Câu chuyện về một bức bình phong

Bức bình phong ở Cơ Mật Viện triều Nguyễn tại cố đô Huế – là một tác phẩm độc đáo của kiến trúc thời Nguyễn. Điều đáng nói là tác phẩm ấy đã từng bị phá hủy hoàn toàn rồi lại được phục hồi nguyên vẹn…Tuy không phải là một cổ vật, nhưng bức bình phong này đã thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu và những người yêu mến Huế xưa.
Cổng Tam Hòa và bức Bình phong – Cơ mật Viện năm 1907
Ở Huế, bình phong là biểu trưng của phong thủy, là lá chắn đảm bảo cho sự bình yên của một gia đình, một ngôi nhà, một vùng đất, thậm chí, cả một kinh đô. Theo sử liệu triều Nguyễn và cả những huyền thoại trong dân gian – ngót 325 năm trước, sau khi phát hiện ra vị thế phong thủy đặc biệt của ngọn Mạc Sơn, chúa Nguyễn Phước Thái đã cho dời thủ phủ của Đàng Trong từ vùng Kim Long về đất làng Phú Xuân. Từ đó (năm 1687), Mạc Sơn trở thành bức bình phong cân phân vững chãi của thủ phủ Phú Xuân, rồi sau đó là kinh đô Phú Xuân của thời Tây Sơn. Ngay cả khi quy hoạch lại kinh đô của nước Việt Nam thống nhất đầu triều Nguyễn, vua Gia Long vẫn lấy ngọn núi trên làm “tiền án” cho cả kinh thành, rồi đổi tên Mạc Sơn thành Ngự Bình Sơn. Tên gọi núi Ngự Bình cũng bắt đầu từ đó…
Ngự Bình là một ngọn núi tự nhiên, là tặng vật của trời đất ban cho xứ Huế, còn phần lớn những bình phong, trấn phong trong các kiến trúc thời Nguyễn, từ cung đình đến chốn dân gian, đều do xây dựng, chế tác mà thành.
Nếu chỉ kể đến các bức bình phong được xây dựng kiên cố, Huế cũng có vô số các tác phẩm đẹp, đạt đến trình độ mỹ thuật rất cao. Điển hình là hai bức bình phong ghép bằng đá thanh ở lăng Thiên Thọ Hữu (lăng bà Thuận Thiên Cao hoàng hậu, thân mẫu của vua Minh Mạng) và lăng Hiếu Đông (lăng của Tá Thiên Nhơn hoàng hậu, thân mẫu vua Thiệu Trị). Bình phong xây gạch, đắp vôi vữa, sành sứ thì có bức bình phong ở Thiên Thành Cục (lăng của Kiên Thái Vương, thân phụ của ba vị vua Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh), bình phong ở Tư Lăng (lăng vua Đồng Khánh), rồi ở lăng Khiêm Thọ (lăng của Lệ Thiên Anh hoàng hậu, chính thất của vua Tự Đức), lăng Tư Thông (lăng bà Hựu Thiên Thuần hoàng hậu, vợ vua Đồng Khánh)… Trong các cung điện, thời Nguyễn thì nổi bật có bình phong tiền phía trước cung Trường Sanh, bình phong hậu của cung Diên Thọ… Nhưng trong “muôn hồng nghìn tía” đó, bức bình phong tiền của Cơ Mật Viện vẫn được xem là một tác phẩm độc đáo, được “nhà Huế học” nổi tiếng người Pháp Leopold Cardière đánh giá rất cao và cho thể hiện lại rất công phu trong tác phẩm La Art Hué (Nghệ thuật Huế), xuất bản từ năm 1936.
Theo sử liệu triều Nguyễn, bức bình phong tiền (bình phong đặt ở cổng chính) được xây dựng  trong khoảng từ năm 1899- 1903, cùng với việc xây cất tòa Cơ Mật Viện mới của triều Nguyễn, sau khi triều đại này bị thực dân Pháp “bảo hộ”. Vị trí của Cơ Mật Viện nằm ở phía Đông Hoàng thành, (trên nền cũ của chùa Giác Hoàng, một trong các Quốc tự của thời Nguyễn tại kinh đô), trước đó đây từng là nơi tọa lạc của trung tâm Đô thành Phú Xuân thời chúa Nguyễn, kinh đô Phú Xuân thời Tây Sơn và sau cùng là tiềm để (phủ riêng) của hoàng thái tử Nguyễn Phước Đảm (tức vua Minh Mạng sau này). Chốn linh địa ấy chắc chắn là nơi tràn trề vượng khí, nhưng cũng thường là nơi tiềm ẩn nhiều mối hiểm nguy rình rập. Có lẽ vì thế mà khi xây dựng tòa công sở mới cho cơ quan quyền lực cao nhất của triều đại lúc bấy giờ, người ta vẫn không quên dựng một bức bình phong bề thế để giữ yên cho cuộc đất.
Cơ Mật Viện là một tòa nhà hai tầng phong cách kiến trúc kiểu thuộc địa; hai bên tòa nhà này còn có hai tòa nhà dài, tạo nên kiểu bố trí mặt bằng hình chữ U (cũng vì thế dân gian Huế mới gọi nó là Tam Tòa). Tổng diện tích toàn khu vực khoảng 3ha. Bức bình phong nằm phía sau cổng chính xây kiểu tam quan. Theo các hình ảnh tư liệu và bản vẽ của L. Cadiere – bình phong kiểu cuốn thư, trang trí tứ linh, chữ thọ và các biểu tượng truyền thống vô cùng tỉ mỉ, công phu, màu sắc lộng lẫy. Chính vì vậy, nó đã được lựa chọn làm bưu ảnh để giới thiệu về kinh đô Huế của triều Nguyễn.
Đáng tiếc thay, sau năm 1945, khi Cơ Mật Viện thay đổi chức năng, không còn là trụ sở của Hội đồng thượng thư Nam triều nữa, người ta đã cải tạo tòa nhà chính và khuôn viên, sân vườn. Bức bình phong tuyệt đẹp trên đã bị đập bỏ, một tác phẩm nghệ thuật bị hủy hoại hoàn toàn chỉ vì sự thiếu hiểu biết!
Năm 2000, tức gần một trăm năm trôi qua kể từ khi Tam Tòa được xây dựng, công trình này được chuyển giao cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (gọi tắt là Trung tâm) để quản lý và bảo tồn với tư cách là một di sản cấp quốc gia. Sau một thời gian dài nghiên cứu, tìm giải pháp, Trung tâm đã quyết định xây dựng dự án phục hồi bức bình phong lịch sử trên. Tháng 9/2009, công tác thám sát khảo cổ học được thực hiện, và kết quả là toàn bộ phần nền móng công trình đã được xuất lộ, cung cấp thêm các thông tin cần thiết cho dự án.
Quá trình nghiên cứu các nguồn tư liệu lịch sử và thám sát khảo cổ học đã cung cấp rất nhiều kết quả thú vị, đặc biệt là thiết kế phong thủy của bức bình phong Cơ Mật Viện. Bình phong này đặt cách cổng chính chỉ ba trượng  nhưng cách tòa Cơ Mật Viện đến 30 trượng. Sau khi đối chiếu tỷ lệ kích thước của chân móng so với tam quan và tòa nhà chính, kích thước của  bức bình phong dự kiến được phục hồi có các thông số cực đẹp tính theo cây thước phong thủy và quan niệm truyền thống: tổng chiều dài là 20 thước (7,680m), cao 12 thước (4,608m), dày tại chân đế 2 thước (0,767m) .
Bức bình phong Cơ mật Viện mới được phục hồi năm 2010
Việc nghiên cứu phục hồi các họa tiết trang trí được tiến hành hết sức cẩn trọng, công phu, và công việc thi công bức bình phong chỉ được tiến hành sau khi dự án được Hội đồng Khoa học Nghệ thuật của Trung tâm (cấp cơ sở) và Hội đồng Khoa học của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, phê duyệt. Đội ngũ nghệ nhân trẻ của Công ty Cổ phần Tu bổ Di tích được giao nhiệm vụ thực hiện. Sau gần sáu tháng thi công, công trình đã chính thức được khánh thành vào tháng 8/2010, đánh dấu sự hồi sinh của một tác phẩm nghệ thuật đặc biệt. Và, còn hơn thế – đó là sự hồi sinh của một di sản tưởng đã mất đi vĩnh viễn.
Điều đáng nói nữa là sau khi phục hồi công trình này, Trung tâm đã “đòi” lại và trả về đúng vị trí cũ chiếc đỉnh đồng đúc thời Thành Thái  vốn được triều Nguyễn cho đặt ngay sau bức bình phong. Bình-đỉnh lại thành đôi để hợp lực cùng nhau giữ yên cho cuộc đất. Đối với di sản Huế, đó thật là sự kiện “song hỉ lâm môn”!
Sự tái xuất hiện của bức bình phong tại Cơ Mật Viện đã thu hút sự quan tâm chú ý của rất nhiều người, nhất là du khách đến Huế. Nhiều bậc lão niên người Huế sống ngay tại cố đô hoặc đi xa về ghé thăm đều tỏ ra rất vui mừng. Họ vui không chỉ vì sự hồi sinh của một di sản mà còn vì tin tưởng rằng lớp nghệ nhân trẻ ngày nay có thể kế tục sự nghiệp của cha ông để giữ gìn các di sản văn hóa truyền thống. 
Còn riêng chúng tôi, những người thực hiện việc nghiên cứu, phục hồi bức bình phong này thì cảm thấy rất hạnh phúc vì đã vượt qua được một thử thách. Đó sẽ là động lực để chúng tôi tiếp tục vượt qua nhiều, rất nhiều khó khăn đang chờ đợi phía trước.
Bởi sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Huế vẫn còn quá nhiều điều phải làm.
 
TS.Phan Thanh Hải