Mỗi năm hoa đào nở…

Nhân ngày Tết, xin được tản mạn đôi điều về câu đối. Người Nam ta thường có ba cách thức tìm đến câu đối: Một là trích dẫn những đoạn văn mực thước, có ý luận – kết, đề – thực trong các cương lĩnh thiết chế văn hoá, tôn giáo, luân lý, đạo đức… rồi sắp xếp lại câu chữ cho đối ý, đối lời, rõ ra nhịp điệu, hoàn chỉnh thành hai vế, sau đó thể hiện bằng thư pháp; Hai là dùng lại câu đối truyền thống, nếu thấy phù hợp, nhưng khi thể hiện phải nhờ vả, thuê mướn người “hay chữ”, kể cả sao chép lối viết của các bậc thầy thư pháp trong lịch sử; Ba là nhờ, thuê sáng tác câu đối mới (xin chữ) – trường hợp này, người viết câu đối (ông đồ, nho sinh) thường thoả thuận trước nội dung với người có nhu cầu, thông qua sự cảm thông về gia cảnh, chuyện làm ăn sinh sống hay chí hướng của họ.

Câu đối mới làm ra có thể từ “một tác giả” hay “đồng tác giả”, trường hợp “một tác giả” thì như đi “xin chữ” kể trên. Còn, “đồng tác giả” là khi giới chuyên môn muốn qua câu đối để thử tài, chơi trội lẫn nhau, kẻ đối địch muốn thoả mãn thế thắng hay tỏ nghĩa khí, bất khuất…thành ra các vế đối nhau chan chát, đầy kịch tính, âm hưởng hào sảng, dữ dội. Những câu đối nổi tiếng hay nhất xưa nay hầu hết thuộc về kiểu sáng tác “đồng tác giả” này. Nội dung các câu đối vô cùng phong phú, bộc lộ những chiêm nghiệm sâu sắc về thiết chế xã hội, cộng đồng hay hàm súc cả một sự nghiệp, một đời làm ăn sướng khổ, về những vinh quang, cay đắng của kiếp người… Kể cả khi con người ta từ biệt thế giới này, cũng nhờ đôi câu đối mà ngân lên khúc vĩ thanh sau cuối. Riêng câu đối dùng dịp tết, thường chỉ mang nội dung “thời sự” trong năm, như một lời chúc tụng, chia vui đầu xuân. Sang năm gia chủ có thể sắm câu đối mới.

Câu đối thể hiện trên tranh thờ Chủ
Một điều rất cần bàn là viết câu đối như thế nào và treo ở đâu cho phù hợp với phong tục và ý nghĩa câu đối. Thường thì dù sử dụng thể loại câu đối nào, nếu nội ngoại thất có bố cục gian điện, đăng đối, hướng thượng, cột kèo xà bẩy lớp lang đâu ra đấy… thì rất thuận tiện và phù hợp với việc trang trí nhà cửa bằng câu đối. Người ta có thể đắp nổi đôi câu đối lên các hàng trụ cổng, bên lối vào nhà hoặc chạm khắc, tô vẽ lên ván gỗ quang dầu hoặc sơn son thiếp vàng, cẩn chữ vàng, chữ bạc, khảm trai trên nền sơn mài thẫm… treo đăng đối lên các cột nhà, tường vách, dùng lâu dài như thứ đồ gia bảo. Câu đối làm cho căn nhà sang trọng hẳn lên, như lời giới thiệu về tâm tính, lối ứng xử và thị hiếu thẩm mỹ của gia chủ. Mỗi độ Xuân về nghe các cụ nói chuyện câu đối Tết thì khó mà dứt ra được. Ngộ ra rằng: truyền thống hiếu học, ham chuộng chữ nghĩa của người Việt mình quả là Phong hoá. Dưới đây xin được kể về mấy câu đối Tết vào loại “muôn năm cũ”:
Thánh Tông Hoàng đế nhà Lê (1442 – 1497) có một kiểu chăm dân thật tao nhã, thanh quý. Có khi ngài cải trang thành học trò, mang theo giấy mực, vi hành Thăng Long bữa giáp tết, xem xét dân tình. Năm ấy, đã chạng vạng tối Ba mươi, đến phố Thợ Nhuộm, thấy nhà nọ vẫn đang hối hả trả nốt hàng tết cho khách, Vua tạt vào hỏi chuyện. Vừa lúc trả xong hàng, ông chủ hối thúc cả nhà dọn dẹp, chuẩn bị đón năm mới. Vua hỏi nhà có câu đối chưa? Ông thợ nhuộm tá hoả: mải lo hàng họ quên bẵng chuyện sắm sanh câu đối, giờ thì biết lần đâu ra, không khéo ăn tết mất ngon! Vua bèn nói: tôi là học trò đi chơi phố, sẵn giấy mực đây viết đôi câu đối, xem dùng được thì dùng. “Thiên hạ thanh hoàng giai nhã thủ/ Triều đình chư tử thị ngô gia” (Muôn hồng nghìn tía đẹp đẽ trong thiên hạ một tay này mà ra/ Phẩm phục bá quan văn võ triều đình cũng bởi nhà ta mà nhuận sắc). Đôi câu đối hay quá, ông thợ nhuộm chỉ còn biết mừng rỡ cảm tạ.
Trên đường hồi cung, tiện thể Lê Thánh Tông tạt qua phường Cửa Đông. Ngài vào một ngõ nhỏ, thấy nhà nào cũng tíu tít tết nhất. Riêng nhà trong cùng, ra chiều im ắng, bèn vào tận nơi hỏi chuyện, thì ra nhà này làm nghề hót phân, nghèo rớt mùng tơi, tết này chỉ xoay sở được cặp bánh chưng, mâm cỗ nhạt, xem ra lạnh lẽo, túng quẫn. Vua ướm hỏi có muốn treo câu đối tết thì ngài cho. Chủ nhà mừng chuyện chẳng dám mơ, xin thày cho chữ. Chữ rằng: “Thân ỷ nhất nhung y, năng đởm thế gian nan sự/ Thủ trì tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm”. (Thân này quanh năm đóng nhất bộ, nhưng lo liệu chu toàn nỗi gian nan của thiên hạ/ Trong tay độc ba tấc kiếm mà thu phục lòng dạ muôn người). Giải thích thêm: người hót phân ở kinh thành xưa trong đóng khố, ngoài khoác mỗi cái áo tơi lá – “nhung y”. Quanh năm đội nón che kín mặt, dụng cụ hót phân là hai đoạn xương sườn trâu – “tam xích kiếm”. Câu đối của Lê Thánh Tông quá hay. Về sau, nhờ giấy Hoa long viết nên câu đối mà hai nhà nọ mới biết họ được Hoàng đế vỗ về chúc tết.

Dân gian còn truyền tụng, cứ ngày giáp tết, dân làng Yên Đổ kéo nhau đến chầu chực ở nhà Tam Nguyên Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), xin câu đối. Hôm ấy đông quá, mãi tối mịt cụ mới viết xong cho người rốt lại là ông Tiên chỉ: “Niên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm thọ/ Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường.” (Sang năm mới, người thêm tuổi thọ/ Theo xuân về, phúc lộc đầy nhà). Chưa kịp dọn bút sách, thì từ ngoài ngõ, có bà bụng chửa vượt mặt te tái: kính cụ cho chữ. Nguyễn Khuyến phì cười, vờ nói dỗi: Xin chữ gì mà bây giờ mới đến?! Đã thế cho nhà mụ dùng lại câu đối của ông Tiên chỉ đây. Và ta phạt, bớt đi hai chữ cuối. Thành ra: “Niên thiêm tuế nguyệt nhân thiêm/ Xuân mãn càn khôn Phúc mãn”. (Năm mới, thêm người mới sinh/ Ra giêng mẹ tròn con vuông).

Câu đối trong nhà cổ Hội An
Bữa trước, có anh bạn vong niên (người hơn tôi một giáp tuổi) nhắn lại nhà, cho quà tết. Tưởng gì, hoá ra được chữ: “Kiến trúc sư, ông giáo học, kẻ làm báo, gã nhận thầu. Sang năm Mão khéo phát tài, khoẻ mạnh/ Vẽ ra nhà, viết đựợc sách, lo chữ nghĩa, cố làm nghề. Ba năm nữa luyện thêm đường kiếm gỗ. Mới hay, anh thịnh tình với tôi lắm. Đôi câu đối viết tiếng ta, nôm na thành hàng trên giấy đỏ, chu đáo ra phết.

Đem được đôi câu đối về đến nhà, tôi vội treo ngay. Loay hoay mãi mà không được. Hoá ra chỉ tại cái căn hộ. To thì to thật mà không tìm đâu một chỗ ra hồn để treo câu đối. Của đáng tội, nhà tôi làm là tự vẽ tự xây. Chẳng gì cũng ba tầng cao, non 250 mét vuông sàn, cơ man là rộng rãi. Thiết kế là thứ “của nhà trồng được” nên cũng có lý lẽ, ăn ở thuận tiện, trông thì thích mắt. Bấy nay chưa phải đáng tiếc điều gì, cho đến khi loay hoay treo đôi câu đối mà không nổi. Cuối cùng đành dán tạm lên hai bên cánh cửa phòng làm việc. Trông cứ tức anh ách! Biết thế, bận sau có làm nhà, “mô – đéc” gì gì cũng phải chừa sẵn một phòng, một góc nội thất cho ra hình lớp lang – phòng khi nổi máu “dân Nam ơi” thì còn sẵn chỗ mà treo câu đối, gửi gắm chút tình. Nhất là năm hết tết đến có tí chữ nghĩa, nhuộm sắc đào mai, quyện mùi trầm hương, ra cái vẻ…
“Mỗi năm hoa Đào nở, lại thấy ông Đồ già. Bày mực tàu giấy đỏ, bên phố đông người qua…” (thơ Vũ Đình Liên).
KTS ĐOÀN KHẮC TÌNH