
Câu đối mới làm ra có thể từ “một tác giả” hay “đồng tác giả”, trường hợp “một tác giả” thì như đi “xin chữ” kể trên. Còn, “đồng tác giả” là khi giới chuyên môn muốn qua câu đối để thử tài, chơi trội lẫn nhau, kẻ đối địch muốn thoả mãn thế thắng hay tỏ nghĩa khí, bất khuất…thành ra các vế đối nhau chan chát, đầy kịch tính, âm hưởng hào sảng, dữ dội. Những câu đối nổi tiếng hay nhất xưa nay hầu hết thuộc về kiểu sáng tác “đồng tác giả” này. Nội dung các câu đối vô cùng phong phú, bộc lộ những chiêm nghiệm sâu sắc về thiết chế xã hội, cộng đồng hay hàm súc cả một sự nghiệp, một đời làm ăn sướng khổ, về những vinh quang, cay đắng của kiếp người… Kể cả khi con người ta từ biệt thế giới này, cũng nhờ đôi câu đối mà ngân lên khúc vĩ thanh sau cuối. Riêng câu đối dùng dịp tết, thường chỉ mang nội dung “thời sự” trong năm, như một lời chúc tụng, chia vui đầu xuân. Sang năm gia chủ có thể sắm câu đối mới.

Thánh Tông Hoàng đế nhà Lê (1442 – 1497) có một kiểu chăm dân thật tao nhã, thanh quý. Có khi ngài cải trang thành học trò, mang theo giấy mực, vi hành Thăng Long bữa giáp tết, xem xét dân tình. Năm ấy, đã chạng vạng tối Ba mươi, đến phố Thợ Nhuộm, thấy nhà nọ vẫn đang hối hả trả nốt hàng tết cho khách, Vua tạt vào hỏi chuyện. Vừa lúc trả xong hàng, ông chủ hối thúc cả nhà dọn dẹp, chuẩn bị đón năm mới. Vua hỏi nhà có câu đối chưa? Ông thợ nhuộm tá hoả: mải lo hàng họ quên bẵng chuyện sắm sanh câu đối, giờ thì biết lần đâu ra, không khéo ăn tết mất ngon! Vua bèn nói: tôi là học trò đi chơi phố, sẵn giấy mực đây viết đôi câu đối, xem dùng được thì dùng. “Thiên hạ thanh hoàng giai nhã thủ/ Triều đình chư tử thị ngô gia” (Muôn hồng nghìn tía đẹp đẽ trong thiên hạ một tay này mà ra/ Phẩm phục bá quan văn võ triều đình cũng bởi nhà ta mà nhuận sắc). Đôi câu đối hay quá, ông thợ nhuộm chỉ còn biết mừng rỡ cảm tạ.
Trên đường hồi cung, tiện thể Lê Thánh Tông tạt qua phường Cửa Đông. Ngài vào một ngõ nhỏ, thấy nhà nào cũng tíu tít tết nhất. Riêng nhà trong cùng, ra chiều im ắng, bèn vào tận nơi hỏi chuyện, thì ra nhà này làm nghề hót phân, nghèo rớt mùng tơi, tết này chỉ xoay sở được cặp bánh chưng, mâm cỗ nhạt, xem ra lạnh lẽo, túng quẫn. Vua ướm hỏi có muốn treo câu đối tết thì ngài cho. Chủ nhà mừng chuyện chẳng dám mơ, xin thày cho chữ. Chữ rằng: “Thân ỷ nhất nhung y, năng đởm thế gian nan sự/ Thủ trì tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm”. (Thân này quanh năm đóng nhất bộ, nhưng lo liệu chu toàn nỗi gian nan của thiên hạ/ Trong tay độc ba tấc kiếm mà thu phục lòng dạ muôn người). Giải thích thêm: người hót phân ở kinh thành xưa trong đóng khố, ngoài khoác mỗi cái áo tơi lá – “nhung y”. Quanh năm đội nón che kín mặt, dụng cụ hót phân là hai đoạn xương sườn trâu – “tam xích kiếm”. Câu đối của Lê Thánh Tông quá hay. Về sau, nhờ giấy Hoa long viết nên câu đối mà hai nhà nọ mới biết họ được Hoàng đế vỗ về chúc tết.

Dân gian còn truyền tụng, cứ ngày giáp tết, dân làng Yên Đổ kéo nhau đến chầu chực ở nhà Tam Nguyên Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), xin câu đối. Hôm ấy đông quá, mãi tối mịt cụ mới viết xong cho người rốt lại là ông Tiên chỉ: “Niên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm thọ/ Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường.” (Sang năm mới, người thêm tuổi thọ/ Theo xuân về, phúc lộc đầy nhà). Chưa kịp dọn bút sách, thì từ ngoài ngõ, có bà bụng chửa vượt mặt te tái: kính cụ cho chữ. Nguyễn Khuyến phì cười, vờ nói dỗi: Xin chữ gì mà bây giờ mới đến?! Đã thế cho nhà mụ dùng lại câu đối của ông Tiên chỉ đây. Và ta phạt, bớt đi hai chữ cuối. Thành ra: “Niên thiêm tuế nguyệt nhân thiêm/ Xuân mãn càn khôn Phúc mãn”. (Năm mới, thêm người mới sinh/ Ra giêng mẹ tròn con vuông).


“Mỗi năm hoa Đào nở, lại thấy ông Đồ già. Bày mực tàu giấy đỏ, bên phố đông người qua…” (thơ Vũ Đình Liên).


















