Tóm tắt:
Nhà Rường là loại hình kiến trúc nhà ở truyền thống tiêu biểu của miền Trung Việt Nam, phát triển mạnh trong giai đoạn Đàng Trong và triều Nguyễn, phản ánh sự kết hợp giữa kỹ thuật xây dựng, tổ chức không gian và tư tưởng văn hóa truyền thống. Trước nguy cơ mai một do quá trình đô thị hóa và sự suy giảm số lượng công trình nguyên gốc, nghiên cứu này hướng đến việc hệ thống hóa tri thức về Nhà Rường thông qua việc làm rõ khái niệm, phân loại và quy mô mặt bằng kiến trúc. Nghiên cứu dựa trên khảo sát 72 ngôi Nhà Rường được xây dựng trong giai đoạn 1830-1945 tại bốn tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi, kết hợp đo vẽ kiến trúc, phân tích hình thái, số hóa dữ liệu và phỏng vấn nghệ nhân mộc truyền thống. Kết quả xác định: Ba thể loại kiến trúc chính gồm Nhà Rường Mái Lưa, Nhà Rường Vỏ Cua và Nhà Rường Cổ Lâu; đồng thời cho thấy quy mô mặt bằng được tổ chức theo mô-đun gian và chái với hai dạng cơ bản là một gian hai chái và ba gian hai chái. Cấu trúc không gian phản ánh tư tưởng Âm-Dương, vũ trụ quan Kinh Dịch và một logic thiết kế mô-đun có khả năng mở rộng, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho bảo tồn, số hóa và phát huy giá trị kiến trúc Nhà Rường trong bối cảnh đương đại.
Từ khóa: Nhà Rường, Kiến trúc gỗ, Hình loại kiến trúc, Tổ chức không gian, Miền Trung Việt Nam.
Giới thiệu
Bối cảnh nghiên cứu
Các tổ chức quốc tế nghiên cứu về Nhà Rường đã có những hướng tiếp cận và cách đặt tên khác nhau: Cộng đồng Lille của Pháp gọi là “Nhà Di sản”, các nhà nghiên cứu Nhật Bản gọi là “Nhà Truyền thống”, các nhà nghiên cứu trong nước thường dùng những thuật ngữ thông dụng là “Nhà Rường”, “Nhà Giàn trò” hay nôm na là “Nhà Cổ” (Hình 1, 2). Đây là một loại hình kiến trúc dân dụng đã ra đời, tồn tại và phát triển hàng trăm năm trong quá khứ, vẫn còn tồn tại và được ưa chuộng cho đến ngày nay, nhưng đã mất vai trò là loại hình kiến trúc chủ đạo do sự thay đổi về điều kiện kinh tế – xã hội, nhu cầu và thị hiếu về nhà ở.
Nhà Rường đã hình thành, phát triển và hưng thịnh qua nhiều thế kỷ tại miền Trung Việt Nam, khu vực từng thuộc lãnh thổ Đàng Trong (1558-1777) [1], dưới triều Nguyễn (1802-1945), vùng này được gọi là Ngũ Quảng Dinh, bao gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (sau đổi thành Thừa Thiên Huế), Quảng Nam và Quảng Ngãi [2]. Để phản ánh chính xác đặc điểm vùng miền nơi Nhà Rường được hình thành và phát triển, nghiên cứu này sử dụng địa danh hành chính trước tháng 9/2025.
Nhà Rường là thể loại kiến trúc truyền thống đặc sắc có giá trị kiến trúc nghệ thuật cao, đồng thời hàm chứa giá trị khoa học công nghệ xây dựng có khả năng ứng dụng rộng rãi. Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đồng thời với hiện tượng bê-tông hóa đô thị và đô thị hoá nông thôn đã làm mất mát một lượng lớn các công trình di sản kiến trúc truyền thống. Hoạt động mua bán và hiện tượng “di cư” Nhà Rường từ miền Trung vào miền Nam để tái sử dụng làm các khu resort nghỉ dưỡng cao cấp, các nhà hàng quán cafe sang trọng đã minh chứng cho giá trị hữu dụng và giá trị thẩm mỹ của loại hình kiến trúc này. Tuy nhiên, việc di dời hoặc phá hủy các công trình kiến trúc truyền thống thường kéo theo sự mai một ký ức văn hóa, đồng thời làm thất truyền tri thức đã được tích lũy. Trước thực trạng đó, nghiên cứu này hướng tới việc đúc kết tri thức và số hóa tư liệu, qua đó góp phần bảo tồn và nâng cao nhận thức học thuật về loại hình kiến trúc nhà ở truyền thống này.
Tư liệu và phương pháp
Mặc dù bối cảnh lịch sử và văn hóa phong phú, các nghiên cứu toàn diện về Nhà Rường vẫn còn hạn chế. Các công trình nghiên cứu nước ngoài thời kỳ đầu cung cấp những tư liệu gốc quý giá, tiêu biểu là nghiên cứu của Leo Craste (1939) và Nguyễn Bạt Tụy (1992) ghi chép các cuộc phỏng vấn với thợ mộc truyền thống [3], và Pierre Gourou (1925, 1936) với các khảo cứu dân tộc học kiến trúc [4]. Theo đó, vào đầu thế kỷ 20 ở miền Trung Việt Nam vẫn còn tồn tại ba loại hình nhà ở dân gian truyền thống gồm: Nhà Rội, Nhà Rường và Nhà Lá Mái. Trong đó, Nhà Rường là loại phổ biến nhất ở khu vực từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi, được sử dụng một cách rộng rãi cho nhiều tầng lớp trong xã hội, đó là lý do Nhà Rường được chọn để thực hiện nghiên cứu này.
Mặt cắt dọc – Nhà Rường Mái Lưa
(Trường hợp: Nhà Vườn An Hiên – 58 Nguyễn Phúc Nguyên, phường Hương Long, TP. Huế)
Nghiên cứu đặc biệt chú trọng khảo sát và phân tích chuyên sâu 72 ngôi nhà thuộc bốn tỉnh gồm Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi, được xây dựng trong giai đoạn 1830-1945 (dữ liệu khảo sát của Dự án điều tra nhà truyền thống Việt Nam, ĐH Nữ Showa–Nhật Bản, 1997-2001)[5]. Riêng tỉnh Quảng Bình, nằm ở vùng giáp ranh giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, từng là chiến trường trọng điểm trong chiến tranh (1954-1975), vì vậy phần lớn nhà truyền thống tại khu vực này đã bị tiêu hủy.
Quá trình tư liệu hóa bao gồm khảo sát kiến trúc toàn diện đối với từng công trình. Mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng và các cấu kiện gỗ được đo vẽ và phân tích một cách hệ thống. Dữ liệu hiện trường được thu thập thông qua phương pháp kết hợp giữa phác họa thủ công, đo đạc phân lớp kích thước và chụp ảnh kỹ thuật số độ phân giải cao nhằm đảm bảo ghi nhận chính xác cả hệ kết cấu lẫn các chi tiết trang trí, được số hóa bằng AutoCAD và Excel, cho phép phân tích so sánh và lưu trữ có hệ thống các đặc trưng kiến trúc. Song song với hoạt động khảo sát, nghiên cứu cũng tiến hành các cuộc phỏng vấn điều tra xã hội học đối với chủ nhà và kỹ thuật học kiến trúc đối với những nghệ nhân mộc địa phương nhằm ghi nhận hệ thống thuật ngữ dân gian về tên gọi các cấu kiện gỗ và không gian chức năng trong kiến trúc Nhà Rường.
Nội dung nghiên cứu
Khái niệm
Thuật ngữ Nhà Rường đã từng được diễn giải bởi Pierre Gourou [6] với nghĩa là cái Rương (hòm chứa đồ). Tuy nhiên, khảo sát thực địa cho thấy phía trên của các gian chính có môt căn gác, dùng để cất giữ đồ đạc và là nơi tá túc khi lũ lụt xảy ra. Hình thức giống chiếc rương của của bộ phận này có thể là nguyên nhân dẫn đến sự nhầm lẫn về phương ngữ trong cách diễn giải của Gourou.
“Nhà” nghĩa là nơi ở, còn “Rường” có từ nguyên Hán–Việt là Lương (樑) [7], nghĩa là dầm hoặc xà nhà, một cấu kiện kết cấu quan trọng trong kiến trúc gỗ. Cả hai từ Rường và Lương đều được sử dụng trong lĩnh vực kiến trúc và diễn ngôn chính trị, Lương hay Rường còn được dùng theo nghĩa ẩn dụ để chỉ những người gánh vác trọng trách quốc gia, như trong các cụm từ “Lương đống triều đình” hay “Rường cột nước nhà. Theo thời gian, Nhà Rường trở thành tên gọi riêng cho loại hình kiến trúc này. Ngoài ra, vẫn tồn tại cách gọi khác nhằm phân biệt quy mô kiến trúc là nhà “Nhất gian nhị hạ và “Tam gian nhị hạ”. Các thuật ngữ Gian (間) và Hạ (廈) đều có nguồn gốc Hán Việt. “Gian” có nghĩa là khoảng không gian chỉ khoảng cách giữa hai bộ vì kèo, tương đương với căn; còn “hạ” có nghĩa bên dưới hoặc hạ xuống, chỉ các khoảng không gian phụ thấp hơn ở hai bên ngôi nhà, tương đương với chái. Vì vậy, tam gian nhị hạ là cách gọi theo Hán–Việt, trong khi ba căn hai chái là cách gọi tương đương theo tiếng Nôm.
Theo đó, các thuật ngữ có thể được hiểu như sau: Lương (樑) = Rường → Nhà Rường truyền thống ; Đống (棟) = Đông → Đòn đông / xà nóc; Gian (間) = Căn → Gian / căn phòng; Hạ (廈) = Chái → Chái / không gian phụ hai bên các gian. Một cách gọi thứ ba, rất phổ biến và thường được các thợ mộc sử dụng, là sự kết hợp giữa Hán–Việt và Nôm, như một gian hai vhái hay ba gian hai chái (Hình 3, 4). Ngoài ý nghĩa định danh quy mô kiến trúc, gian còn là một đơn vị đo lường truyền thống trong thiết kế kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam, một gian tương đương sáu đơn vị đo cổ truyền gọi là Xích hoặc Thước (尺) [8].
Các thể loại kiến trúc Nhà Rường
Nhà Rường Mái Lưa
Nhà Rường Mái Lưa (hình 5, 6) là tên gọi dựa trên hình thức mặt đứng kiến trúc, chữ “Lưa” xuất phát từ cách phát âm của người Chăm: “Lưa còn” (tức là thêm vào), mái Lưa (hay còn gọi mái Hiên) là bộ phận thêm vào ở mặt trước ngôi nhà nhằm cản bớt mưa nắng hắt trực tiếp vào bên trong. Loại nhà này rất phổ biến ở vùng nông thôn (thường là nhà của phú nông, địa chủ) hoặc ở cả thành thị (nhà của tầng lớp trung lưu, nho gia thành đạt).
Nhà Rường Vỏ Cua
Nhà Rường Vỏ Cua (Hình 7, 8) cũng là tên gọi dựa trên hình thức kiến trúc, “Vỏ Cua” (Huế) hay còn gọi là “Võ Ca” (Quảng Nam) là tiểu hạng mục kiến trúc thêm vào phía trước nhà chính, nó là một dạng không gian mở chuyển tiếp giữa ngoài và trong, thường dùng để làm nơi hóng mát, thưởng trà, bình thơ, có khi còn được sử dụng như là một sân khấu nhỏ cho việc diễn xướng dân gian, hát bội, hoặc nơi các đồ nho dạy học. Loại nhà này rất phổ biến ở thành thị (nhà của thân huân hoàng tộc, quan lại triều đình, hoặc giới thượng lưu, nho gia).
Nhà Rường Cổ Lâu
Nhà Rường Cổ Lâu (Hình 9, 10) là loại nhà kép gồm 2 kiến trúc hợp thành: “Chính doanh” (nhà chính ở phía sau) và “Tiền đàng” (nhà phụ phía trước). Loại này có đẳng cấp cao hơn, chỉ dành cho quan lại triều đình (Tam phẩm đến Nhất phẩm) ở thành thị.
Theo đó, quy mô kiến trúc lớn hơn và các hình thức trang trí nội ngoại thất cũng được trau chuốt tinh xảo hơn.
Nhà ở của các quan lại có phẩm trật cao của triều Nguyễn được quy hoạch xây dựng gần khu vực Kinh thành Huế, những vị quan này đều được biên chế làm việc ở Nội Các, Viện Cơ Mật, hoặc khu Lục Bộ (Sáu cơ quan cấp Bộ của triều đình nhà Nguyễn) nên gia thất cũng phải ở gần nơi làm việc. Các vị quan có phẩm trật thấp hơn có thể chọn vị trí chỗ ở riêng phù hợp với điều kiện của gia đình mình, tuy nhiên Nhà Rường luôn là sự lựa chọn đầu tiên của họ vì việc sở hữu loại nhà này như là thang tiêu chuẩn thể hiện phẩm cách và đẳng cấp của họ trong xã hội.
Quy mô mặt bằng kiến trúc
Quy mô kiến trúc của nhà Rường chủ yếu được quyết định bởi số lượng gian và chái trên mặt bằng. Theo đó, số lượng gian luôn là số lẻ, tạo nên một không gian trung tâm (trung gian) và được đặt đối xứng hai bên bởi các gian phụ (tả/hữu gian), cùng các chái luôn là số chẵn nhằm duy trì tính đối xứng hai bên qua trục chính của ngôi nhà. Quy mô mặt bằng kiến trúc có hai loại phổ biến như sau:
Một gian hai chái kép
Đây là loại Nhà Rường có quy mô nhỏ, tương ứng với bộ vì kèo sáu cột, thường gắn liền với các hộ gia đình có thu nhập trung bình hoặc các gia đình nông thôn có điều kiện kinh tế khiêm tốn (Hình 3). Quan sát mặt cắt ngang cho thấy một gian trung tâm duy nhất đóng vai trò là lõi không gian chính và là trục đối xứng, sắp xếp các chái kép đối xứng hai bên gian trung tâm. Sự sắp đặt này phản ánh một bố cục không gian hợp lý và hiệu quả. Loại này được xem là nguyên mẫu cơ bản để phát triển thành các loại hình Nhà Rường khác.
Có hai biến thể của loại Nhà Rường này được xác định là kiểu một gian hai chái đơn, tương ứng với bộ vì kèo bốn cột (được quan sát thấy trong vài trường hợp ở tỉnh Quảng Ngãi); và kiểu một gian hai chái tam, tương ứng với bộ vì kèo tám cột, biến thể này rất hiếm gặp, với chỉ một trường hợp duy nhất được ghi nhận là Nhà thờ Diên Phước Trưởng Công Chúa (phường Kim Long, TP Huế).
Ba gian hai chái kép
Loại Nhà Rường này được coi là loại tiêu chuẩn và thường gắn liền với các hộ gia đình quan lại hoặc các gia đình giàu có (Hình 4). Phân tích mặt cắt ngang cho thấy gian trung tâm đóng vai trò then chốt trong việc tổ chức toàn bộ bố cục không gian, với các gian thứ và các chái kép đối xứng được sắp đặt cân đối ở hai bên. Loại nhà này có thể đại diện cho giai đoạn đầu của việc mở rộng không gian trong quá trình tiến hóa của Nhà Rường, được phát triển từ cấu hình cơ bản của loại một gian hai chái kép. Loại này cũng có một biến thể khác được ghi nhận là ba gian hai chái đơn, tương ứng với bộ vì kèo bốn cột. Biến thể này xuất hiện tập trung ở khu vực tỉnh Quảng Ngãi và rải rác một vài nơi khác trong địa bàn nghiên cứu.
Theo Hoàng Việt Luật Lệ (Luật Gia Long) của triều Nguyễn, quy mô của các công trình nhà ở, từ quan lại xuống đến dân thường, bị giới hạn không vượt quá cấu trúc ba gian hai chái, và chiều cao mái hiên không được phép vượt quá chiều cao kiệu của một vị quan ngồi khi đi tuần [9]. Do đó, các ngôi Nhà Rường được khảo sát nhìn chung bị giới hạn trong hai loại hình đề cập trên đây, với phần chái có thể là chái đơn hoặc chái kép tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và nhu cầu công năng của hộ gia đình. Trong trường hợp kiến trúc Phủ đệ (nơi ở của gia đình các hoàng tử), số lượng gian có thể dao động từ ba đến năm gian. Khung pháp lý này có thể giải thích lý do tại sao loại Nhà Rường ba gian hai chái là loại phổ biến nhất.
Kết luận
Nghiên cứu đã hệ thống hóa các đặc trưng cơ bản của kiến trúc Nhà Rường miền Trung Việt Nam thông qua việc làm rõ khái niệm, phân loại và quy mô mặt bằng trên cơ sở khảo sát 72 công trình được xây dựng trong giai đoạn 1830–1945. Kết quả cho thấy Nhà Rường là một loại hình kiến trúc truyền thống có hệ thống phân loại tương đối rõ ràng, gồm ba thể loại chính: Mái Lưa, Vỏ Cua và Cổ Lâu, phản ánh sự đa dạng về hình thức kiến trúc, điều kiện sử dụng và địa vị xã hội của chủ sở hữu.
Phân tích quy mô mặt bằng cho thấy Gian và Chái là hai mô-đun cơ bản quyết định tổ chức không gian của Nhà Rường. Hai dạng mặt bằng phổ biến nhất là một gian hai chái và ba gian hai chái, trong đó loại ba gian hai chái giữ vai trò hình thức tiêu biểu, phù hợp với quy định xây dựng dưới triều Nguyễn cũng như nhu cầu sử dụng của đa số hộ gia đình. Sự tổ chức không gian theo trục đối xứng cùng khả năng biến đổi từ mô-đun cơ bản đã tạo nên một hệ thống thiết kế có tính thống nhất, linh hoạt và thích ứng với điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa của từng nhóm cư dân.
Bên cạnh việc làm rõ hệ thống thuật ngữ và đặc điểm hình thái của Nhà Rường, nghiên cứu cũng góp phần bổ sung cơ sở tư liệu phục vụ công tác bảo tồn và số hóa di sản kiến trúc truyền thống.
Các kết quả đạt được là nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo về hình thái kiến trúc, tỷ lệ kết cấu, logic mô-đun, khả năng thích ứng khí hậu và việc vận dụng các nguyên lý thiết kế của Nhà Rường vào thực hành kiến trúc đương đại theo định hướng phát triển bền vững.
TS. KTS Lê Vĩnh An1
TS. KS Nguyễn Trọng Sơn Hà2
1 Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM
2 Khoa Kỹ thuật-Công nghệ, Trường ĐH Cửu Long, Tỉnh Vĩnh Long
Nguồn ảnh: Tác giả
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 06-2026)
Tài liệu tham khảo:
[1] L. Tana: Xứ Đàng Trong – Miền Nam Việt Nam trong các thế kỷ 17–18 (Nguyen CochinChina – Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries) – Ấn phẩm của Chương trình Nghiên cứu Đông Nam Á (Southeast Asia Program Publications), 1998, tr. 117; J. M. Pluvier, Tập bản đồ lịch sử Đông Nam Á (Historical Atlas of South-East Asia), Leiden – Nework – Koln, 1995, tr. 28;
[2] Quốc Sử Quán Triều Nguyễn: Đại Nam Nhất Thống Chí, Kinh Sư (大南一統志, 京師), Nhà xuất bản Văn Hóa, 1960, tr. 105;
[3] L. Craste L: Nghiên cứu về nhà ở An Nam tại Huế và vùng phụ cận (Etude Sur L’habitation Annamite a Hue et Dans Les Environs), Kỷ yếu Hội Những người bạn Cố đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Hue), tr. 29–39, 1939; N. B. Tụy, Những kiểu nhà cổ ở Quảng Trị, Tạp chí Xây dựng mới, số 3, 1986; N. B. Tụy, Những kiểu nhà xưa ở Quảng Nam, Tạp chí Văn hóa, số 59, tr. 27-32, 1992;
[4] P. Gournou: Phác thảo một nghiên cứu về cư trú An Nam tại Bắc và Trung Trung Kỳ, từ Thanh Hóa đến Bình Định – Kỷ yếu Hội Những người bạn Cố đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Hue), tr. 30–40, 1936;
[5] ĐH Nữ Showa: Dự án điều tra nhà truyền thống Việt Nam (Dự án nghiên cứu này được thực hiện bởi Đại học Nữ Showa–Nhật Bản, phối hợp với Cục Di sản Văn hóa–Bộ Văn hóa Việt Nam, Hội KTS Việt Nam, Trường ĐH Kiến trúc Hà Nội và Trường ĐH Kiến trúc TP. HCM) giai đoạn 1997–2001;
[6] P. Gournou: Khảo sát sơ bộ về nhà ở tại Thừa Thiên Huế (Preliminary Survey on Housing in Thua Thien Hue), Tạp chí Nghiên cứu & Phát triển Thừa Thiên Huế, số 4(34), tr. 92–93, 2001;
[7] L. L. Nghị, J. Waters: Tìm về cội nguồn chữ Hán (Tracing the Origins of Chinese Characters), Nhà xuất bản Thế Giới, 1998, tr. 418; Đ. D. Anh, Từ điển Hán-Việt, Nhà xuất bản Trường Thi, 1957, tr. 530, 1169; V. V. Kính, Đại từ điển chữ Nôm, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 1999, tr. 1187;
[8] L. Q. Đôn: Phủ Biên Tạp Lục – Bộ Văn hóa Quốc gia, Nhà xuất bản Sài Gòn, 1972, tập 1, tr. 160;
[9] Nội Các Triều Nguyễn: Hoàng Việt Luật Lệ (皇越律例) – Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, 2004, tập 3, tr. 115.




























