Hướng bảo tồn di sản kiến trúc đô thị tại Hà Nội có sự tham gia của cộng đồng

Di sản kiến trúc đô thị (DSKTĐT) và xu hướng bảo tồn
Khái niệm Di sản đô thị (DSĐT) – “urban heritage” lần đầu tiên được đề cập bởi KTS người Ý Gustato Giovannoni (1930s) cho thấy sự chuyển hướng chú ý từ công trình kiến trúc lịch sử có giá trị riêng biệt sang xem xét nó trong mối quan hệ với khung cảnh, các cấu trúc và không gian cấu thành của đô thị. Lý thuyết này đã khiến cho công tác bảo tồn di sản xem xét đến các yếu tố bối cảnh không chỉ bảo tồn công trình mà còn quan tâm đến không gian “sống” của đô thị (Không gian cảnh quan, cấu trúc đô thị, không gian văn hóa – kinh tế – xã hội) nhằm mục đích tránh kết quả bảo tồn trở thành “bảo tàng hóa”.
Khái niệm DSĐT trong nhiều trường hợp được thay thế để nói đến di sản kiến trúc đô thị (DSKTĐT). Trong một số trường hợp, DSKTĐT có thể là một khái niệm hẹp hơn và rõ ràng không vượt quá phổ rộng ý nghĩa của DSĐT.

file.321618
<ột góc phố cổ Hà Nội

Bảo tồn Di sản kiến trúc đô thị
Khái niệm DSKTĐT thể hiện xu hướng không chỉ quan tâm đến một công trình hay một nhóm công trình riêng lẻ (yếu tố vật thể kiến trúc) mà luôn cố gắng bảo tồn cả yếu tố gắn kết như khung cảnh kiến trúc, môi trường đô thị – yếu tố hỗ trợ, bảo tồn và tôn vinh giá trị toàn vẹn của di sản. Từ đó di sản không chỉ tồn tại mà còn “sống” được trong bối cảnh đô thị hiện đại, góp phần xây dựng một đô thị có bản sắc, giàu văn hoá, hấp dẫn, phát triển.

Hướng bảo tồn di sản kiến trúc đô thị, nhà ở có giá trị tại Hà Nội

Trên thực tế, tuỳ vào đặc điểm, tính chất của di sản, khả năng quản lý, tài chính hay kỹ thuật mà công tác bảo tồn DSKTĐT có thể lựa chọn các phương thức khác nhau:
– Một là tập trung vào từng công trình riêng lẻ (thường là những công trình có giá trị đặc biệt). Đây là cách làm thường thấy ở Hà Nội trong điều kiện hạn chế về chính sách quản lý bảo tồn, sự eo hẹp về tài chính, thiếu kỹ thuật và đặc biệt chưa thể huy động được những nguồn lực từ phía cộng đồng. Cách làm này cho đến nay thu được kết quả còn hạn chế và khả năng khó có thể áp dụng để thực hiện với hầu hết các di sản của Hà Nội, nhất là những di sản nhà ở vốn tồn tại ở số lượng lớn và thường vô cùng phức tạp về quản lý cũng như vấn đề xã hội đi kèm. Sự tham gia của cộng đồng ở phương thức bảo tồn này (nếu có) thường mang tính cá nhân, hoặc một nhóm cả nhân có liên quan (thường là chủ sử dụng hay sở hữu di sản được lựa chọn bảo tồn).

04-hinh-mau-36411-450
Phố Tạ Hiện sau cải tạo không gian cảnh quan

– Hai là tập trung vào cải thiện không gian “sống” – không gian cảnh quan, môi trường văn hóa thậm chí là không gian kinh tế xã hội xung quanh di sản. Đây là cách thức dựa trên cơ sở quan niệm giá trị của di sản không chỉ nằm ở giá trị vật thể mà còn ở những không gian liên kết hỗ trợ cho nó. Nhờ vào cải tạo không gian đô thị mà giá trị của di sản cũng được nâng lên. Trong một số trường hợp, đó là giá trị của địa điểm, cảnh quan đã kích hoạt lợi ích kinh tế, thu hút du lịch, hấp dẫn đầu tư phát triển… Những giá trị mới có tác dụng như một đòn bẩy kích hoạt nhận thức của cộng đồng (người trực tiếp sử dụng, sở hữu hoặc sống xung quanh di sản, thậm chí cả những nhà đầu tư và khách du lịch…) về giá trị của di sản và những lợi ích. Kết quả là khi những ích lợi được nhìn thấy, cộng đồng sẽ có ứng xử tích cực hơn đối với di sản: nâng cao nhận thức, sẵn sàng tham gia và tham gia một cách tự nguyện vào công cuộc gìn giữ, bảo vệ và phát triển di sản cũng như khung cảnh đô thị của di sản. Phương pháp này rõ ràng không thực sự mang lại lợi ích trực tiếp trong bảo tồn công trình di sản kiến trúc nhưng mang lại giá trị cho cả không gian đô thị chứa đựng và gắn kết với di sản, trở thành giá trị địa điểm, tinh thần, lợi ích kinh tế văn hoá xã hội.

Tuỳ vào đặc điểm, tính chất, vị trí không gian đô thị, bối cảnh của di sản mà sự cải thiện có thể diễn ra theo nhiều cách thức khác nhau. Lấy trường hợp Phố cổ, bảo tồn cải tạo không gian bối cảnh của di sản có thể có các cách thức sau: Cải thiện không gian đường phố chính. Ví dụ cải tạo cảnh quan đô thị của đường phố chính đồng thời bổ sung chức năng đi bộ để tạo ra cơ hội gia tăng khả năng kết nối cộng đồng với di sản, kích thích các nhu cầu du lịch, sử dụng dịch vụ trong khu phố, tạo ra những lợi ích cho người dân thụ hưởng di sản; Cải thiện khung cảnh bên trong các ô phố. Ví dụ thông qua cải tạo và kết nối các khoảng sân trong của nhà ống hay các không gian mở bên trong ô phố để tạo nên một không gian mở, liên hoàn có thể tiếp cận và cho phép phát triển các dịch vụ phù hợp như khám phá trong lòng phố cổ, dịch vụ café nhỏ, đồ lưu niệm…; cải tạo khung cảnh tại các vị trí điểm nút trong không gian di sản để tạo ra những điểm nhấn thu hút và chuyển tiếp đến các không gian di sản khác.

Những vấn đề cần lưu ý của phương pháp này:
Việc cải tạo không gian bối cảnh của di sản có thể không mang lại lợi ích cân bằng cho tất cả các đối tượng cộng đồng sống trong không gian đó. Sự mất cân bằng này có thể gây đến những phản ứng tiêu cực của một số hộ dân không được hưởng lợi (ví dụ: Cải tạo không gian cảnh quan đường phố chính trong Phố Cổ thường chỉ mang lại lợi ích cho những hộ gia đình sống ở phía trước. Trong khi cải tạo không gian cảnh quan phía trong ô phố lại mang đến lợi ích cho những hộ gia đình phía sau. Tuy nhiên ở một cái nhìn lạc quan hơn, sự cân bằng lợi ích có thể được tạo ra từ sự hài hoà trong chính sách cải tạo không gian của chính quyền cũng như chính sách hỗ trợ tài chính, pháp lý…hợp lý để thu hẹp khoảng cách lợi ích giữa các nhóm đối tượng trong khu vực di sản. Trên thực tế, các hộ được hưởng lợi do vị trí tiếp xúc thuận lợi với không gian cải tạo cũng có thể có nhiều tích luỹ hơn và có khả năng mua lại những không gian của các hộ phía sau để làm nơi ở hoặc kinh doanh nếu giữa họ đạt được thoả thuận phù hợp. Việc mua lại và thống nhất các không gian nhà ở là điều kiện để di sản trở về với trạng thái nguyên gốc, góp phần giảm tải về dân số, nhưng cũng có thể gây nên sự thay đổi về cấu trúc nhà ở. Do đó sự quản lý, kiểm soát của chính quyền rất quan trọng.

Việc thiếu cơ chế quản lý thống nhất về quyền lợi, trách nhiệm đối với các hộ dân hưởng lợi có thể dẫn đến những thay đổi tiêu cực cho không gian di sản: người chủ sử dụng hay sở hữu di sản sẽ thay đổi di sản theo hướng đi ngược với mục tiêu bảo tồn, biến chúng thành những công trình hiện đại, xa lạ; Đưa vào những công năng sử dụng không phù hợp với bối cảnh; Các hoạt động đầu cơ cũng có thể gây nên sự thay đổi về giá trị kiến trúc, văn hoá của khu vực tạo nên sự trưởng giả hóa (gentrification) và mất dần bản sắc khu vực.

Điều kiện để đạt đến kết quả mong muốn của phương thức này là: – Không gian cải tạo phải đạt được tiêu chuẩn nhất định về cảnh quan, kết nối đô thị, tiếp cận với cộng đồng, chức năng hoạt động thu hút và hấp dẫn, kích thích các tiềm năng để nâng cao giá trị địa điểm cho khu vực di sản; – Cộng đồng nhìn thấy và nhận diện được những lợi ích từ quá trình cải tạo không gian bối cảnh của di sản; – cân bằng về lợi ích giữa cộng đồng cần được xem xét; – Sự quản lý định hướng của nhà nước về vai trò, trách nhiệm, lợi ích của cộng đồng.

Trường hợp bảo tồn ở phố Tạ Hiện cho thấy rất nhiều bài học kinh nghiệm về sự tham gia của người dân khi thành phố thực hiện cải thiện không gian bối cảnh cho khu phố. Sự cải tạo này rõ ràng không tác động nhiều lên các công trình DS KTĐT mà chủ yếu tác động vào không gian cảnh quan và không gian văn hóa của công trình đã tạo nên hiệu quả đáng ghi nhận: – Thu hút nhiều hơn khách thăm quan, khách du lịch, nhà nghiên cứu, người dân; – Dễ dàng tổ chức các hoạt động văn hóa – Dễ dàng kiểm soát vấn đề hạ tầng, rác thải và vệ sinh môi trường khu vực, – Làm gia tăng thu nhập cho phần lớn các hộ dân buôn bán tại chỗ và khu vực xung quanh, – Tạo ra một niềm khao khát tự nguyện đóng góp và cống hiến của người dân ở khu vực bên cạnh trong cải thiện không gian để cũng được thụ hưởng những thuận lợi trên.

– Ba là vừa bảo tồn công trình có giá trị đặc biệt, vừa cải tạo không gian bối cảnh của khu vực di sản đó. Đây là phương án đem lại kết quả bảo tồn toàn diện nhất. Ngoài ra nó cũng góp phần huy động tối đa sự tham gia của cộng đồng. Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi những nghiên cứu chuyên sâu và sự đầu tư về nhiều mặt. Trong đó vấn đề quản lý và các cơ chế chính sách là vô cùng quan trọng.

Kết luận
Bảo tồn DSKTĐT cần được tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau để gia tăng tính khả thi trong công tác bảo tồn. Đặc biệt nếu có thể khơi dậy, khuyến khích được sự tự nguyện của cộng đồng dân cư đô thị thì sẽ tạo cơ hội huy động những nguồn lực to lớn của xã hội vào công tác bảo tồn. Bảo tồn di sản thông qua cải thiện không gian bối cảnh đô thị (phương thức 2, 3) là một biện pháp hiệu quả thu hút sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, mang nhiều ý nghĩa nhân văn và phù hợp với nhu cầu vừa phát triển vừa bảo tồn của người dân đô thị. Điều quan trọng là quản lý cần nhận diện các đặc điểm của DSKTĐT, phát hiện và lựa chọn những không gian bối cảnh để cải tạo phù hợp, tạo ra những giá trị tiềm năng cho cộng đồng và phát triển đô thị.

Đào Thị Như
Đại học Paris 1, Pantheon- Sorbonne