Tóm tắt
Làng Việt truyền thống là không gian lưu giữ các giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc và cảnh quan đặc sắc, đồng thời là nguồn tài nguyên quan trọng cho phát triển du lịch. Trong bối cảnh đô thị hóa, biến đổi kinh tế – xã hội và yêu cầu phát triển bền vững, việc bảo tồn và phát huy giá trị các ngôi làng truyền thống cần được tiếp cận trên cơ sở khoa học và toàn diện. Bài viết tập trung giới thiệu ba khung lý thuyết có thể vận dụng trong nghiên cứu bảo tồn làng Việt truyền thống gắn với phát triển du lịch xanh, bền vững, gồm: Lý thuyết bảo tàng sinh thái và bảo tàng cộng đồng; lý thuyết phát triển bền vững và lý thuyết vùng văn hóa. Mỗi khung lý thuyết cung cấp những cách tiếp cận khác nhau nhằm nhận diện giá trị di sản, phát huy vai trò của cộng đồng địa phương, cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, đồng thời làm rõ những đặc trưng văn hóa vùng miền của các làng Việt. Trên cơ sở đó, bài viết góp phần xây dựng nền tảng lý luận cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị làng Việt truyền thống theo hướng du lịch xanh, bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống cộng đồng và phát triển bền vững.
Từ khóa: làng Việt truyền thống, bảo tồn di sản, phát huy giá trị, du lịch xanh, phát triển bền vững, bảo tàng sinh thái, vùng văn hóa.
Mở đầu
Là một quốc gia nông nghiệp, đơn vị tụ cư truyền thống của người Việt là làng. Làng là cái nôi nuôi dưỡng các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Sự tồn tại và phát triển các làng truyền thống ngày càng cho thấy những lợi thế, tiềm năng, vai trò và ý nghĩa tích cực của nó trong việc lưu trữ và thể hiện những nét riêng biệt của một nền văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc, tạo ra sự phát triển hài hoà giữa sản xuất và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, làng Việt truyền thống là một trong những yếu tố quan trọng hấp dẫn sự tìm hiểu và khám phá của du khách trong và ngoài nước. Ở mức độ rộng hơn, làng truyền thống góp phần khẳng định vị thế của một quốc gia trong xu thế hội nhập toàn cầu, mà không mất đi bản sắc – “Hoà nhập nhưng không hoà tan”.
Hiện nay, sự phát triển dân số cùng với quá trình đô thị hóa đã ảnh hưởng rất nhiều đến các làng quê Việt Nam, khiến cho việc bảo tồn, giữ nguyên trạng một ngôi làng gặp nhiều khó khăn, thách thức. Quá trình đô thị hóa, gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế, biến đổi xã hội… đã và đang có tác động mạnh mẽ đến các làng quê. Trong xu thế phát triển chung đó, làng quê Việt truyền thống đang đứng trước một thách thức là giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và đổi mới, giữa dân tộc và hiện đại. Làng Việt vừa phải đổi mới, hiện đại hóa, lại vừa phải giữ được bản sắc cốt lõi của văn hóa dân tộc. Chính vì vậy, việc nghiên cứu bảo tồn các giá trị di sản làng Việt truyền thống gắn với phát triển du lịch xanh, bền vững cần dựa trên những khung lý thuyết cụ thể, thích hợp. Bài viết giới thiệu một số khung lý thuyết hy vọng có thể giúp ích cho việc nghiên cứu bảo tồn di sản làng cổ gắn với phát triển du lịch xanh, bền vững
Lý thuyết về Bảo tàng sinh thái, Bảo tàng cộng đồng
Từ nửa sau thế kỷ 20, bên cạnh những hình thức bảo tàng truyền thống, trưng bày cố định trong một không gian khác biệt với môi trường vốn có của hiện vật thì đã xuất hiện một loại hình bảo tàng mới: Bảo tàng sinh thái hay Bảo tàng cộng đồng. Trên thế giới, khái niệm “Bảo tàng sinh thái” được sử dụng lần đầu tiên từ năm 1971, tại Đại hội lần thứ IX – Hội đồng bảo tàng Quốc tế (ICOM)1. Hai nhân vật lãnh đạo ICOM khi đó là Georges Henri Rivière và Hugues de Varine đã khởi xướng và cổ vũ cho loại hình bảo tàng này. Tiếp đó, năm 1972, tại Hội nghị Santiago (Chilê), khái niệm “Bảo tàng cộng đồng” được đưa ra phân tích và chỉ rõ sự liên quan của loại hình bảo tàng này đến mục đích xã hội, đến sự tái tạo và phát triển cộng đồng, đặc biệt là những cộng đồng vùng nông thôn nghèo. Các nhà bảo tàng học Pháp đã định nghĩa về Bảo tàng sinh thái (Ecomusée) là mô hình bảo tàng hóa di sản trong cộng đồng.
Năm 1985, Georges Henri Rivière cùng Hugues Varine đã tổng kết và đưa ra định nghĩa về bảo tàng sinh thái như sau: Là bảo tàng được hình thành, biểu đạt và hoạt động với sự tham gia của công chúng, bao gồm cả chính quyền và cư dân địa phương. Chính quyền địa phương tham gia bằng cách cung cấp các chuyên gia, thiết bị và tiền vốn; còn những người dân địa phương thì bằng vào nguyện vọng, kiến thức và khả năng cá nhân để thúc đẩy công việc. Cho nên, bảo tàng sinh thái trở thành một tấm gương để cư dân địa phương tự “soi” mình vào đó, nhận ra hình ảnh của chính mình, để tìm ra lời giải thích về vùng đất mà tổ tiên, cha ông họ đã đạt được trong các lĩnh vực sinh thái. Bảo tàng sinh thái cũng là hình ảnh chân thực mà những người dân địa phương muốn đem đến với du khách để họ hiểu rõ và trân trọng những yếu tố về đời sống công nghiệp, phong tục và bản sắc địa phương. Bảo tàng sinh thái là sự ứng xử của con người với thiên nhiên, đặt con người trong môi trường thiên nhiên, miêu tả thiên nhiên sinh động trong tính hoang dã cùng với sự hòa nhập thích ứng với xã hội truyền thống và công nghiệp2.
Tại Việt Nam, các cơ sở lý thuyết về bảo tàng sinh thái cũng nhiều lần được đề cập tới trong một số chuyên khảo về di sản văn hoá. Trong thực tế, hiện chúng ta cũng chỉ mới có một Bảo tàng sinh thái Hạ Long (Quảng Ninh) với Trung tâm văn hoá nổi Cửa Vạn, được xây dựng nhằm bảo tồn, gìn giữ những giá trị văn hóa làng chài thông qua các sinh hoạt truyền thống cũng như hoạt động giao lưu giữa cộng đồng dân cư và du khách. Du khách tới đây được tận mắt xem và tìm hiểu hàng trăm hiện vật khảo cổ, trong đó có những dụng cụ, phương tiện đánh bắt hải sản của người Việt cổ, nhiều hình ảnh, phim tư liệu, các ấn phẩm về văn hóa dân gian, đời sống của những cư dân làng chài sống trên vịnh Hạ Long xưa và nay.
Về lý thuyết, khác với cách tiếp cận, quản lý của bảo tàng truyền thống, các nguyên tắc của bảo tàng sinh thái học đảm bảo cộng đồng được tiếp cận, quản lý và sở hữu các tài nguyên di sản tại địa điểm gốc, qua đó thêm màu sắc và đa dạng cho bản sắc địa phương. Quá trình này kết hợp các tài nguyên di sản (cả vật thể và phi vật thể), địa điểm, bản sắc, sự hiện diện, công nhận, tự hào địa phương và đoàn kết cộng đồng. Như vậy, bảo tàng sinh thái là một công cụ dẫn đến các tương tác sâu rộng hơn giữa các chủ thể trong vòng quan hệ: Môi trường tự nhiên – các cộng đồng tại khu vực sở tại – khách tham quan.
Bảo tàng sinh thái có mục đích bảo tồn di sản văn hóa – tự nhiên và khung cảnh địa phương, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và nhu cầu liên quan đến phát triển cộng đồng. Để lựa chọn được một điểm xây dựng bảo tàng sinh thái phù hợp, có khả năng phát huy tối ưu các giá trị (về bảo tồn, phát triển và phục vụ được đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng và địa phương thì cần qua nhiều bước chuẩn bị, điều tra, xây dựng, tập huấn triển khai thực hiện cũng như công tác giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá và vận hành nó. Mô hình cho cả quá trình này có thể khái quát trong sơ đồ sau:
Bảo tàng hóa di sản văn hóa theo nghĩa rộng là một phương pháp tối ưu và hiện đại nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hoá trực tiếp tại địa điểm di sản tồn tại (biến thành bảo tàng ngoài trời, ngay tại địa phương và trong lòng cộng đồng) ngay trong môi trường sinh thái – nhân văn nơi di sản được sáng tạo ra, hiện đang tồn tại, đồng thời còn gắn bó mật thiết với đời sống thường nhật của cộng đồng cư dân địa phương – các chủ thể sáng tạo văn hoá. Môi trường bảo tàng được tạo dựng sau di sản (về thời gian) và xung quanh di sản (về không gian), di sản trở thành hiện vật trưng bày chính của bảo tàng vừa được ra đời. Vì thế, di sản văn hoá phi vật thể (lối sống, nếp sống, sinh hoạt đời sống thường nhật của cộng đồng) tiếp tục được thực hành, lưu truyền, tái tạo, bổ sung, mang hơi thở của cuộc sống (bảo tồn động). Còn di sản văn hoá vật thể do không bị tách ra khỏi địa điểm, môi trường tồn tại để chuyển sang nơi mới nên sẽ không bị suy giảm về giá trị, mối liên hệ với môi trường; không gian tồn tại lịch sử không bị cắt đứt và tiềm năng thông tin còn nguyên vẹn. Trong nhiều trường hợp, chính những cư dân địa phương cùng với hình thức lao động sản xuất, sinh hoạt đời thường của họ cũng là một bộ phận trưng bày của bảo tàng. Về bản chất, bảo tàng sinh thái là một phương tiện quan trọng mà qua đó một cộng đồng có thể kiểm soát di sản của họ cũng như của bảo tàng và cho phép ứng dụng những cách tiếp cận mới để làm tăng thêm ý nghĩa đối với hoạt động bảo tồn đặc biệt của từng vùng/địa phương. Đó là lý do mà nó có thể được hiểu là bảo tàng cộng đồng.
Những ngôi làng Việt truyền thống, đặc biệt là những ngôi làng được xếp hạng Di tích Quốc gia có thể được coi là đối tượng để bảo tồn với các thiết chế văn hóa, tập quán sinh hoạt, cảnh quan kiến trúc… như một di sản văn hóa làng. Chính vì vậy, việc vận dụng lý thuyết này trong nghiên cứu sẽ góp phần định hình một giải pháp phù hợp để bảo tồn tổng thể một ngôi làng truyền thống. Bảo tàng hóa một ngôi làng mà ở đó cư dân vẫn sinh hoạt trong không gian truyền thống, với những phong tục, tập quán vốn có…
Lý thuyết phát triển bền vững
Thuật ngữ “phát triển bền vững” được giới thiệu lần đầu tiên bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Họ cho rằng: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Để làm rõ hơn khái niệm trên, Ủy ban Thế giới về môi trường và phát triển (WCED) (1987) đã đưa ra khái niệm phát triển bền vững là “Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” .
Tại Việt Nam, trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, quan điểm phát triển bền vững được thể hiện như sau: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”.
Mô hình Bền vững phổ biến hiện nay được sử dụng nhiều là mô hình 3Ps – Triple Bottom Line (TBL) dựa trên ba trụ cột chính: Planet (Hành tinh), People (Con người) và Profit (Lợi nhuận). Mô hình này được sử dụng để cân bằng và hài hòa lợi ích của ba yếu tố trên. Mục tiêu của TBL là mở rộng tầm nhìn từ việc chỉ theo đuổi lợi nhuận sang việc tạo ra giá trị bền vững cho môi trường và cộng đồng. Mô hình này được John Elkington giới thiệu lần đầu vào năm 1994. Dựa theo mô hình này, các doanh nghiệp sẽ xây dựng chiến lược phát triển làm sao để hài hoà được lợi ích của 3 yếu tố này và đây chính là đích đến của tính bền vững.
Áp dụng lý thuyết 3Ps về phát triển bền vững vào nghiên cứu bảo tồn, phát huy giá trị di sản đòi hỏi một sự cân bằng giữa lợi ích cộng đồng (chủ thể của mỗi ngôi làng), môi trường thiên nhiên và lợi ích, lợi nhuận của doanh nghiệp, nhà đầu từ. Hài hòa được cả ba lợi ích đó mới đảm bảo được việc phát triển bền vững.
Trên thế giới, năm 2015 Liên Hợp Quốc đã thông qua trong chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững với 17 mục tiêu và được sử dụng để định hướng các chính sách phát triển bền vững. Việt Nam cũng đã tích cực thực hiện các mục tiêu này thông qua nhiều chính sách, nghị quyết và chương trình hành động. Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững. Trong 17 mục tiêu phát triển bền vững nêu trong Quyết định 622/QĐ-TTg thì có mục tiêu cụ thể 8.9 đề cập đến vấn đề phát triển du lịch bền vững, bao gồm:
- Tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội, cá nhân và cộng đồng đối với việc giám sát đánh giá thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch bền vững;
- Quy hoạch, đầu tư phát triển sản phẩm du lịch dựa trên thế mạnh nổi trội và hấp dẫn về tài nguyên du lịch; tập trung ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch biển, đảo, du lịch văn hóa và du lịch sinh thái; từng bước hình thành hệ thống khu, tuyến, điểm du lịch quốc gia; khu tuyến, điểm du lịch địa phương và đô thị du lịch;
- Phát triển hệ thống sản phẩm du lịch chất lượng, đặc sắc, đa dạng và đồng bộ, có giá trị gia tăng cao, đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách du lịch nội địa và quốc tế; phát triển sản phẩm du lịch “xanh”, tôn trọng yếu tố tự nhiên và văn hóa địa phương;
- Phát huy thế mạnh và tăng cường liên kết giữa các vùng, miền, địa phương hướng tới hình thành sản phẩm du lịch đặc trưng theo các vùng du lịch;
- Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch theo hướng chuyên nghiệp, nhằm vào thị trường mục tiêu, lấy sản phẩm du lịch và thương hiệu du lịch là trọng tâm; quảng bá du lịch gắn với quảng bá hình ảnh quốc gia;
- Tập trung phát triển thương hiệu du lịch quốc gia trên cơ sở phát triển thương hiệu du lịch vùng, địa phương, thương hiệu doanh nghiệp du lịch và thương hiệu sản phẩm du lịch; chú trọng phát triển những thương hiệu du lịch có vị thế cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế;
- Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp và địa phương trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch để đảm bảo tính thống nhất;
- Phát huy vai trò của chính quyền và cộng đồng địa phương đối với phát triển, quảng bá văn hóa và sản phẩm địa phương, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo.
Lý thuyết vùng văn hóa
Mô hình lý thuyết này được hình thành vào đầu thế kỷ 20, xuất phát từ những ý kiến của F. Boas và các nhà nhân chủng học người Mỹ C.L. Wisler và A.L. Kroeber, trên cơ sở nghiên cứu văn hóa của các tộc người da đỏ Mỹ – Các tác giả đã khẳng định sự tồn tại của nhiều dân tộc trên cùng một vùng lãnh thổ mà văn hóa của họ có những điểm chung, đồng thời phản ánh những bước phát triển của nhận thức con người về không gian văn hóa. CL. Wisle xuất bản cuốn sách “Người Mỹ da đỏ” vào năm 1917 (tái bản năm 1922) đã có kết luận mang tính nguyên tắc là: Nghiên cứu các vùng văn hóa nhất thiết phải bắt đầu phân tích từ một tổ hợp các yếu tố văn hóa và không thể nhìn nhận riêng rẽ từng yếu tố một, chúng hợp thành một thể thống nhất và không thể chia cắt. Năm 1925, AL. Kroeber trong công trình nghiên cứu “Tra cứu về người da đỏ ở Kaliphocnia” đã phát triển lý thuyết văn hóa vùng và đưa ra quan điểm của mình về trung tâm văn hóa. Theo ông, nhóm nhỏ trung tâm không thể sáng tạo và phổ biến được tất cả các nhân tố văn hóa, mà mỗi bộ lạc đều có thể tham gia vào việc sáng tạo những giá trị và đặc trưng văn hóa của vùng.
Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về vùng văn hóa, trong đó phải kể đến như Trần Ngọc Thêm, Ngô Đức Thịnh, Trần Quốc Vượng, Đinh Gia Khánh… Các nhà khoa học trên đã đưa ra một số luận điểm quan trọng của lý thuyết vùng văn hóa và trên cơ sở ấy đưa ra quan niệm của mình về vùng văn hóa. Ngô Đức Thịnh trong công trình nghiên cứu “Văn hóa và phân vùng văn hóa” cho rằng: “Vùng văn hoá là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế – xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hoá khác”.
Huỳnh Khái Vinh trong công trình “Chấn hưng các vùng và tiểu vùng văn hóa ở nước ta hiện nay”, cho rằng: “Vùng văn hóa là một không gian văn hóa được tạo thành bởi các đơn vị địa lý dân cư địa phương nằm kề nhau liên tục; ở đó có một tập hợp (có khi là hệ thống) các cơ cấu và đặc trưng văn hóa được hình thành trên cơ sở tương đồng về quan hệ nguồn gốc và lịch sử; có một “mức tự chủ” nhất định và phân biệt rõ ràng giữa các vùng văn hóa với nhau”.
Như vậy, vùng văn hóa phải do rất nhiều yếu tố hợp thành; các yếu tố đó không thể tách rời nhau mà gắn bó khăng khít trong mối quan hệ đa chiều, có khi cái nọ là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của cái kia hay ngược lại. Để hợp thành vùng văn hóa có các nhân tố tiêu biểu như: Môi trường tự nhiên với các hoạt động sản xuất của cư dân, các yếu tố lịch sử, tộc người, ngôn ngữ, các nhân tố kinh tế – xã hội, giao lưu văn hóa.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra những cách phân vùng văn hóa, mặc dù có sự khác biệt đôi chút nhưng cách chia nào cùng có những điểm hợp lý riêng. Ngô Đức Thịnh trong nghiên cứu về “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam” đã chia nước ta thành 7 vùng văn hóa. Đinh Gia Khánh trong nghiên cứu “Các vùng văn hóa Việt Nam” chia nước ta thành 9 vùng văn hóa. Trần Quốc Vượng trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” lại chia nước ta thành 6 vùng văn hóa. Các nhà nghiên cứu cũng thống nhất rằng mỗi vùng văn hóa đều có thể chia thành nhiều tiểu vùng; giữa những tiểu vùng đều có nét tương đồng và khác biệt. Để phân vùng văn hóa đều phải dựa trên nhiều tiêu chí và mỗi tiêu chí đều có vai trò quan trọng riêng, như: Lối sống, nếp sống của cư dân; các hoạt động văn hóa nghệ thuật; tâm lý, phong cách của con người; phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng… Tuy nhiên, mỗi vùng sẽ có những tiêu chí được coi là đặc trưng tiêu biểu tạo nên văn hóa riêng của vùng đó.
Nghiên cứu về văn hóa vùng có người Việt là nghiên cứu về không gian nảy sinh, tồn tại của nền văn hóa, cho chúng ta thấy sự đa dạng văn hóa của mỗi tộc người; sự giao lưu, tiếp biến văn hóa, sự tương đồng và khác biệt giữa các hiện tượng văn hóa. Đây là những tiêu chí và các đặc trưng quan trọng của khung lý thuyết, có thể áp dụng trong việc nhân diện các giá trị văn hóa đặc trưng của làng truyền thống của người Việt.
Lời kết
Bảo tồn làng truyền thống gắn với phát triển du lịch xanh, kinh tế xanh, bền vững là nhu cầu tất yếu để giữ được các giá trị vốn có của ngôi làng trong bối cảnh đương đại là nhu cầu tất yếu và cấp thiết. Phải làm sao để làng Việt vẫn phát triển tiếp nối mà không bị đô thị hóa, không bị mất đi bản sắc riêng là một bài toán khó, đòi hỏi cần nhiều công sức nghiên cứu của nhiều chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau. Bên cạnh đó, việc giữ gìn, phát huy giá trị ngôi làng truyền thống cần sự chung tay, vào cuộc của các bên liên quan, bao gồm cả nhà quản lý, nhà đầu tư và đặc biệt là cộng đồng sở tại.
Để nghiên cứu, bảo tồn và phát huy làng truyền thống Việt gắn với phát triển du lịch xanh, bền vững thì việc áp dụng các lý thuyết nghiên cứu phù hợp là rất quan trọng. Mỗi khung lý thuyết sẽ giúp giải quyết từng vấn đề một cách rõ ràng, khoa học. Nếu lý thuyết về Bảo tàng hóa giúp có một định hướng đúng đắn để bảo tồn tổng thể cả một ngôi làng truyền thống thì lý thuyết phát triển bền vững lại đặt ra vấn đề phải giải quyết hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư, cộng đồng địa phương và cảnh quan thiên nhiên môi trường. Cùng với đó, lý thuyết vùng văn hóa lại giúp ta hiểu rõ hơn bản sắc văn hóa của người Việt ở từng vùng miền (miền Bắc, miền Trung, miền Tây Nam Bộ); mỗi vùng miền có một đặc trưng văn hóa riêng dựa vào điều kiện tự nhiên, môi trường cư trú…
ThS.KTS Nguyễn Thị Hương Mai*
*Viện Bảo tồn di tích – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
*Bài báo thuộc nhiệm vụ đề tài cấp Bộ 2025-2026:”Nghiên cứu bảo tồn, phát huy giá trị làng Việt truyền thống được xếp hạng di tích cuốc gia gắn với du lịch xanh, bền vững”
Chủ trì: ThS.KTS. Nguyễn Thị Hương Mai – Viện Bảo tồn di tích – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06-2026)
Tài liệu tham khảo:
1. Đặng Văn Bài, Nguyễn Hữu Toàn (2006): Bảo tàng hóa di sản văn hóa làng, Bộ Văn hóa – thông tin, Cục di sản văn hóa, ;
2. Phạm Hùng Cường (2019): Bảo tồn thích ứng các làng xã truyền thống trong quy hoạch nông thôn mới – Tạp chí Kiến trúc, số 10/2019;
3. Trần Công Danh, Lê Thị Hồng Na (2024): Nhận diện các giá trị di sản kiến trúc nhà cổ tại làng cổ Đông Hoà Hiệp – Tạp chí Kiến trúc, số tháng 6/2024;
4. Hoàng Đạo Kính (2013): Bảo tồn làng cổ Đường Lâm trong sự phát triển tiếp nối – Tạp chí Kiến trúc, số 7/2013;
5. Lê Thị Minh Lý (2004): Bảo tàng sinh thái – Một cách tiếp cận bảo tàng học mới, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 6/2004;
6. Trần Thị Nhung, Võ Dao Chi (2013): Phát triển bền vững – Lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm ở Nam Bộ và Việt Nam – Tạp chí Khoa học xã hội, số 01/2013;
7. Nguyễn Thiên Tạo (truy cập 6/2025): Mô hình bảo tàng sinh thái: một giải pháp bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Đảo Cò, http://lienhiephoihaiduong.vn/index.php/nghien-cuu-trao-doi/mo-hinh-bao-tang-sinh-thai-mot-giai-phap-bao-ton-va-phat-trien-du-lich-sinh-thai-ben-vung-tai-dao-co-396.html;
8. Ngô Đức Thịnh (2003): Văn hóa và phân vùng văn hóa – NXB Trẻ;
9. Huỳnh Khái Vinh (1995): Chấn hưng các vùng và tiểu vùng văn hóa ở nước ta hiện nay – NXB Chính trị Quốc gia.
Ghi chú:
1. Lê Thị Minh Lý (2004), Bảo tàng sinh thái – Một cách tiếp cận bảo tàng học mới, Tạp chí Di sản Văn hóa số 6.
2. Georges-Henri Riviere, 1985: “The ecomuseuman evolutive definition” (Bảo tàng sinh thái – một định nghĩa phát triến). Bài đăng trên tạp chí: Museums UNESCO.no. (dẫn theo Lê Thị Minh Lý (2004), Bảo tàng sinh thái – Một cách tiếp cận bảo tàng học mới, Tạp chí Di sản Văn hóa số 6.)
3. Theo Nguyễn Thiên Tạo – Mô hình bảo tàng sinh thái: Một giải pháp bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái bền vững tại Đảo Cò – http://lienhiephoihaiduong.vn/index.php/nghien-cuu-trao-doi/mo-hinh-bao-tang-sinh-thai-mot-giai-phap-bao-ton-va-phat-trien-du-lich-sinh-thai-ben-vung-tai-dao-co-396.html


























