“Nhà đá, nhà đạp” vùng đồng bằng sông Cửu Long

Khu vực nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có các thuật ngữ “nhà đá, nhà đạp”(1) với ý nghĩa ngôi nhà tạm bợ và không chắc chắn đến mức nếu không cần thiết sử dụng nữa chỉ cần “đá, đạp” một cái là sập ngay. “Nhà đá nhà đạp” còn bị hiểu lầm rằng, người dân ở đây nghèo nên không có khả năng xây dựng nhà chắc chắn.

Trước đây người dân vùng ĐBSCL thường được cho là có lối sống phong lưu, do vùng đất giàu có, được thiên nhiên ưu đãi “làm chơi ăn thiệt”. Nhà ở vùng này tiêu biểu như nhà Thảo bạt, nhà Xếp đọi, nhà Bát dần…còn “nhà đá nhà đạp” thì ít ai nhắc đến. Có chăng chỉ người dân sống trong vùng ngập lũ mới cất loại nhà này. Với quy luật của thiên nhiên, lũ về, chạy lũ và trở lại khi lũ rút, nên ngôi nhà được cất đơn giản, nhẹ, chủ yếu che mưa nắng.

Ngày nay, với khẩu hiệu sống chung với lũ, trên cơ sở phát triển bền vững, chính quyền xây dựng các chương trình tái định cư cho cư dân vùng lũ, theo khảo sát thực tế các tuyến dân cư tôn nền vượt lũ; kiên cố hóa đê bao; nâng cao đường lộ …đã cho thấy yếu tố thích nghi với điều kiện sống của người dân, cũng như cách người dân sinh sống trên vùng đất này từ trước đến nay chưa được nghiên cứu đầy đủ… Phát triển bền vững các quần cư nông thôn-đô thị vùng ĐBSCL đâu chỉ là tôn cao nền khu ở và đường lộ; nhà ở dành cho tái định cư theo kiểu phố hóa, nhưng lại thiếu vắng hạ tầng xã hội ?!

I.Nhà đá, nhà đạp” vùng ĐBSCL

Sông Mê Kông chảy từ Vân Nam, Miến Điện, qua Thái Lan, Lào, Campuchia rồi vào Việt Nam chia làm 2 nhánh gọi là sông Tiền và sông Hậu rồi đổ ra biển bằng 9 cửa nên gọi là sông Cửu Long, lịch sử ĐBSCL do sông Mekong bồi lấp mà thành. Đời sống dân cư vùng này theo con nước, mùa nước nổi hàng năm vào tháng 6 đến hết tháng 11, Nguyễn Hiến Lê đã nghiên cứu lịch sử vùng đất này qua tập khảo cứu 7 ngày trong Đồng Tháp Mười như sau:

“Biển hổ ở Campuchia như một hồ điều tiết lớn, cùng với Đồng Tháp ở vùng ĐBSCL, nhờ vậy mà Campuchia và vùng ĐBSCL tuy năm nào cũng bị lụt mà không thiệt hại trừ những năm nước lớn”. Ông nhận định… “nền kinh tế và đời sống ở Nam Việt chịu ảnh hưởng rất lớn của thủy triều (tr30)Nhờ thủy triều, kinh rạch Nam bộ chiếm một địa vị quan trọng hơn đường bộ…(tr31)”, Nguyễn Hiến Lê đã gọi những người dân sống trên vùng Đồng Tháp Mười là “những dân vô định trên một cánh đồng hoang vu”(1).

Về lối sống và văn hóa, vùng đất này có nhiều người Hoa (chỗ nào có khói, là có Hoa kiều). Đối với lưu dân người Việt, bắt đầu phát triển từ 1698 dưới thời Nguyễn Hữu Cảnh ở Gia Định và Thoại Ngọc Hầu ở ĐBSC. Trước đó, vùng đất này thuộc Thủy Chân Lạp, của người Khmer (người Việt quen gọi là người Miên). Người Miên xứ này hiền lành, làm đủ ăn và lo việc cộng đồng, chùa chiền, còn người Hoa chuyên về kinh tế, buôn bán. Người Việt đến sau nhưng phát triển nhanh do chăm chỉ, tìm kiếm cuộc sống mới. Ngôi nhà của lưu dân Việt cũng là ngôi nhà theo kiểu truyền thống dân gian từ Đàng Ngoài mang vào, còn dân nghèo thì làm nhà tạm che mưa nắng, dần dà làm thêm, chờ vài vụ lúa là có thể làm cái nhà khang trang. Nhà khá giả thì làm nhà 3 gian, 5 gian, hay 3 gian 2 chái… mái lợp ngói với bộ vì, kèo, cột bằng gỗ chắc chắn…còn đối với người dân giăng câu mắc lưới, làm đồng thì ngôi “nhà đá, nhà đạp” là kiểu nhà thích hợp cho cư trú và sinh hoạt.

Từ biên giới Việt – Campuchia ngược lên Biển Hồ, ngôi nhà sàn gỗ rất phổ biến ở vùng này, nhà nổi, nhà bè vùng Biển Hồ, sông Tonle Sap, hoặc ở Long Xuyên, Châu Đốc…. Dọc theo hạ lưu sông Mekong, các cố đô như Luang Prabang, thủ đô Vientiane (Lào), hay cố đô Ayutthaya, thủ đô Bangkok (Thái Lan), thành phố Siemrep và quần thể Angkor, thủ đô Phnom Penh (Campuchia), cho đến vùng ĐBSCL đều là hình ảnh của những quần cư sông nước, đời sống những người dân bên dòng Mê Kông tạo nên nền văn hóa sông nước lưu vực vùng sông Mê Kông nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng.

Trong cuộc thi quốc tế ý tưởng và hội thảo với chủ đề “Mê Kông – những thuận lợi và thách thức” do tỉnh An Giang và Xưởng Thiết kế mùa hè Cergy-Pontoise tổ chức tháng 10/2007, nhằm tìm kiếm giải pháp cho phát triển các quần cư đô thị và nông thôn của tỉnh An Giang với trục thành phố Long Xuyên – thị xã Châu Đốc, cho thấy sông Mê Kông là trục kết nối phát triển chính trong quá trình phát triển toàn vùng. Dân cư vùng ĐBSCL sau trận lũ 1996, 2000… các ngôi “nhà đá, nhà đạp” của họ được thay bằng các kiểu nhà vượt lũ (2), điển hình mỗi hộ được vay 5 triệu đồng và đắp một nền đất cao hơn đỉnh lũ, ngôi “nhà đá, nhà đạp” trên nền đất cao như một mâm đất chơ vơ giữa đồng nước mùa lũ. Khu vực ngập thì làm nhà sàn bằng gỗ, hay nhà trên cọc. Độ cao sàn nhà thấp hay cao tùy theo mức ngập. Nhiều nhà dùng cọc xi măng cốt sắt đúc sẵn. Theo thời gian phát triển, nhiều khu vực nhà sàn chuyển đổi thành nhà trệt. Nhiều nơi vẫn làm nhà sàn, nhưng gần như không còn ngập như xưa.

Năm 1996 một nghiên cứu về nhà ở ngập lũ ĐBSCL của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Đô thị ĐBSCL với Nhà giáo ưu tú, KTS Võ Đình Diệp đã khảo sát, đưa ra những đặc điểm của nhà ở ngập lũ vùng ĐBSCL.

Quá trình đô thị hóa và sự phát triển kinh tế xã hội từ 1975 đến nay đã làm thay đổi quan niệm về ngôi nhà ở truyền thống của người dân vùng ĐBSCL. Họ đã sống theo kiểu thành thị, ở trong các nhà phố có lầu, kiến trúc mô đéc…Nhưng do thiếu sự hướng dẫn, định hướng về nhà ở, kế thừa lối sống sinh hoạt tốt đẹp vùng nông thôn của cư dân ĐBSCL, nên bộ mặt kiến trúc nông thôn biến đổi nhanh chóng nhưng đáng lo ngại.

II. Nhà đá, nhà đạp phản ánh môi trường sống cư dân vùng ĐBSCL

Như đã giới thiệu ở đầu, khi chạy lũ thì ngôi nhà chỉ dùng một mùa nên khi làm nhà không cần bền chắc, sau mùa lũ sẽ quay lại và dựng nhà mới, cho nên “nhà đá, nhà đạp” là thích hợp hơn cả, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, tre, tràm, lá dừa nước, rơm rạ, tranh tre vách đất,…là đặc trưng cho một nền kiến trúc thực vật ở đây, sự phân hủy nhanh, không ảnh hưởng đến môi trường, hầu như người dân nào cũng thạo sông nước, nhà nào cũng có chiếc xuồng, tam bản…ngoài kinh, sông rạch ghe thuyền chạy tấp nập. Từ khi có máy thủy, động cơ Kohler…giao thông đường thủy càng phát triển so với đường bộ vì sông rạch chằng chịt. Nhà ở phát triển, các thị trấn, thị tứ, các điểm dân cư ngày càng lan tỏa, nhưng trong vùng sâu, vùng xa, “nhà đá, nhà đạp” vẫn phát triển vì nó gắn liền với sinh hoạt của người dân trong điều kiện thay đổi môi trường theo mùa nước nổi là phổ biến. Từ thời Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế, và sau đến người Pháp, giai cấp địa chủ xuất hiện, người nông dân trở thành tá điền, hoặc đi sâu vào trong để sống tự do, và không chịu cảnh tôi đòi, tiếp tục hình ảnh những người đi khai hoang, lập làng lập ấp. Ngày nay cho đến tận Năm Căn Cà Mau, vùng đất mũi vẫn có những xóm làng như thế.

Càng xa các trung tâm, thị tứ, ngôi nhà càng cần phải thích nghi với môi trường sống, phương tiện đi lại chủ yếu là thuyền. Nhà sàn với vật liệu tận dụng tại chỗ, làm nhà và sản xuất cũng theo kiểu hợp tác, vần công, tình nghĩa xóm làng là chính. Canh tác, đánh bắt thủy sản, chăn nuôi là những công việc hàng ngày của người dân vùng sông nước. Những quần cư sông nước nông thôn kéo dài và rải rác khắp vùng, lên đến tận Campuchia, Thái Lan, Lào, Miến Điện…. Cũng trong hội thảo: “Mê Kông – những thuận lợi và thách thức”, giáo sư Sumet Jumsai, Đại học Bangkok (Thái Lan) đã giới thiệu về loại hình nhà ở lưỡng cư ở Thái Lan.

Trong điều kiện kinh tế phù hợp với lối sống và sản xuất, nhất là trên vùng đất ĐBSCL, mạng lưới sông rạch chằng chịt, việc đi lại bằng thuyền bè dễ dàng do địa hình bằng phẳng, khí hậu ôn hoà, ít có bão như miền Trung, hoặc địa hình sông ngòi thay đổi như miền Bắc, với quy luật thiên nhiên hàng năm có mùa nước lớn đổ về từ Biển hồ Campuchia, thì việc khai thác nguồn lợi từ mùa nước nổi (cách gọi quen thuộc của người Nam bộ), đã tạo nên ngôi “nhà đá, nhà đạp”, bám lấy địa bàn canh tác và sản xuất khai thác phản ánh thực tế cuộc sống người dân gắn với môi trường, với nhu cầu sống thực tại. Nếu điều kiện kinh tế khá lên, thì ngôi nhà sẽ khang trang hơn, tiện nghi trong nhà sẽ đầy đủ hơn, con cái sẽ được đi học, hoặc dời nhà đến một trung tâm thị tứ nào đó, nhưng môi trường làm ăn sản xuất vẫn được duy trì và “nhà đá , nhà đạp” vẫn sẽ tiếp tục tồn tại.

III. “Nhà đá, nhà đẹp” với phát triển bền vững

Ngày nay vùng ĐBSCL được xem như vựa lúa của cả nước, đời sống kinh tế cư dân ngày càng tốt hơn, tuy nhiên vùng cũng chịu sự tác động của lũ sông Mê Kông hàng năm như ngập lụt ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Chương trình xây dựng các tuyến, điểm dân cư vượt lũ ở các tỉnh ĐBSCL hoàn thành vào cuối năm 2008, tuy nhiên việc đánh giá hiệu quả xã hội của việc thực hiện còn rất nhiều vấn đề. “Nhà đá, nhà đạp” lại được xem như là hình ảnh của quá trình nghèo khổ, việc sống tạm bợ ! Việc bố trí nhà ở tại các điểm dân cư vượt lũ thiên về bố trí tái định cư, hơn là tổ chức đời sống ổn định. Chính quyền và các tỉnh đã thành lập Ngân hàng phát triển vùng ĐBSCL, việc cho vay tín dụng để phát triển sản xuất, xây dựng nhà ở…, nhưng chưa cho thấy một chiến lược thật sự về phát triển lâu dài cũng như hiệu quả xã hội. Chương trình nhà ở vượt lũ mỗi tỉnh triển khai cũng có những hiệu quả khác nhau cũng như các hệ quả xã hội đi theo. Việc xóa sổ “nhà đá, nhà đạp” đòi hỏi các giải pháp thay thế, thực hiện từ quy hoạch đến tạo ra một ngành sản xuất nhà ở vùng ĐBSCL, đồng thời vẫn gắn kết được với môi trường cư trú và sản xuất. Điều mà chúng ta chưa thấy trong các giải pháp cụ thể tìm ra, mà vẫn là những quyết định mang tính chỉ thị của chính quyền Trung ương cũng như địa phương.

Để giải quyết đời sống cho người dân vùng lũ trong điều kiện phát triển bền vững và cho vùng nông thôn ĐBSCL hiện nay thì theo Peter Hall, các tiêu chí “đời sống đô thị bền vững (Xây dựng đô thị để sống được) và kinh tế đô thị bền vững (công an việc làm và sự khá giả), nhà ở đô thị bền vững (nhà ở tươm tất vừa túi tiền mọi người), môi trường đô thị bền vững (các hệ sinh thái ổn định), và quản lý tốt…là rất gần với định hướng cho phát triển bền vững vùng nông thôn ĐBSCL ở nước ta.

Từ sau 1975 đến nay, chính quyền và các KTS cũng đã đề xuất nhiều mẫu nhà ở cho người dân vùng ĐBSCL, trong đó có các chương trình nghiên cứu cho người dân vùng lũ lụt (mô hình nhà nổi, nhà nhựa, nhà lắp ghép, nhà chống lũ…). Tuy nhiên, thành công từ các chương trình này chưa phổ biến và phát huy sâu rộng. Đây cũng là câu hỏi tại sao người dân chưa hài lòng cũng như việc sản xuất xây dựng nhà ở cho người dân chưa thể công nghiệp hóa, tiêu chuẩn hóa …

Theo chúng tôi, “nhà đá, nhà đạp” từ lâu đã thích nghi với môi trường sống, mang đậm bản sắc văn hóa, hài hòa với môi trường, việc áp dụng các nghiên cứu từ góc độ kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật sẽ đề xuất được các mô hình nhà ở nông thôn kiểu mới, trong đó có mô hình nhà ở vượt lũ, theo hướng phát triển bền vững hài hòa với môi trường.

IV. Kết luận

Hiện nay, Đảng và Nhà nước rất coi trọng các vấn đề về nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Bộ Xây dựng, Hội KTS Việt Nam đã tổ chức nhiều nghiên cứu, hội thảo về lĩnh vực này. Các cuộc thi về kiến trúc nhà ở nông thôn, tìm hiểu xem người dân nông thôn muốn gì là những việc làm đúng và hiệu quả. Mở ra những hứa hẹn cho phát triển khu vực nông thôn, chiếm 72% dân số và đất đai cả nước. Hiểu biết về tương tác xã hội của cư dân vùng ĐBSCL để có ứng xử đúng là việc các nhà nghiên cứu xã hội và đô thị tích hợp từ các nhu cầu xã hội, trong quá trình đô thị hóa vùng ĐBSCL của thế kỷ 21. Nghiên cứu các mô hình nhà ở cho các vùng có quy luật về ngập lũ khác nhau, kế thừa và khai thác các ưu điểm từ “nhà đá, nhà đạp”, sẽ tạo ra bộ mặt nhà ở mới và chất lượng sống tốt nhất cho cư dân vùng sông nước ĐBSCL đầu thế kỷ 21.

KTS Bạch Anh Tuấn