng tu di tích ở nước ta hiện nay, khái niệm “tôn tạo” lại được nhìn nhận theo những hướng khác nhau như: làm cho di tích “đẹp lên”, khang trang hơn, đàng hoàng hơn, hay tiện nghi hơn… Vì thế mà nhiều nhà quản lý và các chủ sở hữu di tích, với mong muốn di tích to đẹp, “hấp đẫn” hơn, đã lạm dụng tôn tạo để xây dựng những công trình mới với quy mô và khối lượng lớn. Hậu quả là các thành phần mới đã lấn át di tích gốc, không gian thâm nghiêm bao quanh di tích bị biến đổi, các giá trị lịch sử, văn hóa bị suy giảm.

Tôn tạo là hoạt động cần thiết nhưng cần thực hiện trong một chừng mục nhất định, tương ứng, phù hợp với việc bảo tồn, tu bổ các yếu tố gốc cấu thành di tích. Xu hướng chú trọng tôn tạo hơn bảo quản, tu bổ mà thực chất là lạm dụng quá mức để xây dựng nhiều thành phần mới là xu hướng cần phải ngăn chặn.

– Xu hướng xây dựng mới các di tích đã mất.
Những di tích đã từng có một quá khứ huy hoàng được ghi chép trong sử liệu hoặc truyền khẩu trong cộng đồng, nay có thể chỉ còn là phế tích nền móng hay là những công trình của thời kỳ gần đây xây trên vị trí cũ. Những cứ liệu khoa học xác thực của các công trình đã mất lại quá ít ỏi, không đủ để làn căn cứ cho việc phục hồi. Trong bối cảnh đó, với ý muốn tái hiện lại những thứ đã mất, tôn vinh di tích, hay chỉ đơn giản là mong muốn khu di tích khang trang hơn, “hoành tráng” hơn, “xứng tầm” hơn, nhiều chủ đầu tư, cơ quan quản lý đã quyết định tìm cách khôi phục lại nhũng công trình đã bị mất theo cách thiết kế công trình dựa vào những thông tin ít ỏi, chủ yếu là một số sự mô tả trong thư tịch, tư liệu cũ hoặc một số trường hợp còn lại được dấu vết nền móng của công trình đã mất. Đây thực sự là một cách làm tùy tiện, tốn kém nhiều tiền của nhưng xa rời các nguyên lý, nguyên tắc của bảo tồn, chủ yếu là để đáp ứng, thỏa mãn những ý muốn chủ quan nhằm đạt được những mục đích riêng nào đó khác với mục tiêu của bảo tồn. Dưới góc nhìn khoa học và từ lý thuyết bảo tồn, cần phải nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá lại những hoạt động “tu bổ, phục hồi” theo xu hướng này để đưa hoạt động bảo tồn, tu bổ di tích vào đúng hay chí ít cũng gần hơn với quỹ đạo cần phải có của nó.

Những xu hướng nêu trên có thể đã xuất phát từ các nhu cầu thực tế về sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng hay phát triển du lịch từ di sản. Đó là những nhu cầu hợp lý, tất yếu, tuy nhiên do quá lạm dụng, mà xa rời các nguyên lý, nguyên tắc của bảo tồn di tích nên đã làm biến dạng, thay đổi những đặc điểm vốn có của di tích, suy giảm hoặc mất mát hoàn toàn những giá trị lịch sử văn hóa của di tích. Vì vậy các xu hướng lệch lạc rất cần phải điều chỉnh và ngăn chặn.

Kỳ 2: Định hướng nâng cao chất lượng hoạt động Bảo tồn Di sản Kiến trúc Đô thị Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020

KTS Lê Thành Vinh – PGS.TS.KTS Phạm Đình Việt – ThS. KTS Nguyễn Đỗ Hạnh

Trích Báo cáo của tiểu ban Bảo tồn di sản kiến trúc đánh giá kiến trúc đô thị Việt Nam 2010 -2015

( Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 05 – 2015 )