Tóm tắt
Các làng Việt truyền thống được xếp hạng di tích Quốc gia là những di sản văn hóa đặc sắc, phản ánh sự thích ứng của cộng đồng cư dân với điều kiện tự nhiên, đồng thời lưu giữ các giá trị lịch sử, kiến trúc, cảnh quan và đời sống văn hóa truyền thống của từng vùng miền. Bài viết khảo sát năm ngôi làng tiêu biểu trên toàn quốc nhằm nhận diện những đặc trưng về tổng thể cảnh quan và kiến trúc làng. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Mỗi ngôi làng mang những đặc điểm riêng về tổ chức không gian cư trú, hệ thống giao thông, cảnh quan tự nhiên, kiến trúc nhà ở và các công trình tôn giáo – tín ngưỡng, phản ánh rõ nét đặc trưng sinh thái và văn hóa của từng vùng miền. Mặc dù có sự khác biệt về hình thái không gian và kiến trúc, các làng Việt truyền thống đều thể hiện sự gắn kết hài hòa giữa con người với môi trường tự nhiên, giữa không gian cư trú với đời sống tín ngưỡng và cộng đồng. Đây là những giá trị nổi bật cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh hiện nay, đồng thời là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng các chiến lược bảo tồn di sản và phát triển du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng theo hướng bền vững.
Từ khóa: làng Việt truyền thống, di tích quốc gia, cảnh quan làng, kiến trúc làng, di sản văn hóa, bảo tồn di sản, du lịch văn hóa.
Mở đầu
Làng Việt truyền thống là một thực thể văn hóa – lịch sử đặc biệt, phản ánh rõ nét quá trình thích nghi của con người với điều kiện tự nhiên, đồng thời thể hiện các giá trị xã hội, tín ngưỡng và tổ chức cộng đồng truyền thống. Trong tiến trình phát triển, mỗi vùng địa lý đã hình thành những mô hình làng khác nhau, từ đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đến vùng trung du Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long… đã tạo nên sự đa dạng nhưng vẫn thống nhất trong bản sắc văn hóa dân tộc.
Bài viết tập trung khảo sát 5 ngôi làng cổ tiêu biểu trên toàn quốc, gồm: Đông Hòa Hiệp (Đồng Tháp), Lộc Yên (Đà Nẵng), Phước Tích (Huế), Nôm (Hưng Yên) và Đường Lâm (Hà Nội) – Thông qua việc phân tích hai khía cạnh chính là tổng thể cảnh quan và kiến trúc làng, nhằm làm rõ đặc trưng tổ chức không gian, cấu trúc cư trú và giá trị kiến trúc – văn hóa của từng địa phương, qua đó góp phần nhận diện các mô hình làng Việt truyền thống trong bối cảnh hiện nay.
Làng cổ Đông Hoà Hiệp ( Tỉnh Đồng Tháp )
Tổng thể cảnh quan làng cổ Đông Hòa Hiệp
Làng cổ Đông Hòa Hiệp nằm tại xã Cái Bè – tỉnh Đồng Tháp, thuộc vị trí trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một trong những ngôi làng hiếm hoi của miền Tây Nam Bộ còn bảo tồn được khá nguyên vẹn không gian làng quê truyền thống gắn với sông nước, vườn cây và hệ thống nhà cổ. Về vị trí địa lý, Cái bè là một xã nông nghiệp thuộc tỉnh Tiền giang cũ nay là tỉnh Đồng Tháp (một tỉnh mới sát nhập bởi hai tỉnh Tiền Giang và Đồng Tháp) có phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, phía Nam giáp Vĩnh Long, phía Đông Bắc giáp TP.HCM, phía Tây Bắc giáp Campuchia, phía Tây giáp An Giang và phía Đông Biển Đông.
Làng cổ Đông Hòa Hiệp mang đặc trưng điển hình của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Địa hình bằng phẳng, thấp, xen kẽ giữa những cù lao, cồn đất phù sa, mạng lưới thủy văn dày đặc, được bồi đắp bởi phù sa sông Tiền. Do địa hình kênh, rạch chằng chịt trong làng nên các đường làng ngõ xóm, đều nằm dọc theo bờ sông, bờ rạch; hai bên đường là những loại cây ăn trái như xoài, ổi, cam, quýt, mận (quả roi), nhãn; các loại cây cổ thụ như cây Đa, cây Bồ Đề, cây Sao, Dầu … có niên đại hơn 100 năm tuổi, góp phần tôn vẻ cổ kính cho làng Đông Hòa Hiệp. Đồng thời, do đường giao thông chính trước đây là kênh rạch, việc đi lại bằng xuồng ghe nên trong làng có nhiều bến nước.
Làng cổ Đông Hòa Hiệp với những ngôi nhà miệt vườn của vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long, đều có mặt nhà quay ra một hướng sông Cái Bè hoặc các con rạch. Đây là hướng thuận lợi trong việc giao thông cũng như việc đón gió mát vào mùa nắng. Một số nhà do địa thế khu đất không nằm cạnh bờ sông, bờ rạch thì gia chủ chọn hướng theo tuổi tác, quay nhà về hướng Tây hoặc hướng Nam, nhưng số nhà này không nhiều.
Kiến trúc làng cổ Đông Hòa Hiệp
Kiến trúc làng cổ Đông Hòa Hiệp chủ yếu và đặc trưng nhất là kiến trúc các ngôi nhà cổ, ngoài ra còn có kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng như: Chùa Phước Ân, chùa Thiên Hòa, đình Đông Hòa Hiệp.
Làng Đông Hòa Hiệp còn giữ được không nhiều những ngôi nhà cổ truyền thống có niên đại trên 100 năm, với kiến trúc kiểu nhà rường. Cả làng hiện chỉ còn 07 ngôi nhà cổ là nhà của các ông: Ba Đức, Trần Tuấn Kiệt,Trần Văn Mười, Phạm Duy Liêm, Đỗ Văn Tòng, Đỗ Văn Hiện, Lê Quang Xoát. Chủ nhân các ngôi nhà này thường là những điền chủ khá giả có nhiều ruộng đất, xưa kia có điều kiện mua gỗ, thuê thợ làm nên những ngôi rường bằng gỗ bề thế có giá trị kiến trúc, mỹ thuật văn hóa. Đến ngày nay, các ngôi nhà này được để lại cho con cháu ở và làm nơi thờ cúng ông bà dòng họ.
Cấu trúc chung của ngôi nhà qua khảo sát thực tế ở làng cổ Đông Hòa Hiệp thường có: Cổng, lối vào, hàng rào, sân, vườn cây ăn trái, nhà chính, nhà phụ, nơi sinh hoạt, cầu nước. Trung tâm của khuôn viên là nhà chính và sân, các thành phần khác đều lấy nhà chính làm chuẩn để định vị cho thuận, hợp phong thủy.
Đặc điểm tổ chức mặt bằng ngôi nhà truyền thống ở làng Đông Hòa Hiệp có 2 loại là nhà 3 gian, 2 mái và nhà 1 gian 2 chái hoặc 3 gian 2 chái, 4 mái. Mặt bằng nền có dạng chữ nhật, cạnh dài là cạnh từ trước ra phía sau, nhà trên có số gian lẻ 1 gian hoặc 3 gian và 2 chái. Nhà trên ở đây là được chia thành 2 phần: 2 chái và 3 gian giữa. Hai chái, có nhà không có vách ngăn với 3 gian giữa, thông nhau tạo thành nhà năm gian; có nhà có vách ngăn có cửa phụ nhỏ bên trong nhà để đi qua. Ba gian giữa, có nửa trước liên thông với nhau, nửa sau có ngăn hai gian 2 đầu gọi là buồng (hay buồng hộp). Tùy theo hướng nhà mà hai gian ở 2 đầu còn gọi là “Đông phòng” và “Tây phòng”.
Ở gian giữa, nửa sau là nơi đặt bàn thờ, hai gian bên ở 2 đầu, có gia đình đặt bàn thờ, có gia đình đặt tủ áo hoặc tủ búp – phê. Hai chái là 2 phòng kín (ngăn bằng vách gỗ) đóng theo dạng bổ kho dùng để vật dụng trong nông nghiệp hoặc dự trữ lúa (ví bồ). Tuy nhiên, đối với nhà khá giả thì hai chái không ngăn mà để thông thoáng với 3 gian giữa để đặt các bàn, tủ, bộ ngựa (ván)…
Hiên phía trước nhà cổ làng Đông Hòa Hiệp chỉ có chức năng che mưa, che nắng cho hệ thống cửa, cửa liên kết với cột hàng ba tạo thành vách ngăn trong và ngoài nhà. Hàng hiên các ngôi nhà cổ có diện tích hẹp chỉ 1m do đó ít được dùng để nghỉ ngơi, sản xuất phụ như đan lát,…Ở đây, nhà 3 gian 2 chái còn lại không nhiều. Tuy nhiên, đối với nhà được xây dựng khoảng 20 năm trở lại đây thì hàng hiên trước nhà rất rộng, 2,5m hoặc 2,7m, người dân sử dụng để đặt bàn ăn uống hoặc tiếp khách vào những ngày nhà có giỗ chạp, cưới hỏi.
Đặc điểm kết cấu nhà ở truyền thống làng Đông Hòa Hiệp gồm có: Bộ khung giữ chịu lực bên trong, gọi là giàn trò với hệ thống cột, trính trến/xà, xiên, kèo; bộ mái có đòn tay, rui, ngói liệt hay là ngói thí; vách nhà (đố bản, bổ kho, cửa sổ, cửa đi, tường bao quanh và nền móng…). Trong đó, bộ khung gỗ được liên kết với nhau bằng hệ thống mộng, lỗ mộng. Các bộ phận trong bộ khung gỗ đều có tên gọi khác nhau, mặc dù cùng kiểu dáng như: Cột hàng nhì (cột quân), cột hàng ba (cột hiên), cột trốn, kèo từ đòn dông (đòn đồn), đến cột hàng nhì là kéo nhì (kèo mái, kèo suốt) kèo nối tiếp gọi là kèo ba, kèo ở đầu chái gọi là quyết, kèo đấm…
Như vậy, làng cổ Đông Hòa Hiệp không chỉ nổi bật với 07 ngôi nhà cổ mang giá trị kiến trúc truyền thống, mà còn là một quần thể văn hóa – tín ngưỡng đặc sắc. Sự hiện diện của các công trình như: Đình Đông Hòa Hiệp, chùa Phước Ân và chùa Thiên Hòa đã góp phần hoàn thiện không gian kiến trúc làng, phản ánh rõ nét đời sống tinh thần, tín ngưỡng và phong tục của cư dân địa phương. Nhờ đó, kiến trúc nơi đây vừa mang giá trị lịch sử, nghệ thuật, vừa thể hiện sự gắn kết hài hòa giữa sinh hoạt đời thường và đời sống tâm linh của người dân Nam Bộ.
Làng cổ Lộc Yên (TP Đà Nẵng)
Tổng thể cảnh quan làng cổ Lộc Yên
Làng Lộc Yên thuộc xã Thanh Bình, thành phố Đà Nẵng, cách trung tâm xã Tiên Phước 5km về hướng Tây. Phía Đông giáp làng Bình Yên, ranh giới bởi suối Đá Giăng; phía Tây giáp làng An Sơn (thôn 5); phía Nam giáp làng Thạnh Bình (thôn 1), ranh giới bởi suối An Sơn; phía Bắc giáp làng Thụy Lộc (thôn 6).
Hiện nay, tại làng cổ Lộc Yên có 01 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh và 01 thắng cảnh được xếp hạng danh lam, thắng cảnh cấp tỉnh là: Nhà cổ Nguyễn Huỳnh Anh và Danh thắng Lò Thung.
Làng Lộc Yên (nay gọi là thôn 4) có tổng diện tích tự nhiên là 275ha, trong đó đất nông nghiệp hơn 100ha. Phía Bắc giáp thôn 1, phía Đông giáp thôn 2, phía Nam và Đông Nam giáp thôn 3, phía Tây giáp thôn 5.
Dân làng Lộc Yên sống quần tụ trong một thung lũng khá bằng phẳng được bao bọc bởi hệ thống đồi núi; giao thông duy nhất ở Lộc Yên là đường bộ (liên thôn, liên xóm), trong đó có 2,5km được bê tông hóa dẫn từ tỉnh lộ 616 vào, đi xuyên qua làng dẫn tới phía bờ sông Tiên. Toàn thôn hiện chia làm 4 xóm cư trú ven chân đồi, chân ruộng. Từ đường tỉnh rẽ vào khoảng 1km là khu nghĩa địa cổ, đây có thể có là giới hạn không gian của làng từ phía Tây. Qua khu nghĩa địa khoảng 200m lần lượt là các xóm, từ xóm Một đến xóm Bốn.
Làng Lộc Yên mang đặc điểm chung của vùng bán sơn địa, hệ thống đồi núi, sông suối bao bọc, như sông Đá Giăng, suối An Sơn, đồi Đá Ràn, núi Bà Bướm, núi Bàn Mây, núi Rừng Cấm, núi Hố Chò, Vườn Mồ, Dương Phối… xen lẫn ruộng đồng, làng mạc, nhà cửa của cư dân ở xen lẫn các triền đồi, vườn cây… Thế núi, hình sông ấy tạo nên dạng tổ chức làng Lộc Yên, tạo nên không gian văn hoá làng Lộc Yên.
Trong điều kiện còn nhiều hạn chế về địa hình, thổ nhưỡng của một vùng đất bán sơn địa, việc khai hóa đất có lẫn đá là một ý tưởng độc đáo. Đá được dùng vào việc phân tầng, bậc cho các bờ vườn trên những sườn đồi, đá để xây ngõ, lát lối đi, dùng vào việc xây nhà, xây giếng nước, xây chuồng cho gia súc và cả xây mộ cho người quá cố… Những con ngõ dài được lát bằng đá phiến, những bờ ngõ xây cao cũng được xếp đá. Bờ tường đá thường cao khoảng từ 1m đến 1,2m với mặt cắt tường hình thang, sử dụng kỹ thuật viên lớn ở dưới, viên nhỏ ở trên gài đan xen không cần xi măng nhưng vẫn vững chãi. Theo thời gian, cây cỏ có thể dễ dàng mọc xen vào các khe đá, bề mặt tạo nên thảm thực vật phủ kín đã làm xanh hóa và mềm đi sự khô cứng, nóng bức của đá; tạo ra nét cổ kính trầm mặc của không gian văn hoá làng cổ…
Không chỉ đặc trưng bởi việc sử dụng đá làm tường rào, lối ngõ mà quần thể không gian cư trú ở Lộc Yên, gồm nhà – ngõ – vườn – ruộng – đồi núi – sông – suối đều hết sức hài hòa, thân thiện với thiên nhiên. Với thế núi, hình sông ở đây Lộc Yên tận dụng nguồn đá tự nhiên dồi dào để xây bờ, phân thửa cải tạo độ dốc của các khu vườn đồi. Từng bờ đá thẳng, phân tầng, được sắp đặt khéo léo, đẹp mắt, đảm bảo cho đất không bị thau rửa, xói mòn. Trên những tầng bậc đó có những loại cây trái đặc sản của vùng miền Tiên Phước như: tiêu, quế, lòn bon, thanh trà, măng cụt, mít chuối, thơm… quanh năm.
Kiến trúc làng cổ Lộc Yên
Đa phần nhà ở làng Lộc Yên được làm theo kiểu thức chung của nhà rường truyền thống Quảng Nam (Đà Nẵng), đó là: Nhà chính – nhà cầu- nhà ngang thẳng góc và luôn luôn nằm bên trái nhà chính. Nhà chính là loại kiểu nhà ba gian hai chái; nhà bếp bố trí sau nhà ngang, tiếp đó là các chuồng trại chăn nuôi. Dẫn vào nhà là một lối ngõ men theo sườn đồi, gia chủ thường tạo những con ngõ dài uốn lượn nhiều tầng bậc từ chân đồi dẫn lên nhà. Theo khảo sát, hầu hết các ngôi nhà ở Lộc Yên được xây dựng theo thế lưng tựa vào núi, là thế hổ ngồi, vững chãi, yên bình, mặt nhà hướng ra không gian ruộng, đồi thoáng đãng phía trước… Dưới tán lá rừng, lá vườn, những ngôi nhà ẩn mình mà không che lấp, mát mẻ mà không u tối. Chính cái thế núi, hình sông này góp phần tạo dựng nên các giá trị văn hoá làng Lộc Yên. Đây là một lợi thế địa văn hoá rất có ý nghĩa đối với công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá
Làng Lộc Yên ở trong một thung lũng bao quanh là những đồi cây chen với đá, những ngôi nhà xinh xắn làm từ tre: Nhà Rội/ Rọi đến những ngôi nhà Rường bằng gỗ vườn, vách bằng đất liên kết với đá, tất cả đều lợp mái bằng tranh. Nhà cổ ở Tiên Phước là nhà lá mái (nhà có 2 tầng mái, mái trên lợp bằng tranh, mái dưới bằng đất, lâu nay người ta nghĩ rằng loại nhà này chỉ có ở Bình Định). Qua nhiều lần điền dã, điều tra chúng tôi khẳng định rằng, đây là loại nhà có kết cấu của nhà Rường nhưng trong điều kiện xa trung tâm sản xuất ngói nên hầu như những kiến trúc miếu, đình, nhà ở đều phải lợp tranh. Tranh thì dễ cháy nên trong kiến trúc ngôi nhà đã làm thêm mái đất bên dưới để cách ly lửa khi hỏa hoạn xảy ra. Kiến trúc nhà cổ Lộc Yên mang đặc trưng của vùng trung du, đều tọa lạc trong một không gian xanh, hay đúng hơn hòa hợp trong cây xanh của vườn – rừng (mít, lòn bon, tiêu, quế, chuối, tre….), được bao quanh bởi những khu vườn đồi có bờ ngăn bằng đá. Các lối dẫn vào cổng nhà đều xếp bằng đá, các bậc lên xuống thấp cao cũng được xếp từ đá tạo thành ngõ đá, bờ đá xinh xắn.
Dù địa hình tương đối phức tạp nhưng ở Lộc Yên khi dựng nhà ở lưng chừng đồi vẫn tạo ra một mặt bằng đủ để dựng hai kiến trúc nhà chính và nhà ngang, một nhà cầu để nối liên thông với hai nhà trên. Nhà bếp, chuồng bò, heo, gà… bố trí cao thấp tuỳ theo độ dốc của đồi. Giếng nước lấy nguồn từ đồi đá bên trên hoặc đào bên phải, bên trái trước mặt nhà. Ngày nay người ta dùng máy bơm, ống nhựa dẫn nước từ trên khe nguồn về. Ao cá – bể cạn được bố trí trước mặt, được xem như là minh đường của ngôi nhà.
Như vậy, có thể khẳng định rằng lúc các cư dân đến lập làng dựng nhà sinh sống thì hầu như các kiến trúc đều sử dụng nguồn vật liệu xây dựng có ngay tại địa phương.
Làng cổ Phước Tích (TP Huế)
Tổng thể cảnh quan làng cổ Phước Tích
Làng Phước Tích được bao bọc bởi dòng sông Ô Lâu xanh mát. Từ thượng nguồn, dòng chảy quanh co, uốn khúc rồi hợp lưu với dòng Thác Ma đổ về phá Tam Giang. Sự đắc địa của thế đất được thể hiện ở chỗ mặt trước làng hướng về phía Nam, dòng sông Ô Lâu chảy bao từ phía Đông vòng qua phía Nam sang phía Tây, tạo thành minh đường. Ở chỗ uốn phía Nam, địa thế của làng phình rộng ra rồi thu hẹp dần về phía cuối làng ở phía Tây. Nhìn tổng thể, làng Phước Tích như những nan quạt xòe ra. Trong bố cục tổng thể của làng, các hình thái không gian cư trú, tôn giáo, tín ngưỡng, bãi tha ma mộ địa vừa có sự tách bạch, vừa có mối liên kết, gắn bó hữu cơ và đầy ý nghĩa. Nơi sinh – cõi tử ngăn cách chỉ một chuyến đò ngang và ngày nay, dù đã có cầu Phước Tích nhưng dân làng vẫn có tập quán đưa ma theo đường thủy, qua đò. Nhiều nhà nghiên cứu cho đây là sự sắp xếp có dụng ý triết lý: Cõi sinh và cõi tử, ngăn cách bởi con đò ngang. Cái trục sinh – tử này đã tạo cho Phước Tích một nét đặc trưng so với nhiều khu vực ở xứ
Huế vốn có thói quen đặt mộ phần ngay trong khuôn viên nhà mình.
Ở làng Phước Tích, phần tha ma, mộ địa, khu vực dành cho người đã khuất được chọn đặt ở xứ Hà Cát (bên phía mạn phải sông Ô Lâu, giáp cuối làng Hội Kỳ). Hà Cát nguyên là một bãi phù sa, nơi dòng sông Ô Lâu bắt đầu uốn khúc khi chảy đến địa giới của làng. Diện tích xứ Hà Cát chỉ khoảng 3 mẫu, nhưng việc chôn cất phân định rõ ràng, từng họ, từng nhà.
Khu vực cư trú của dân làng được gọi là xứ Cồn Dương, nằm đối ngạn với xứ Hà Cát qua dòng Ô Lâu. Do đặc điểm địa thế hạn hẹp đã phần nào ảnh hưởng tới quy hoạch và tính chất cuộc sống của làng. Trong quy hoạch giao thông nội bộ, đường trục chính của làng chạy bao quanh với một bên là bến sông, một bên là các nhà thờ họ hoặc các công trình tín ngưỡng công cộng với mặt chính hướng ra sông. Các ngõ xóm chạy cắt ngang đường trục chính và đều hướng ra sông. Trong làng có tất cả 12 bến sông, mỗi bến có tên gọi riêng như: Bến Hội, bến Lò, bến Cừa, bến Cây Bàng, bến Đình, bến Cạn 1, bến Cạn 2, bến Cây Thị, bến Vạn, bến Miếu Vua, bến Cầu, bến Chùa. Sự ngăn chia giữa từng hộ dân hay từng ngõ xóm không phải bằng những bức tường khép kín mà là những hàng rào chè tàu thấp, được xén, tỉa gọn gàng. Cấu trúc không gian đó đã tạo nên một vùng xanh liên hoàn, một khuôn viên lớn cấu thành bởi các khuôn viên nhỏ – hộ gia đình. Các công trình xây cất chiếm tỷ trọng nhỏ cả về diện tích chiếm đất lẫn hình khối kiến trúc.
Ở làng Phước Tích, các thiết chế tín ngưỡng hầu hết được sắp đặt dọc theo bờ sông hoặc xen kẽ với nhà ở. Các không gian lớn, nhỏ, cùng các tiểu cảnh của làng luôn có sự chuyển hóa, biến đổi. Từ khoảng không của sông Ô Lâu, tới những con đường làng, các con ngõ, các khoảng vườn và nhà, không gian cứ nhỏ đi dần, song không khép kín. Những điểm nhấn không gian được tạo nên bởi cây bàng, cây thị cổ thụ phủ bóng mát.
Cấu trúc và tổ chức không gian làng Phước Tích có thể được coi là điển hình cho mô hình cư trú nơi thôn quê của người Việt ở vùng đất Bắc Trung Bộ. Đó là cấu trúc mở với những căn nhà trong khu vườn. Những ngôi nhà ở, từ đường hay ngôi miếu tuy vẫn mang dáng vẻ xưa cũ, song cảnh quan và vườn tược bao quanh thì lại tràn đầy sức sống. Cấu trúc làng – nhà – vườn là một giá trị nổi trội của làng cổ Phước Tích.
Đối với khu vực sản xuất, do đất đai hẹp, không đủ canh tác, người Phước Tích đã chọn nghề chính là sản xuất gốm, sông Ô Lâu trở thành đường thủy chuyên chở vật liệu và hàng hóa. Mặc dù một số hộ gia đình nhỏ, lẻ cũng tự xây lò gốm, sản xuất thủ công, nhưng các lò sản xuất chính lại chủ yếu tập trung ở xóm Giữa. Hiện nay, tại xóm Lò (xóm Giữa), gần bờ sông Ô Lâu còn một khu lò gốm, như một bảo tàng, nhằm giới thiệu cho du khách về một thời huy hoàng của nghề gốm xưa. Ngoài lò nung gốm, nằm ở phía Đông Bắc của làng Phước Tích còn Cồn Trèng, nằm lệch về phía dưới bên trái của thế đất làng, gần vùng hồ sen và sát vòng ôm của sông Ô Lâu, rộng khoảng 250m2, là nơi tập trung hàng vạn mảnh gốm phế thải qua các thời kỳ sản xuất, được coi là di chỉ Khảo cổ học của làng.
Kiến trúc làng cổ Phước Tích
Quỹ kiến trúc làng Phước Tích được cấu thành bởi các thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng và nhà ở. Các kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng: Chùa làng Phước Tích, Miếu Đôi cũ, Đình làng Phước Tích, Miếu Cây Thị, Miếu Quảng Tế và bệ Yoni bằng đá sa thạch, Miếu đôi mới. Các nhà ở kiểu truyền thống: Phước Tích hiện vẫn còn 26 ngôi nhà cổ có tuổi thọ trên dưới 100 năm, tập trung ở xóm Đình (10 nhà), xóm Cây Thị (8 nhà), xóm Cây Cừa (6 nhà) và xóm Bến Cạn (2 nhà).
Về bố cục tổng thể, những ngôi nhà truyền thống là sự hòa hợp giữa kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên. Ngôi nhà thường được đặt trong một khu vườn rộng, với nhiều cây trái đặc sản địa phương (như cây vả, mít, thanh trà…). Một khuôn viên thường bao gồm: Hàng rào chè tàu – cổng – đường vào – bình phong và bể cạn – sân – am thờ – nhà chính – nhà phụ – vườn – bể nước. Nhiều khi trong một ngõ xóm, các ngôi nhà rường cổ chỉ cách nhau bằng những khu vườn rộng với những hàng chè tàu.
Về kiến trúc công trình, nhà gỗ truyền thống ở Phước Tích có hai kiểu chính là nhà 3 gian 2 chái và 1 gian 2 chái; ngoài ra còn có kiểu 3 gian, thu hồi bít đốc hoặc có thêm cấu trúc vỏ cua nối với hàng hiên phía trước. Trong lòng nhà, nửa phía sau của gian giữa là ban thờ gia tiên, ngăn chia với hai bên bằng vách gỗ. Ở làng Phước Tích, một số nhà vẫn còn giữ được cấu trúc rầm thượng, là các tấm ván nhỏ ghép liên kết với nhau tạo thành trần nhà, nằm ở khoảng giữa hai cột hàng nhất. Rầm thượng thường kéo dài suốt các gian chính, là nơi cất giữ, đồ đạc, hàng hoá quan trọng của gia đình và cũng là nơi tránh lũ lụt tạm thời trong mùa mưa lũ khi nước dâng cao ngập vào nhà. Rầm thượng là một cấu trúc rất đặc trưng của kiểu nhà rường ở xứ Huế.
Bộ khung kết cấu nhà phổ biến là kiểu 6 hàng chân; một vài nhà có thể biến thể kiểu 5 hàng chân hoặc 7 hàng chân. Bộ vì đỡ mái thường là kiểu vài kèo hoặc trính chồng – trụ đội. Một số nhà xưa kia bao che bằng vách gỗ, nhưng nay cơ bản đều là tường xây gạch, trát vữa. Mái nhà lợp ngói liệt, hai đầu bờ nóc, mũi nốc đắp văn chữ triện.
Nhiều ngôi nhà rường ở Phước Tích còn được gia chủ chú tâm trang trí chạm trổ tinh xảo, cầu kỳ hình ảnh hoa lá, tứ quý, con dơi trên các cấu kiện kiến trúc như đòn tay, kèo, liên ba…, không chỉ góp phần tăng vẻ đẹp cho ngôi nhà, đồng thời khẳng định vị thế của chủ nhà. Những ngôi nhà còn giữ được nhiều mảng chạm khắc trang trí đẹp có thể kể như nhà ông Hồ Văn Tế, nhà bà Hồ Thị Thanh Nga, nhà bà Trương Thị Thú, nhà bà Lê Ngọc Thị Thí…
Với những giá trị di sản đặc sắc, làng cổ Phước Tích chắc chắn sẽ có điều kiện hơn nữa để phát triển du lịch văn hóa, đặc biệt là du lịch cộng đồng.
Làng Nôm ( Tỉnh Hưng Yên)
Tổng thể cảnh quan làng Nôm
Cấu trúc làng Nôm từ xưa đến nay lại được tách bạch khá rõ ràng bởi sông Nguyệt Đức. Sau cổng làng là không gian cư trú của làng, còn khu vực ngoài làng là không gian sản xuất, sông ngòi, chợ Nôm, chùa Nôm và các xóm mới.
- Không gian trong làng: Khu vực này được giới hạn từ phía hai cổng làng (cổng tiền, cổng hậu). Bên trong là các công trình tín ngưỡng như: Đình làng, văn chỉ, từ đường và khu vực cư trú. Làng Nôm được bao bọc bởi các con sông, ngòi, ao hồ khá chằng chịt. Làng Nôm được cấu trúc theo dạng“hình thuyền”, mà đã là thuyền thì phải bôn ba khắp nơi, trời lại đặt ở làng Nôm“một cái cân”, dọc cân là con đường xuyên giữa làng, cổng Tiền của làng có cây đa hình mũ đồng cân, quả cân là mô đất cao phía Tây, khu vực văn chỉ của làng. “Lòng đáy thuyền” là một hồ nước dài 300m, rộng khoảng 60m nằm ở trục chính của làng, giữa hồ có cầu Ngang để tiện cho việc đi lại. Hai đầu của mũi thuyền là hai cổng vào làng. Trong làng chia thành bốn xóm (xóm Đình, xóm Cầu Ngang, xóm Lẻ, xóm Miếu), được bố trí dọc theo hình xương cá; các xóm ngắn và nhỏ hẹp, không thông được với nhau. Hai bên ngõ là những ngôi nhà được dựng lên san sát, không gian khá chật chội. Trước kia đường làng đa phần là đường đất, đến thế kỷ 19 đã xây dựng những đoạn đường lát gạch nghiêng men theo đường bờ hồ. Cảnh quan làng Nôm ấn tượng bởi 3 hồ nước trung tâm, nối liền nhau, cùng với cây cối ven hồ tạo một không gian xanh mát, trong lành khi bước vào ngôi làng. Chính sự gói gọn kiến trúc những ngôi nhà cổ, từ đường vòng quanh ba hồ nước đã tạo lên một vòng thăm quan khám phá liền mạch.
- Không gian ngoài làng: Khu vực này bao gồm chùa Nôm, chợ Nôm, sông, cầu đá, xóm mới (xóm Chợ), nghĩa trang và không gian sản xuất. Chợ và chùa Nôm còn là không gian chung của các làng xung quanh đến sinh hoạt tôn giáo và buôn bán. Đây được coi là không gian mở, đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện đại. Đường làng ngõ xóm, nhà ở được dựng ở xóm Chợ phân theo lô, quay mặt ra dãy chợ. Các xứ đồng nằm ở khu vực ngoài làng bao lấy không gian cư trú, ruộng đất chủ yếu là vùng chiêm trũng, phân bố ở các xứ Cổng Đình, Cửa Quán, Mả Đình, Hương Lải, Rau Rí, Bãi Lau, Đông Bi. Xưa kia ruộng chủ yếu trồng lúa, nhưng nay một số phần đã được chuyển đổi mục đích sang trồng màu hoặc trồng cây lâu năm…
Kiến trúc làng Nôm
Các công trình tín ngưỡng dân gian được phân bố khu vực trong làng dọc theo khu vực hồ, bao gồm: Đình làng, miếu ở cuối con hồ và các từ đường dòng họ. Các công trình này hiện nay hầu hết xây dựng trong giai đoạn thế kỷ 19 và đến nay đã được tu sửa.
Công trình tôn giáo có Chùa Nôm nằm ở khu vực ngoài làng, giáp với chợ Nôm còn được gọi là chợ chùa. Công trình công cộng của làng Nôm là: Cổng làng, cầu đá, giếng nước, ao làng, chợ Nôm, văn chỉ… Nổi bật ở làng Nôm là các nhà cổ và từ đường dòng họ. Qua khảo sát cho thấy, hiện nay ở làng vẫn còn giữ được 05 ngôi nhà cổ và 11 từ đường các dòng họ. Làng Nôm là hiện còn 11 từ đường dòng họ theo phong cách kiến trúc truyền thống. Có 09 từ đường nằm dọc ở hai bên hồ, được coi là của dòng họ lớn, khá giả trong làng, trong đó họ Phùng là dòng họ lớn nhất và giàu có nhất (dọc đường bờ hồ đã có tới 4 từ đường của họ Phùng). Còn 2 từ đường họ Lê và họ Phạm phân bố trong những xóm nhỏ. Những Từ đường dọc đường bờ hồ có khuôn viên gồm: Nhà thờ chính, cổng và tường bao quanh khá bề thế, không có các công trình phụ trợ nào khác. Một số từ đường mới tu bổ lại vẫn chú trọng theo phong cách kiến trúc truyền thống, với kết cấu bộ khung gỗ.
Ngoài 11 Từ đường tổ đại ở làng Nôm còn có Từ đường của các chi phái. Những dòng họ đến làng sớm và có vai trò to lớn nhất cho việc lập làng thì Từ đường cũng có niên đại sớm và nhiều Từ đường chi phái hơn. Các Từ đường thường có quy mô vừa phải và không quá cao hơn những Từ đường khác, đã tạo nên một không gian hài hòa với cảnh quan kiến trúc chung của làng.
Làng cổ Đường Lâm ( TP Hà Nội)
Tổng thể cảnh quan làng cổ Đường Lâm
Cảnh quan chung của làng cổ Đường Lâm mang đậm đặc trưng của làng Việt vùng bán sơn địa Bắc Bộ với cấu trúc không gian khép kín nhưng linh hoạt. Hệ thống đường làng, ngõ xóm khá rộng, quanh co, thường được lát gạch ở giữa, hai bên là tường đá ong hoặc gạch tạo nên cảm giác cổ kính; các ngõ đều kết nối ra trục đường chính và liên thông với các khu vực lân cận. Không gian làng được tổ chức thành nhiều thôn như: Mông Phụ, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Cam Lâm…, trong đó thôn Mông Phụ là trung tâm với mật độ nhà cổ cao và cấu trúc truyền thống còn rõ nét. Bao quanh khu cư trú là hệ thống ruộng đồng, ao hồ và nghĩa địa, tạo thành một chỉnh thể “làng – xóm – đồng ruộng” đặc trưng. Các yếu tố cảnh quan như cổng làng, giếng nước, cây cổ thụ, sân đình và các công trình tín ngưỡng, tiêu biểu như Đình Mông Phụ, đóng vai trò điểm nhấn không gian và sinh hoạt cộng đồng. Tổng thể cảnh quan Đường Lâm thể hiện rõ sự gắn kết giữa con người với môi trường tự nhiên và truyền thống tổ chức làng xã bền vững qua thời gian.
Kiến trúc làng cổ Đường Lâm
Làng cổ Đường Lâm là ngôi làng có nhiều nhà cổ nhất trong 05 ngôi làng, làng Đường Lâm có đến 39 ngôi nhà cổ. Trong đó có nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh và các nhà thờ của các dòng họ khác.
Các công trình tôn giáo, tín ngưỡng nổi bật là Đình Mông Phụ đã được xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1991. Ngoài ra, còn có đình Đoài giáp, đình Cam Thịnh, chùa Mía, chùa Ón, đền phủ Đông Sàng (phủ bà chúa Mía), đền thờ và lăng mộ Ngô Quyền), nhà thờ công giáo. Đặc biệt, không thể không kể đến các công trình công cộng làm nên diện mạo của ngôi làng, nổi bật là các quán Điếm, cổng làng, giếng nước cổ…
Kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống, theo kết quả thống kê năm 2019, có khoảng 145 ngôi nhà (bao gồm cả nhà ở dân gian và nhà thờ họ) tuổi đời từ 100 đến 300 năm, được công nhận là nhà cổ loại I, loại II, cần bảo tồn (thôn Mông Phụ có 63 ngôi nhà; thôn Cam Thịnh 27 nhà; thôn Đông Sàng 38 nhà; thôn Cam Lâm 10 nhà và thôn Đoài Giáp 07 nhà). Như vậy, thôn Mông Phụ còn số lưu giữ số lượng nhà cổ loại I và loại II nhiều nhất. Mông Phụ cũng là thôn duy nhất có nhà thờ họ được xếp hạng Di tích Quốc gia (Nhà thờ Giang Văn Minh).
Khuôn viên nhà ở truyền thống Đường Lâm phụ thuộc rất nhiều vào quy mô khu vực trung tâm là nhà chính và sân, các thành phần khác tuỳ theo kích thước và hình dáng khuôn viên mà được đặt trước, sau, hai bên của nhà chính và sân… Các thành phần chủ yếu của nhà truyền thống Đường Lâm gồm: Cổng, tường rào, sân vườn, khu vệ sinh, chuồng chăn nuôi, giếng nước, bếp, nhà phụ.
Hình thức kiến trúc và kết cấu của nhà phụ thường đơn giản hơn nhiều so với nhà chính. Thường nó chỉ là một nhà 3 hoặc 5 gian (khi kết hợp với một thành phần khác) hai mái, mái lợp ngói hoặc mái tranh, kèo gỗ với 2 hoặc 3 hàng cột đôi khi kèo gác thẳng lên tường mà không cần cột bởi vì chúng có lòng nhà hẹp (từ 3m đến 4m). Nhà phụ hầu như không có chạm khắc trang trí, nếu có thì đó phải là nhà quan lại, địa chủ giàu có tuy nhiên trang trí cũng chỉ ở mức độ bình thường.
Do diện tích khuôn viên hẹp xuất hiện một số nhà có mái nhà chính và mái nhà phụ giao cắt nhau đây là hiện tượng ít thấy ở các địa phương khác.
Hình thức liên kết giữa nhà chính và nhà phụ và chúng thường có dạng: Chữ nhât (-), chữ nhị (=), chữ đinh (T), chữ môn (U).
Tổ hợp nhà có dạng chữ nhất (-): Nhà chính và nhà phụ bố trí liền kề và thẳng hàng với nhà chính. Loại này thường thấy ở nhà có điều kiện kinh tế khá giả, có diện tích khuôn viên khá rộng.
Tổ hợp nhà có dạng chữ Nhị (=): Nhà chính và nhà phụ hoặc hai nhà chính song song với nhau. Loại này thường thấy ở nhà quan lại, nhà trưởng họ (kiểu tiền khách hậu tự, tiền tế hậu tự..). Nhà thường có sân rộng giữa hai nếp nhà.
Tổ hợp nhà có dạng hình thước thợ (L): Nhà chính và nhà phụ vuông góc với nhau. Loại nhà này khá phổ biến, chúng phù hợp với khuôn viên có diện tích trung bình và nhỏ.
Tổ hợp nhà có dạng hình chữ môn (U): Nhà chính, nhà phụ, bếp nằm xung quanh ba phía của sân. Loại này thường xuất hiện ở các gia đình có diện tích khuôn viên hẹp.
Có thể thấy, làng cổ Đường Lâm là một quần thể kiến trúc truyền thống tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ, còn lưu giữ được số lượng lớn nhà cổ, đình, chùa, đền, cổng làng và các công trình công cộng mang giá trị lịch sử – văn hóa đặc sắc. Không gian kiến trúc của làng phản ánh rõ nét nếp sống, tín ngưỡng và tổ chức cộng đồng của cư dân nông thôn Việt Nam qua nhiều thế kỷ.
Kêt luận
Qua khảo sát các làng Việt được xếp hạng Di tích Quốc gia, có thể thấy, các ngôi làng đều có lịch sử hình thành, phát triển lâu đời, tiêu biểu ở các vùng sinh thái khác nhau. Mỗi làng đều hình thành một mô hình tổ chức không gian và kiến trúc riêng, phản ánh điều kiện tự nhiên, lịch sử và văn hóa bản địa.
Làng Đông Hòa Hiệp tiêu biểu cho vùng sông nước Nam Bộ với cấu trúc gắn liền kênh rạch; làng Lộc Yên thể hiện rõ đặc trưng vùng Trung du với không gian đá độc đáo; làng Phước Tích mang đậm dấu ấn vùng Bắc Trung Bộ với cấu trúc sinh – tử rõ ràng; làng Nôm phản ánh mô hình làng Bắc Bộ khép kín; trong khi Đường Lâm là hình mẫu tiêu biểu của làng Việt truyền thống với hệ thống kiến trúc và cảnh quan được bảo tồn tương đối nguyên vẹn.
Tổng thể cho thấy: Dù có sự khác biệt về hình thái không gian và kiến trúc, các làng cổ Việt Nam đều thể hiện một điểm chung là sự gắn kết hài hòa giữa con người và tự nhiên, giữa đời sống vật chất và tinh thần. Đây chính là giá trị cốt lõi cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh phát triển hiện nay, đặc biệt trong định hướng phát triển du lịch văn hóa và kinh tế bền vững.
ThS.KTS. Nguyễn Thị Hương Mai *
*Viện Bảo tồn di tích –
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2026)
* Bài báo thuộc nhiệm vụ đề tài cấp Bộ 2025-2026:”Nghiên cứu bảo tồn, phát huy giá trị làng việt truyền thống được xếp hàng Di tích Quốc gia gắn với Du lịch xanh, bền vững”
Tài liệu tham khảo:
– Trịnh Quang Huấn (2018): Làng cổ Lộc Yên – Hồ sơ khoa học-Viện Bảo tồn di tích;
– Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang (2017): Lý lịch di tích làng cổ Đông Hòa Hiệp – Tiền Giang;
– Trần Quốc Tuấn (2020): Bảo tồn kiến trúc Làng cổ Lộc Yên – Luận văn thạc sĩ – Thư viện ĐH Kiến trúc Hà Nội;
– Viện Bảo tồn di tích (2009): Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị làng cổ Đường Lâm – Hà Nội;
– Viện Bảo tồn di tích (2019): Kiến trúc Làng cổ Việt Nam qua tư liệu Viện Bảo tồn di tích-tập 1 – Nhà xuất bản dân tộc;
























