Tóm tắt
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cọ sát cạnh tranh của các luồng tư tưởng văn hóa là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Kiến trúc luôn bị đặt giữa một nan đề giữa việc biểu đạt tinh thần quốc tế/thời đại và tinh thần địa phương/lịch sử. Bài báo phân tích và đánh giá các nỗ lực của các KTS Việt Nam sau năm 1986 trong việc khai thác và kế thừa các giá trị lịch sử truyền thống trong bối cảnh hiện nay.
Từ khóa: Kiến trúc truyền thống, tính địa phương, kiến trúc hiện đại, lý thuyết kiến trúc, đại diện.
Abstract:
In the context of globalization, the clash and the competition between different cultural ideologies are inevitable, particularly in the developing countries. Architecture faces a perpetual dilemma between expressing international/contemporary significances while preserving its local/historical identities. This article analyzes and assesses how Vietnamese architects since 1986 have approached the challenge of integrating and advancing traditional historical values within the modern circumstance.
Keyword: Traditional architecture, locality, modern architecture, architectural theory, representation
1. Truyền thống trong bối cảnh đa chiều hóa tư duy của kiến trúc Việt Nam sau năm 1986
Trước năm 1986, Nhà nước với vị thế tuyệt đối, vừa là chủ đầu tư và cũng là nhà quản lý đưa ra quan điểm chủ đạo về chủ đề tư tưởng và hệ giá trị thẩm mỹ trong thiết kế. Các công trình được xây dựng hầu như thống nhất về phong cách, hướng về mục tiêu đáp ứng nhu cầu thực tế với sự đơn giản, chân thực, hiệu quả. Các yếu tố như tính dân tộc, tính truyền thống luôn được đặt ra song song với sự đòi hỏi của tính hiện đại trong kiến trúc với khẩu hiệu: “Hình thức dân tộc, nội dung XHCN”. Tuy nhiên, sau Đổi mới, sự hội nhập quốc tế và tham dự của khu vực tư nhân trong thị trường xây dựng đã biến đổi tư duy một chiều nói trên. Những công trình do tư nhân đầu tư xuất hiện ngày càng nhiều, với những quan điểm kiến trúc mới lạ, thu hút sự chú ý của công chúng, đã lấn át dần các dự án vốn ngân sách. Do đó, Nhà nước không chỉ mất dần vai trò chủ đạo về cung cấp sản phẩm xây dựng mà còn suy giảm ảnh hưởng trong định hướng sáng tạo kiến trúc thông qua các công trình tiêu biểu.
Sự quốc tế hóa nguồn nhân lực kiến trúc có tác động không nhỏ tới sự biểu đạt trong các công trình kiến trúc. Trước năm 1986, ngoại trừ một số ít công trình từ những nước có quan hệ hữu nghị, thì đại đa số các công trình kiến trúc là sản phẩm của KTS Việt Nam. Sau năm 1986, quá trình hội nhập quốc tế dẫn đến sự tham gia sâu rộng của các KTS và tổ chức tư vấn nước ngoài vào lĩnh vực kiến trúc xây dựng Việt Nam. Nhiều đơn vị nước ngoài có ưu thế vượt trội về kinh nghiệm trong các công trình đặc thù, phức tạp, sự hiểu biết về kỹ thuật, vật liệu hiện đại và danh tiếng chuyên môn so với KTS địa phương. Với những dự án công, các đơn vị này giành được những hợp đồng lớn nhất, chiến thắng trong hầu hết các cuộc thi tuyển phương án kiến trúc quan trọng tầm cỡ quốc gia. Cho đến nay, hầu hết các doanh nghiệp bất động sản lớn đều có đối tác chiến lược chính thức hoặc không chính thức là tư vấn nước ngoài như: Vinhomes với Atkin, Gensler, Adeas; Sun Group với Bill Bensley; Bitexco với Carlos Zapata… Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa tri thức cũng góp phần định hình lại bộ mặt của kiến trúc Việt Nam. Trong khi trước năm 1986, chỉ có 3 cơ sở đào tạo KTS ở Hà Nội và TP HCM, thì đến thời điểm này, đã có đến gần 20 trường đào tạo KTS khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam. Internet giúp cho dòng thác thông tin đổ về Việt Nam. Những hình ảnh hào nhoáng của kiến trúc thế giới càng làm biến đổi tư duy, môi trường hành nghề trong nước. Sự đa dạng, mang tính quốc tế hóa này phản ánh nhu cầu cao hơn về nguồn nhân lực chuyên sâu của xã hội. Cùng với đó, những hệ lụy và vấn đề chuyên môn trong quá trình hội nhập quốc tế cũng lộ diện và tác động lên kiến trúc Việt Nam.
2. Các nghiên cứu lý luận về truyền thống trong kiến trúc Việt Nam sau năm 1986
Việc nghiên cứu, nhận diện và khai thác những giá trị, những yếu tố đặc trưng dân tộc, tính Việt Nam trong kiến trúc đã được các KTS thế hệ Việt Nam đầu tiên trăn trở ngay từ những ngày đầu thành lập Đoàn KTS Việt Nam năm 1948. Sau Đổi mới, số lượng các công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học gia tăng, bao phủ các khía cạnh khác nhau của kiến trúc Việt. Điều này cho thấy sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của các giá trị truyền thống và khả năng thích ứng linh họat của văn hóa kiến trúc Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. Mặt khác, những họat động này cũng phản ánh nhu cầu tự thân của các KTS đối với các giá trị truyền thống, mong muốn xây dựng một hệ thống lý thuyết, phương pháp luận khoa học cho việc nhận diện, khai thác và phát huy các giá trị dân tộc. Nhìn chung, những nghiên cứu này có thể chia làm 2 giai đoạn: Từ 1986-2000 và từ 2000 cho đến nay.
Ở giai đoạn trước năm 2000, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân tích hình thức kiến trúc để nhận diện các khuynh hướng kiến trúc Việt Nam phổ biến. Đây cũng là giai đoạn có sự bung ra về tư duy của các KTS, vượt ra khỏi khuôn mẫu Hiện thực XHCN trước đó. Các công trình kiến trúc giai đoạn 1954-1989 được PGS Tôn Đại nhận diện và phân loại vào các nhóm như: Kiến trúc theo Chủ nghĩa Hữu cơ, Chủ nghĩa Thô mộc, Chủ nghĩa Biểu hiện và Xu hướng tìm tòi về di sản dân tộc. Nhóm cuối được chia tiếp thành các nhánh như: Xu hướng phục cổ, Xu hướng kết hợp và Xu hướng cấu trúc không gian và kiến tạo theo tinh thần dân tộc. Theo ông: “Kiến thức của KTS về kiến trúc dân tộc còn quá ít do chưa có nghiên cứu toàn diện về kiến trúc dân tộc, chưa có các lý luận tổng kết và sách giáo khoa về kiến trúc dân tộc” (Đại, 1988, p. 120). Từ đó, tác giả cho rằng, Chủ nghĩa Hậu hiện đại với các mã hiệu tham chiếu kiến trúc được biểu hiện dưới hai dạng tượng trưng và dân tộc. Trong đó, xu hướng dân tộc biểu hiện mô phỏng nét cổ điển của dân tộc hoặc khai thác kiến trúc dân gian. Xu hướng dân tộc, tác giả dự đoán, nhất định sẽ phát triển tốt, vì các lí do cơ bản: Phản ứng chung trên thế giới với Chủ nghĩa Hiện đại công năng; nhu cầu khai thác vốn văn hóa dân tộc đồ sộ của KTS, người dân và nhà nước; và, sự bùng nổ những công trình xây dựng tư nhân. Có thể thấy, dựa vào cách đặt tên trong việc phân loại cũng như việc xếp loại các công trình dựa trên đặc điểm hình thức hoặc kỹ thuật, tác giả cho rằng, kiến trúc theo di sản dân tộc vẫn mới chỉ là một xu hướng, chưa định hình thành một nhánh, một chủ nghĩa với nền tảng tư tưởng lý luận rõ ràng. Mặc dù xu hướng kiến trúc dân tộc không trở thành một trào lưu chiếm ưu thế như dự đoán của tác giả, nhưng ông cũng dự báo về một nhân tố quan trọng tác động xu hướng này là các chủ đầu tư tư nhân.
Cùng theo hướng đánh giá truyền thống ở khía cạnh hình thức kiến trúc, TS.KTS Ngô Doãn Đức phân chia các công trình văn hóa thành 5 nhóm nổi bật là: Hiện đại quốc tế, Hiện đại kết hợp dân tộc, Nệ cổ (nhại cổ), Biểu đạt biểu hiện mới và Hình thức chủ nghĩa. Nhìn chung, cả 5 khuynh hướng nói trên đều chú trọng vào việc thiết lập các tiêu chí nhận diện và phân tích dựa trên các đặc điểm hình thức của kiến trúc: Từ khả năng biểu đạt hình khối, các hình thức tổng thể và các trích dẫn chi tiết kiến trúc cho đến bố cục không gian của công trình. Trong đó, với phong cách hiện đại kết hợp dân tộc, tác giả định nghĩa: “Công trình có nghệ thuật kiến trúc mang tính thời đại kết hợp với truyền thống”. Từ đó, để nhận biết và phân tích bản sắc, tính dân tộc thì cần dựa trên “quá trình tìm đến, phản ánh nếp sống, tập quán tâm lí con người Việt Nam, sự biểu hiện thích nghi với môi trường khí hậu và điều kiện tự nhiên” (Đức, 1999, p. 120). Thông qua những ví dụ các công trình tiêu biểu của khuynh hướng này, tác giả cho rằng: Các công trình thành công khi “quan điểm không sao chép nệ cổ. Phần lớn cách điệu mô phỏng các chi tiết [..] trích dẫn từ các kiến trúc cổ được các KTS tâm đắc” (Đức, 1999, p. 129). Từ đó, tác giả chỉ ra một hạn chế là Chủ nghĩa Hình thức (formalist) của các công trình văn hóa Việt Nam đến thời điểm đó: “Công trình thiếu đi tính tư tưởng trong sáng tác, hạ thấp và làm ô nhiễm thị hiếu dân chúng, gây lãng phí công sức và tiền của, đầu tư tốn kém và rất không phù hợp với điều kiện kinh tế của nước ta” (Đức, 1999, p. 142). Cũng giống như PGS Tôn Đại, KTS Ngô Doãn Đức cho rằng khuynh hướng chủ đạo sẽ là Hiện đại dân tộc, vốn là sự kết hợp giữa tính thời đại và bản sắc dân tộc. Thông qua nhóm công trình văn hóa, tác giả đã thành công trong việc cung cấp một bức tranh đa dạng về các sắc thái của truyền thống trong kiến trúc. Công trình văn hóa cũng là một tấm gương phản chiếu nhiều thể loại công trình khác trong xã hội, từ quan điểm của KTS, sự luận giải của giới nghề và sự tiếp nhận của xã hội. Ưu điểm này cũng dẫn đến điểm hạn chế là những luận giải và phân tích đều dựa trên khía cạnh hình thức kiến trúc. Đó là những khía cạnh hữu hình mà chưa đi sâu vào phân tích trải nghiệm không gian hoặc nền tảng triết lý địa phương, mặc dù tác giả đã đề cập đến những điều này. Đến cuối của giai đoạn 1986-2000, các cuộc trao đổi học thuật xung quanh khái niệm “Đậm đà bản sắc dân tộc” được đưa ra bàn luận rộng khắp. Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kiến trúc Quốc gia đã cho thấy sự đa dạng quan điểm, thậm chí trái ngược nhau, trong khai thác kiến trúc truyền thống dân tộc. Ví dụ như GS.TS.KTS Hòang Đạo Cung cho rằng: “Không thể có kiến trúc hiện đại mà lại có-bản-sắc-dân-tộc-đến-đậm-đà được […] Hoặc ta đang tự lừa dối ta. Nên dùng chữ có phong cách Việt Nam” (Đang, 1999, p. 55). Nhìn chung, các tác giả cho rằng nghiên cứu về kiến trúc truyền thống phải bắt nguồn nền tảng văn hóa và sự phát lộ hữu hình trong đời sống con người.
Sang đến giai đoạn từ sau năm 2000, các nghiên cứu chuyển hướng rõ rệt khi đi sâu vào khai thác khía cạnh văn hóa để làm rõ yếu tố truyền thống trong kiến trúc. KTS Lê Thanh Sơn (2000) chỉ ra: Truyền thống không vĩnh hằng, luôn được đổi mới – Vì đó là kết quả của sự cộng sinh văn hóa, giữa bên trong và bên ngoài. Từ đó, gạt đi những tiêu cực của sự cộng sinh, như Nệ cổ, hình thức. Tác giả cho rằng: Cần có tiếp biến văn hóa, tiếp thu chủ động, chấp nhận đúng mức giữa sức mạnh văn hóa bên trong và áp lực văn hóa bên ngoài để có thể phát triển kiến trúc lành mạnh. Theo tác giả, giá trị đích thực của truyền thống, được mã hóa nằm trong kiến trúc dân gian mà: “Nền kiến trúc chính thống chẳng qua là sự mở rộng và sự kéo dài của kiến trúc dân gian, qua những những thần thọai, biểu tượng, tín ngưỡng, tâm thức của người Việt Nam” được tích tụ trong quá trình (Sơn, 2000, p. 146) phát triển.
Vượt khỏi tiếp cận thông thường dựa trên hình thức kiến trúc, KTS Nguyễn Trí Thành (2004) trong luận án “Yếu tố văn hóa trong công trình biểu diễn” lựa chọn phân tích những kiến trúc Việt Nam dưới một góc độ sâu hơn: Từ những đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt, xem xét những biểu hiện hiện hữu của các yếu tố văn hóa trong công trình kiến trúc. Mặc dù tác giả chỉ chú trọng vào một thể loại công trình đơn lẻ, nhưng thông qua chọn lựa quan điểm tiếp cận, tác giả đã khái quát và đi sâu vào những vấn đề cốt lõi, cơ bản trong truyền thống kiến trúc của người Việt. Tác giả khảo sát, phân tích từ sinh họat, tâm lý cộng đồng, lí giải tại sao những công trình kiến trúc truyền thống lại có khả năng “đo ni đóng giày” với cộng đồng dân tộc Việt. Những kiến giải này cho phép hiểu rõ hơn sự liên quan giữa triết lý sống của người Việt và những hình thái không gian kiến trúc tương ứng. Nói cách khác, tác giả bắt nguồn từ “ý” để diễn giải về “hình” và giá trị của “hình” đó trong bối cảnh Việt Nam. Ví dụ như vai trò và ý nghĩa “mập mờ” của không gian chuyển tiếp, bố cục hướng nội, của tuyến giao thông, của công năng linh họat… Nghiên cứu của TS.KTS Nguyễn Trí Thành đã khám phá và “chạm” đến một tầng sâu ý nghĩa hơn cho những hình thức của kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Cùng mạch nghiên cứu, GS.TS Hoàng Đạo Kính nhấn mạnh vào nền tảng văn hóa của kiến trúc, của tâm thức của người Việt hàng bao đời qua. Tác giả chỉ rõ bản sắc không phải là khái niệm hình thức, không phải sự lặp lại lịch sử. Nếu nỗ lực khai thác những thứ không có chỗ đứng trong hiện tại thì “Con đường mòn đó chỉ dẫn đến ngõ cụt của Chủ nghĩa hình thức mà thôi” (Kính, 2012, p. 110). Những giá trị truyền thống trong các di sản kiến trúc nằm ở sự biến hóa đơn vị “gian”, tính kiến tạo và sự chân thực giản dị chừng mực. Nhưng, ông chỉ rõ, đó chỉ là những biểu hiện hình thức ra bên ngoài của một cộng đồng văn hóa lâu đời đa sắc tộc. Từ đó, ông cho rằng: “Cần hấp thụ để chuyển hóa vào sáng tạo cái tinh thần dân tộc trước tiên, chứ không phải chỉ là những biểu hiện của kiến trúc dân tộc” (Kính, 2012, p. 119). Tác giả khuyến nghị sự kế thừa và sáng tạo những truyền thống văn hóa, thẩm mỹ, cảm thụ của tiền nhân, đặc biệt trong mối quan hệ với cảnh quan tự nhiên môi trường là hướng đề cao bản sắc địa phương, rồi đến bản sắc dân tộc. Trong đó, cái cốt lõi là tinh thần dân tộc là điều mà tác giả nhấn mạnh, đòi hỏi sự học, sự hiểu và sự sáng tạo của KTS, đem vào cái cốt mạch sử tính đó, biểu đạt trong hoàn cảnh hiện tại.
Đi theo hướng phân tích chiều sâu văn hóa, KTS Nguyễn Song Hoàn Nguyên đưa ra 6 giá trị tạo thành văn hóa truyền thống căn bản có biểu hiện trong kiến trúc nhà ở là: “Tính dung hòa với tự nhiên, tính linh họat/đa năng, tính tư hữu, tính cộng đồng, truyền thống gia đình Việt, tính biểu hình. Đây là những giá trị đã được chọn lọc trong quá trình chuyển đổi và còn phù hợp với điều kiện phát triển hiện nay” (Nguyên, 2016). Từ đó, tác giả tổng hợp đưa ra 9 giá trị hình thức thẩm mỹ phù hợp trong kiến trúc là: “Tính hình học, tính đối xứng, tính vần điệu, tỷ lệ hài hòa, tính cơ động, vật liệu tự nhiên, giải pháp che nắng, thông gió, tạo bóng râm” – Từ đó, vận dụng chuyển đổi các quy luật thẩm mỹ truyền thống cho phù hợp với thời đại hiện nay. Có thể nói, tác giả nỗ lực định lượng hóa những yếu tố truyền thống theo tiếp cận kí hiệu học, thay vì những tiêu chí định tính của khái niệm Truyền thống văn hóa trong kiến trúc.
Tương tự, KTS Trần Mạnh Cường sử dụng 7 nhóm tiêu chí thành phần của môi trường cảnh quan để đánh giá tính bản địa. Từ đó, phát triển thành 25 giải pháp khác nhau để phát huy tính bản địa. Các tiếp cận và giải quyết này đã vận dụng quan điểm của Norberg-Schultz về tinh thần nơi chốn để phát huy tính bản địa trong kiến trúc. Đó là: “Hiển thị hóa các đặc trưng cấu trúc vật chất – hình thể của địa phương, biểu trưng hóa cảm nhận về tinh thần bản địa và Bổ sung – bổ khuyết các yếu tố phù hợp với môi cảnh của địa điểm cụ thể” (Cường, 2021, p. 150). Tinh thần địa điểm có thể cho phép kiến trúc nhận diện tạo dựng tốt hơn mối quan hệ với địa điểm, kéo dài mạch tồn tại của truyền thống. Nhưng cũng chính ở đây, đặt ra một vấn đề: Chúng ta sẽ nhận diện và hiểu truyền thống như thế nào, nếu chỉ dựa vào Kí hiệu học và quá trình nhận diện liên tưởng. Ở đây, có thể tham khảo tác giả Lê Trần Xuân Trang (2019) với luận án “Diễn giải truyền thống trong kiến trúc Việt Nam đương đại” với việc vận dụng lí thuyết về Thông diễn học (Hermeneutics) và Hiện tượng học (Phenomenology) của Heidegger và Gadamer để làm rõ hơn về vai trò của tư duy trong việc hiểu và diễn giải yếu tố truyền thống công trình kiến trúc Việt Nam. Trong đó, truyền thống được đại diện và trải nghiệm nhờ vào diễn giải biện chứng giữa Tiền-kiến (presupposed) và Dự-kiến (supposed). Sự dung hợp biện chứng nâng yếu tố truyền thống lên mức cao hơn, hoàn thiện hơn và bộc lộ rõ hơn. Tác giả cho rằng: “Diễn giải cái hiệu quả mà nó đã từng tạo ra, hay nguyên nhân khiến truyền thống trở thành truyền thống […] nên diễn giải truyền thống theo bút pháp Gợi hơn là Tả […] tạo những Kết – Mở hơn là Kết – Đóng, cho nhiều ý nghĩa thú vị để cảm nhận và trải nghiệm, trong đó ngữ cảnh là quan trọng” (Trang, 2019, p. 150). Qua Thông diễn học và Hiện tượng học, tác giả chỉ ra được chiều sâu và sự biến ảo của truyền thống trong kiến trúc, có thể giúp các KTS và công chúng tránh được sự sao chép thuần túy của hình thức và không gian.
Như vậy, nhu cầu nghiên cứu bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống trong kiến trúc Việt Nam vô cùng lớn. Ở mỗi một giai đoạn, kiến trúc truyền thống luôn đầy gợi mở, thách thức cho giới hành nghề và nghiên cứu. Đó là một lĩnh vực giàu tiềm năng, chờ đợi các thế hệ nối tiếp phát triển. Truyền thống không dừng lại trong sách vở, không cố định ở những công trình sao chép, không khuôn mẫu trong đời sống, mà truyền thống luôn sống động, và linh hoạt như một quá trình ẩn dấu và bộc lộ trong kiến trúc Việt Nam. Hiểu và diễn giải truyền thống cũng chính là để bảo tồn và phát huy những giá trị này.
3. Những biểu hiện của truyền thống trong các công trình sau năm 1986
Công trình kiến trúc là sự phản ảnh rõ nhất cho những biến đổi của tinh thần và vật chất của toàn xã hội. Đó là sự hội tụ giữa nhu cầu, đòi hỏi và nhận thức của toàn xã hội, gồm trí tuệ chuyên môn, mong đợi của chủ đầu tư (Nhà nước cũng như tư nhân) và tiếp nhận của công chúng. Qua gần 40 năm chuyển mình, với sự đa chiều trong quan điểm kiến trúc, các KTS không còn bị đóng bởi tính hàn lâm tạo hình, ảnh hưởng của Chủ nghĩa Hiện đại (Modernism) và nỗi ám ảnh về phát huy các giá trị dân tộc và kiến trúc truyền thống trong giai đoạn xây dựng quốc gia (nation-building). Sau năm 1986, sự đa chiều này có thể thấy ở 2 giai đoạn khác nhau: Thời kỳ Đổi mới kinh tế xã hội từ năm 1986 đến 2000 và thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sau năm 2000.
Ở giai đoạn 1986-2000, mở cửa kinh tế và tư tưởng dẫn đến “bùng nổ” về phong cách kiến trúc. Điểm nổi bật là vai trò chủ đạo của các đơn vị tư vấn quốc doanh, và sự ra đời của các đơn vị tư vấn tư nhân đầu tiên. Nhiều trường phái khác nhau trên thế giới xuất hiện trên các công trình Việt Nam. Bên cạnh các công trình theo Chủ nghĩa Hiện đại Soviet thịnh hành từ thời bao cấp, thì có vô số những công trình, đặc biệt là nhà ở tư nhân, mang các phong cách đa dạng. Từ kiến trúc thuộc địa, Tân cổ điển thế kỷ 19, Art Deco, Art Nouveau đầu thế kỷ 20, Chủ nghĩa Biểu hiện những năm 60 thế kỷ 20 cho đến Hậu hiện đại và Hiện đại mới những năm 80-90. KTS thoải mái bộc lộ cá tính riêng, nhưng sự thể hiện cá nhân sau nhiều năm bị kìm nén phần nào dẫn đến hỗn loạn trong sản phẩm kiến trúc. Nhiều công trình nệ cổ sao chép hình thức và các bộ phận kiến trúc truyền thống Việt Nam như hệ mái cong, hệ kết cấu chồng rường, trang trí. Trào lưu này chủ yếu xuất hiện ở các công trình văn hóa như công trình bảo tàng (Bảo tàng Quang Trung), công trình tưởng niệm (Khu tưởng niệm Bến Dược), hoặc các công trình tôn giáo mới xây dựng như đình chùa. Phần lớn đây là sự sao chép lại những kiến trúc phổ biến của văn hóa Kinh-Việt. Tuy nhiên, khác với những kiến trúc truyền thống, vốn có quy mô khiêm tốn, tỉ lệ gắn bó với cảnh quan và con người, những công trình nệ cổ cuối thể kỉ 20 lại có kích thước lớn, quy mô hoành tráng, không có sự gắn kết giữa khung cảnh tự nhiên và công trình xây dựng, gây ra cảm giác lấn át và xa cách với con người.
Trong bức tranh “trăm hoa đua nở” của kiến trúc Việt Nam giai đoạn này, vẫn có những tác phẩm kiến trúc vụt sáng lên với tinh thần kiến trúc dân tộc, để lại dấu ấn sâu sắc trong các giai đoạn sau. Đây cũng là giai đoạn mà các tác phẩm kiến trúc được Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia đều có tác giả là người Việt Nam. Đặc điểm chung của các công trình này do Nhà nước làm chủ đầu tư và do các KTS Việt Nam có quá trình đào tạo và kinh nghiệm hành nghề từ trước năm 1986 thực hiện. Cách biểu đạt của các yếu tố truyền thống vẫn tiếp tục theo mạch sáng tạo của giai đoạn trước. Đó là sự gợi hình và cách điệu từ những hình thức và cấu trúc quen thuộc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam kết hợp với ngôn ngữ hình khối của Chủ nghĩa Hiện đại. Những công trình nổi bật như Nhà hát chèo Hà Nội của KTS Vũ Đại Hải với hình thức mái, hệ cột với phân vị ngang mặt đứng có cấu trúc hình học rõ ràng, vuông vắn của kiến trúc Hiện đại trong khi gợi tả rất thành công hình ảnh và tỉ lệ trong các kết cấu truyền thống. Như PGS.KTS Đặng Thái Hoàng (1995) cho rằng, Nhà hát Chèo Hà Nội thể hiện ảnh hưởng của Ernest Hébrad và các KTS Việt Nam từ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương trong tiếp cận với ngôn ngữ kiến trúc Á Đông. Đáng tiếc, sau lần cải tạo gần đây, công trình này không còn giữ được ngôn ngữ gãy gọn của kiến trúc Hiện đại thời điểm đầu. Các công trình của KTS Nguyễn Vũ Hưng như: Khoa Quốc tế – Bệnh viện Bạch Mai, Khu khám chữa bệnh của Bệnh viện 19-8 có sự thống nhất trong cách khai thác yếu tố kiến tạo của kiến trúc truyền thống đình chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tác giả khiêm tốn tự nhận, thông qua những “thử nghiệm” của mình, ông mong muốn phát triển một phong cách Hiện đại-Dân tộc, có sự khác biệt với kiến trúc các nước đồng văn như Trung Quốc, Nhật Bản. Từ đó, các công trình của ông luôn tìm cách nhấn mạnh về đặc điểm “lộ kết cấu một cách dứt khoát và rõ ràng” (Hưng, 1989). Đó là hệ cột–xà-kẻ bằng gỗ với mái đao, tàu ván được chuyển hóa một cách tự nhiên, khúc triết thành những cấu trúc dầm cột bê tông, những tuyến vát và hình khối mạnh mẽ của kiến trúc hiện đại. “Tiếc rằng, trong lần sửa chữa gần đây của bệnh viện Việt Pháp, những nét kiến trúc dân tộc cũng không còn được lưu giữ như nguyên bản của tác giả.”
Giảng đường nhà U – Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội của KTS Nguyễn Tiến Thuận có mái sảnh lớn vát dốc mạnh mẽ cùng cổng chào phía trước gợi lên được hình ảnh quen thuộc của mái đình dân tộc. Tính kiến tạo của hệ kết cấu truyền thống trở nên đồng điệu một cách tự nhiên với hệ cấu trúc của kiến trúc hiện đại qua những hàng cột cao, vuông vắn mang các mảng phù điêu theo phong cách phương Tây. Tổng thể công trình mang lại cảm giác vừa mới lạ, vừa quen thuộc.
Công trình Đài Tưởng niệm Liệt sĩ Bắc Sơn là hình ảnh một ngôi miếu thờ dân gian truyền thống. Phần không gian âm khoét cắt vát vào tâm của Đài có hình một tấm bia đá, đại diện cho anh linh các liệt sĩ, vốn là hư ảnh, không thể nhìn thấy, nhưng là sự vờn quyện trong khói hương, có thể cảm nhận được. Khối âm ở giữa này mở thông ra bốn phía, nhấn mạnh thêm ý tưởng về ngọn tháp chùa lắng nghe khổ đau của nhân gian. Công trình đã toát lên chiều sâu bi tráng và sự oai hùng rực rỡ của lịch sử dân tộc trong sự khiêm nhường của hình khối tự thân, mà không cần đến chi tiết hoặc phương tiện biểu đạt cầu kì.
Công trình nhà ga T1 Sân bay quốc tế Nội Bài của các KTS: Lương Anh Dũng và Thân Hồng Linh hoàn thành năm 2001. Các tác giả đã thành công khi kết hợp hài hòa được giữa những ràng buộc khách quan của hiện trường, dây chuyền kỹ thuật của một thể loại công trình phức tạp và đòi hỏi mang tính biểu tượng văn hóa của một công trình bộ mặt của quốc gia. Phương án kiến trúc mới đã biểu đạt rất tốt tinh thần của kiến trúc truyền thống Việt mà không cần dựa vào sự biện giải minh họa của ngôn từ để truyền tải ý tưởng. Hệ mái ba nhánh được nhấn mạnh nổi bật với hành khách khi tiếp cận ở điểm nhìn từ trên cao khi hạ cánh. Đây là một thành công mà các tác giả đã khéo léo tận dụng để truyền tải thông điệp về kiến trúc dân tộc. Bộ mái và hệ cột bên ngoài biểu đạt rất rõ sự chắc chắn, tinh thần linh họat của cấu trúc lắp ghép của kiến trúc truyền thống. Thành công này đạt được nhờ vào sự biểu đạt trung thực, logic, và rõ ràng đặc tính kiến tạo tự thân của công trình. Đây cũng là công trình kiến trúc tầm cỡ quốc gia cuối cùng cho đến thời điểm này mà KTS Việt Nam chủ trì thiết kế (!)
Ở giai đoạn từ năm 2000 cho đến nay, sự thâm nhập của các KTS và tổ chức tư vấn nước ngoài vào lĩnh vực kiến trúc xây dựng Việt Nam ngày càng sâu rộng. Cùng với đó là sự hòan thiện và lớn mạnh của đội ngũ KTS địa phương, nhất là trong khu vực tư nhân. Sự hỗn loạn kiến trúc của thập niên trước cũng dần lặng xuống, để làm nổi những sản phẩm kiến trúc chất lượng hơn, “sạch sẽ” hơn. Tuy nhiên, sự hiện diện của KTS và các đơn vị tư vấn thiết kế Việt Nam lại có phần nhạt nhòa hơn so với giai đoạn trước. Một loạt công trình trọng điểm của Nhà nước, bộ, ngành hoặc công trình điểm nhấn của khối tư nhân nhưng mang tính biểu tượng cao, đại diện cho sự phát triển của đất nước cũng như nền kiến trúc Việt Nam đều được thiết kế bởi KTS nước ngoài. Danh sách 20 công trình tiêu biểu của thời kì đổi mới được hội KTS Việt Nam lựa chọn năm 2008 thì đã có quá nửa là tác phẩm của các tư vấn quốc tế. Trong những tác phẩm của người Việt trong danh sách thì cũng phần lớn là công trình xây dựng từ trước năm 2000. Các Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia sau năm 2000 đã thể hiện sự phân hóa và thay đổi rõ rệt, phản ánh thực trạng phát triển của nền kiến trúc Việt Nam trong sự đa dạng thể loại, quy mô dự án và hội nhập về khía cạnh hành nghề. Các KTS nước ngoài thường chiếm lĩnh giải thưởng ở các công trình quy mô lớn, phức tạp hoặc thể loại mới. Họ từng 3 lần chiếm vị trí cao nhất của Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia với Trung tâm Hội nghị Quốc gia (2006), Dolphin Plaza (2012) và Nhà Quốc hội (2014). Đây đều là những dự án mà giới chuyên môn địa phương trong thời điểm đó chưa tích tụ đủ kinh nghiệm. Còn KTS Việt Nam chiến thắng những giải cao nhất chủ yếu là các thể loại công trình quen thuộc, ít phức tạp, quy mô vừa và nhỏ, thậm chí rất nhỏ như những nhà ở gia đình hoặc thậm chí những không gian cộng đồng cấp xã.
Ở cấp độ vĩ mô, về mặt lý thuyết, các công trình cấp quốc gia (Nhà Quốc hội, Trung tâm Hội nghị Quốc gia, các Bảo tàng Quốc gia), được Nhà nước đầu tư. Các công trình này phản ánh rất rõ quan điểm của Chính phủ và xã hội về đường hướng phát triển văn hóa quốc gia nói chung và kiến trúc nói riêng. Một mặt, những công trình này như sự diễn trình cho gốc văn hóa dân tộc, biểu đạt cho truyền thống, để thể hiện các đặc trưng giá trị quốc gia. Mặt khác, những công trình kiến trúc đó cũng có thể xem như biểu đạt cho khát vọng, trình độ phát triển của một quốc gia. Để từ đó truyền tải đi thông điệp cho sự hiện diện Của mốc “định vị” cho quốc gia trong thời đại toàn cầu hoá. Trên thực tế, không khó để thấy những công trình đặc biệt cấp quốc gia (vốn chưa bao giờ tồn tại trong lịch sử Việt Nam) này đều sử dụng khuynh hướng tạo hình hiện đại về hình thức và không gian kiến trúc, sử dụng những hình khối mạnh mẽ gãy gọn và khúc triết đến từ các công ty kiến trúc quốc tế. Về kỹ thuật, các công trình này được hoàn thiện tốt, kèm theo các hệ thống kỹ thuật có chất lượng cao, đáp ứng những đòi hỏi phức tạp về công năng. Những yếu tố đặc trưng của Việt Nam ở những công trình này thường trở nên trừu tượng hơn, điển hình hơn trong hình khối kiến trúc hoặc trong sự diễn giải những motif điển hình của Việt Nam trong con mắt người nước ngoài. và mang tính đương đại hơn với đa số công chúng trong nước. Ví dụ như bộ mái Trung tâm Hội nghị Quốc gia đại diện cho hình ảnh “Sóng biển Đông” hoặc khái niệm quen thuộc “Trời tròn, đất vuông” của nền văn hóa Á Đông trong bố cục hình khối của Nhà Quốc hội. Thậm chí, Khách sạn J.W Marriott Hà Nội của Carlos Zapata Studio được chủ đầu tư thuyết minh như “con Rồng huyền thọai đang cuộn mình bay lên bên bờ biển Đông” trong một khối kính của Chủ nghĩa Giải cấu trúc (Deconstructivism). Tuy nhiên, những công trình này, nếu gạt bỏ đi những diễn ngôn minh họa của KTS thì dường như có thể đặt được ở nhiều quốc gia lân cận có những đặc điểm văn hóa tương đồng.
Ở cấp độ thấp hơn, những công trình được xây dựng tại các địa phương lại có khả năng biểu đạt tốt hơn những đường nét kiến trúc đặc trưng hoặc dấu ấn địa điểm. Ví dụ như Bảo tàng Đắk Lăk của KTS Nguyễn Tiến Thuận. Đây chỉ là những ví dụ hiếm hoi của một nền kiến trúc phát triển mạnh mẽ và đa dạng trong thời gian vừa qua.
Yếu tố truyền thống, tính địa phương, có lẽ được biểu đạt tốt hơn và rõ nét hơn ở những công trình có quy mô vừa và nhỏ. Những công trình này được phát triển chủ yếu ở giai đoạn sau năm 2000. Vượt khỏi sự sao chép công trình giả cổ, mô phỏng lại những hình thức kiến trúc trong nhiều công trình cổ hoặc theo đuổi những trào lưu mới lạ, nhiều KTS Việt đã chọn hướng đi mới rất đáng khích lệ đó là con đường học hỏi từ truyền thống, phát huy tri thức của tiền nhân. Thông qua các sáng tạo dựa trên những nền tảng văn hóa, lịch sử của dân tộc và sự hiểu biết sâu sắc về bối cảnh địa phương. Đây chính là lợi thế của các KTS Việt trong cuộc cạnh tranh với các đồng nghiệp nước ngoài.
Khuynh hướng này bao gồm các công trình có kết hợp nhuần nhuyễn giữa các đặc điểm văn hóa địa phương với ngôn ngữ tạo hình hiện đại. Cách tiếp cận này được thực hiện trên các chất liệu mang tính văn hóa của kiến trúc Việt Nam như tâm thức cộng đồng, hình ảnh dân gian, không gian truyền thống, hoặc cảnh quan địa phương. Các yếu tố cảnh quan thiên nhiên, ánh sáng tự nhiên, vật liệu địa phương vốn là những thành tố quen thuộc của kiến trúc truyền thống được các KTS vận dụng để định hình không gian sống của người Việt hiện đại. Cùng với đó là các giải pháp sử dụng các công nghệ vật liệu truyền thống theo một phương cách mới với sự kết hợp của công nghệ để chuyển tải bản sắc nhưng vẫn theo kịp thời đại. Thế hệ các KTS trẻ trưởng thành đầu thế kỷ 21 là những người đi đầu trong hướng này. Những tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như: Bar cafe Gió và nước (KTS Võ Trọng Nghĩa) với các kĩ thuật xử lý tre đặc biệt; Nhà cộng đồng Nậm Đăm, Làng Mít (KTS Hoàng Thúc Hào). – Với những vật liệu tre, đất kết hợp xi măng được thay đổi công nghệ xử lý cũng như cách sử dụng để phù hợp với giải pháp thiết kế và thẩm mỹ mới, nhưng vẫn mang được hơi thở địa phương. Hoặc các thiết kế sử dụng các vật liệu tái chế, nhấn mạnh vào cảm xúc về sự thay đổi của ánh sáng, của không gian – thời gian và tính địa điểm trong công trình kiến trúc của KTS Nguyễn Hòa Hiệp (công trình iResort) và KTS Nguyễn Hà (công trình Bảo tàng Đạo Mẫu).
Những thành công này đạt được không dựa vào mô phỏng yếu tố hình thức, hoặc sự biện giải ngôn từ cho những cảm nhận gần gũi của công trình kiến trúc, mà qua sự diễn giải sáng tạo trong tạo hình, sử dụng vật liệu truyền thống và xử lý không gian để kéo dài cảm nhận về tính địa phương trong kiến trúc đương đại. Từ đó, tinh thần địa phương được truyền tải thông qua sức mạnh biểu đạt của sự đại diện và khả năng gợi liên tưởng của công trình kiến trúc. Những thành công kể trên phải chăng có thể được xem như sự gợi mở ra một “Truyền thống mới”? (mượn chữ của Sigfried Giedion trong tác phẩm nổi tiếng Space, Time and Architecture: The Growth of a New Tradition (Không gian, thời gian và kiến trúc: Sự lớn mạnh của một truyền thống mới).
4. Kết luận
Chúng ta chỉ có thể thấy rằng: Tất cả những biến đổi của kiến trúc Việt Nam sau năm 1986 đều đến từ quá trình mở cửa, hòa nhập và thích ứng với thế giới bên ngoài, hòa vào dòng chảy của quá trình toàn cầu hóa. Một mặt, kiến trúc phải nói được tiếng nói của thời đại, biểu đạt được sự phát triển của xã hội, của đất nước. Nhưng mặt khác, kiến trúc là sản phẩm của một địa phương, một quốc gia, một cộng đồng dân tộc cụ thể. Trong bối cảnh một đất nước vượt qua hơn nửa thế kỉ chiến tranh giành độc lập, giành lấy quyền tự quyết như Việt Nam thì khát vọng biểu đạt tính địa phương, tính dân tộc đó càng mãnh liệt.
Tình huống khó khăn này diễn ra không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác. Tìm tòi và khai thác giá trị truyền thống trong kiến trúc phụ thuộc vào ý thức và trình độ của các KTS, vào nhận thức và ý chí của chủ đầu tư. Mong muốn theo đuổi những kiến trúc hiện đại, lấy cảm hứng từ những công trình quốc tế hoặc từ nền văn hóa của một quốc gia khác của các chủ đầu tư và KTS không có gì sai. Sự hào nhoáng của hiện đại, của khoa học kỹ thuật trong kiến trúc có sự hấp dẫn khó cưỡng vì đó là lời mời gọi của tương lai. Đó là quyền, nhận thức và nền tảng văn hóa tri thức của mỗi cá nhân. Mong ước này cũng không hề ngược lại với mong muốn tạo dựng một nền kiến trúc mang giá trị truyền thống dân tộc và địa phương. Từ thành công hay thất bại của công trình từ sau 1986 đến nay gợi ý cho chúng ta những hướng đi cho tương lai của kiến trúc Việt Nam – Chỉ khi các KTS Việt Nam hiểu biết về vốn văn hóa của dân tộc, địa phương mình, và cảm nhận được đòi hỏi thiết thực của trong lối sống những con người Việt Nam từ trước đến nay, thì khi đó họ mới có thể vượt lên trên những sự sao chép đơn giản của quá khứ hay ngoại lai. Như Paul Riceaur (1961), nhà triết học người Pháp đã từng nói: “Chỉ có một nền văn hóa, tự hào về nguồn gốc và sáng tạo nghệ thuật (của mình), thì có khả năng chống đỡ sự gặp gỡ với nền văn hóa khác”. Chỉ khi đó, kiến trúc Việt Nam mới vững chân, tự tin đón nhận tương lai dưới sức ép của toàn cầu hóa và khoa học kỹ thuật, vượt qua được nan đề: Quốc tế – Địa phương. Nền kiến trúc dân tộc sẽ cho phép mỗi công trình nói lên được tiếng nói của con người và mảnh đất nơi nó được xây dựng, viết tiếp câu chuyện về sự phát triển của nền văn hóa của xã hội đã sản sinh ra nó. Những yếu tố truyền thống đó có vốn khả năng thích ứng với với hòan cảnh khí hậu, thế giới quan tinh thần của người Việt Nam hiện đại.
ThS.KTS Nguyễn Mạnh Trí – TS.KTS Trương Ngọc Lân
Khoa Kiến trúc và Quy hoạch, ĐH Xây dựng Hà Nội.
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 8-2024)
Tài liệu tham khảo.
– Cường, T. M. (2021): “Biểu hiện tính bản địa trong kiến trúc đương đại Việt Nam” – ĐH Kiến trúc Hà Nội.
– Đại, T. T. (1988): “Các xu hướng kiến trúc ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20” – ĐH Xây dựng Hà Nội.
– Đang, N. B. (Ed.). (1999): “Bàn về vấn đề dân tộc và hiện đại trong kiến trúc Việt Nam (Viện nghiên cứu kiến trúc)” – Nhà Xuất bản Xây dựng.
– Đức, N. D. (1999): “Các khuynh hướng kiến trúc trong các công trình văn hóa ở Việt Nam từ 1975-1999” – ĐH Kiến trúc Hà Nội.
– Hoàng, Đ. T. (1995): “Kiến trúc công cộng đương đại Hà Nội (1975-1995)” – Tạp chí Kiến Trúc, 2.
– Hưng, N. V. (1989): “Vài suy nghĩ về kiến trúc dân tộc và thử nghiệm” – Tạp chí Kiến Trúc, 3, 50–55.
– Kính, H. Đ. (2012): “Văn hóa kiến trúc (Culture architecturale)” – Nhà xuất bản Tri thức.
– Nguyên, N. S. H. (2016): “Đặc trưng khai thác văn hóa truyền thống trong kiến trúc nhà ở tại các đô thị lớn ở Việt Nam” – ĐH Kiến trúc TP HCM.
– Ricoeur, P. (1961): “Civilisation universelle et cultures nationales” – Esprit (1940-), 299 (10), 439–453.
– Sơn, L. T. (2000): “Hiện tượng cộng sinh văn hóa giữa tính truyền thống và tính hiện đại trong kiến trúc Việt Nam từ cuối thế kỉ 19 đến giữa thế kỉ 20” – ĐH Kiến trúc TP HCM.
– Thành, N. T. (2004): “Yếu tố văn hóa trong kiến trúc các công trình biểu diễn ở Việt Nam” – ĐH Kiến trúc Hà Nội.
– Trang, L. T. X. (2019): “Diễn giải truyền thống trong kiến trúc Việt Nam đương đại” – ĐH Kiến trúc TP HCM.























