Khởi nguồn
Qua nhiều thế kỷ, ông cha ta đã hình thành, đúc kết một hệ thống triết lý tôn trọng tự nhiên trong kiến trúc truyền thống. Người xưa ý thức sâu sắc rằng: Muốn an cư thì không chế ngự tự nhiên mà lựa chọn phương thức uyển chuyển, nương tựa, thích ứng với tự nhiên. KTS Nguyễn Cao Luyện nhận định: Khí hậu đã khiến người Việt phải “vận dụng những ưu đãi sẵn có trong trời đất để khắc phục những tai ương bản chất của thiên nhiên: Đấy chính là toàn bộ cái bí quyết của tổ tiên chúng ta trong việc sáng tạo ra nếp nhà dân tộc – một không gian cư trú, một không gian nhân tạo đã có thể đáp ứng những yêu cầu sinh lý và tâm lý, thể chất và tâm hồn của con người Việt Nam giữa thiên nhiên nhiệt đới” [1, pp. 20-21].
Sống hoà hợp tự nhiên rồi dùng chính những thế mạnh của tự nhiên ứng phó với chính nó [2]. Quan điểm này được thể hiện dưới nhiều cấp độ, từ cấp vĩ mô quy hoạch đến vi mô công trình. Do khuôn khổ hạn chế, bài viết tập trung vào phân tích mô hình ở truyền thống, điển hình tại khu vực nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Mô hình của những dân tộc anh em khác xin phép không đề cập.
Làng xã đồng bằng Bắc Bộ là hệ sinh thái khép kín, gắn liền sản xuất nông nghiệp, tín ngưỡng và văn hóa cộng đồng. Thiên nhiên luôn giữ vai trò là nền căn bản, trong khi kiến trúc chỉ chấm phá khéo léo tôn vinh và làm nổi bật cảnh sắc sẵn có. Như Pierre Gourou đã nhận xét: “Một ngôi làng không xuất hiện trong cảnh quan như một tập hợp của nhà cửa, mà là một khối cây xanh” [3, p. 257]. Trong đó, cấu trúc quy hoạch không gian thể hiện sự gắn bó, tôn trọng tuyệt đối địa hình, địa mạo tự nhiên. Theo cách tiếp cận này, kiến trúc truyền thống Việt Nam xem ngôi nhà là một phần hữu cơ của hệ sinh thái tự nhiên [4].
Ngôi nhà dân gian Bắc Bộ minh chứng cho sự cân bằng nhiệt thụ động, ưu tiên lựa chọn hướng Nam hoặc Đông Nam, đón nhận tối đa luồng gió mát chủ đạo và ánh sáng dịu nhẹ vào mùa hè, đồng thời né tránh bức xạ gay gắt hướng Tây và những đợt gió mùa đông bắc lạnh giá phía Bắc. Câu ngạn ngữ: “Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng Nam” diễn tả những yếu tố cần thiết của một người để an cư lạc nghiệp. Khuôn viên nhà truyền thống tổ chức theo nhiều lớp, với ao nước, hồ sen như bộ lọc không khí, điều hòa độ ẩm. Trước nhà là khoảng sân rộng – không gian đệm dẫn dụ luồng gió Nam từ vườn cây, ao nước xuyên qua hiên đi vào không gian nội thất. Mái hiên vươn rộng ra ngoài, cùng những tấm liếp chắn nắng, ngăn bức xạ trực tiếp nhưng ánh sáng vẫn có thể tán xạ sâu vào công trình. Lớp cửa thượng song hạ bản ngăn chia không gian mà không khép kín, đảm bảo thông gió đối lưu trong khi vẫn duy trì sự riêng tư của không gian sống.
Một đặc điểm khác định hình tính bền vững của kiến trúc truyền thống là sử dụng tối ưu nguồn vật liệu tự nhiên sẵn có. Hệ khung gỗ chịu lực góp phần vào logic khí hậu của nhà. Khi tải trọng dồn hết vào bộ vì và hàng cột, tường bao chỉ còn nhiệm vụ che chắn. Toàn bộ mặt trước nhà với cửa bức bàn có thể mở thông ra sân, thân thiện. Gỗ có hệ số dẫn nhiệt thấp và khả năng điều tiết độ ẩm theo biến động môi trường. Các loại gỗ được sử dụng tùy điều kiện kinh tế của gia chủ: Đinh, lim, sến, táu trong đình chùa và nhà khá giả; nhà dân thường dùng xoan, mít, tre. Kỹ thuật mộng chốt không dùng đinh cho phép tháo dỡ, thay thế từng cấu kiện, thậm chí di dời nguyên bộ khung sang vị trí mới với vòng đời vật liệu kéo dài qua nhiều thế hệ – một ưu điểm kiến trúc hiện đại cần học hỏi. Tre là vật liệu bổ trợ, có mặt hầu khắp các bộ phận: đòn tay, rui mè, liếp, phên vách, hàng rào. Kỹ thuật tre ngâm bùn ao chống mối mọt hiệu quả. Chu kỳ khai thác tre từ 3 đến 5 năm, nguồn cung tái tạo nhanh, dồi dào hơn nhiều so với gỗ. Cấu tạo ống tre rỗng cho tỷ lệ cường độ trên khối lượng cao và khả năng cách nhiệt tốt hơn vật liệu đặc cùng tiết diện. Ở cấp độ biểu tượng, hình ảnh lũy tre bao quanh làng đồng nghĩa sự dẻo dai, bền vững của tinh thần Việt. Mái lợp bằng cỏ tranh, rạ, lá cọ hay lá dừa nước là bộ phận chịu tải nhiệt lớn nhất, cũng là nơi vật liệu tự nhiên phát huy hiệu quả rõ nét. Với độ dày từ 15-30cm, lớp mái chứa vô số túi khí, có hệ số dẫn nhiệt thấp, hơi nóng thoát dần qua chiều dày lớp mái. Độ dốc mái lớn thoát nước mưa nhanh, hạn chế thấm, kéo dài tuổi thọ vật liệu. Sự phân bố các loại lá mái phản ánh chính xác địa lý thực vật từng vùng: lá cọ ở trung du Phú Thọ, Hòa Bình; cỏ tranh vùng đồi; rạ ở đồng bằng lúa nước và lá dừa nước vùng châu thổ phía Nam. Mái lá có thể thay sau vài năm, nhưng vật liệu thay thế luôn sẵn có tại chỗ và phân hủy hoàn toàn, khép kín vòng tuần hoàn vật chất, không để lại phế thải. Điểm chung của toàn bộ hệ vật liệu dân gian này là bán kính cung ứng gần như trùng với bán kính của làng. Tre gỗ từ vườn nhà và rừng lân cận, đất, đá, sỏi và đá ong khai thác tại chỗ, lá lợp từ đồi và ruộng.
Các lớp giải pháp từ quy hoạch, đến hướng nhà, không gian, kết cấu và vật liệu kết hợp thành kiểu dạng (typology) khá hoàn chỉnh cho vùng nhiệt đới. Ngôi nhà dân gian Bắc Bộ hiện ra như một mô hình sinh khí hậu, được vận hành bằng những phương tiện thụ động. Điểm đáng lưu ý là hệ thống này chưa bao giờ được người Việt cổ tập hợp và ghi chép thành lý thuyết sách vở như phương Tây, chỉ tồn tại dưới dạng tri thức ngầm tập thể, truyền qua phường thợ và tập quán cộng đồng. Phải đến đầu thế kỷ 20, khi kiến trúc thuộc địa đối diện với khí hậu nhiệt đới ẩm như một đòi hỏi kỹ thuật cần lời giải, các nguyên tắc trên mới được ghi chép và diễn đạt thành nguyên lý thiết kế bởi những người đứng bên ngoài hệ thống sản sinh ra chúng.
Tiếp biến
Cuộc giao thoa giữa kiến trúc phương Tây và khí hậu nhiệt đới ẩm Đông Dương diễn ra dưới sức ép của y học thuộc địa nhiều hơn là thẩm mỹ. Suốt nửa cuối thế kỷ 19, sốt rét, tả và dịch hạch làm hao hụt nghiêm trọng lực lượng viễn chinh và bộ máy cai trị thực dân Pháp. Xứ thuộc địa nhiệt đới bị hình dung như môi trường gây bệnh, nơi khí hậu tác động trực tiếp lên thể trạng người châu Âu [5]. Lý thuyết khí hậu và sức khỏe chi phối mạnh hoạt động quy hoạch và xây dựng giai đoạn này. Không khí tù đọng, ẩm thấp và thiếu ánh sáng bị coi là nguyên nhân bệnh tật, và kiến trúc trở thành công cụ phòng bệnh [6]. Từ đó, một bộ nguyên tắc được áp dụng gần như bắt buộc cho công trình công cộng và nhà ở của người Âu tại Hà Nội và Sài Gòn: Nền nâng cao chống ẩm, trần cao tăng thể tích khí, hành lang bao quanh cách ly khối phòng khỏi bức xạ trực tiếp, cửa chớp thông gió chắn nắng, mật độ xây dựng thấp, nhiều cây xanh. Trong bối cảnh đó, phong cách Kiến trúc Đông Dương được Ernest Hébrard khởi xướng như sự kết hợp giữa duy lý phương Tây và văn hoá địa phương [7]. Một ngôn ngữ kiến trúc Đông Tây kết hợp ra đời với mái dốc lợp ngói, hiên rộng, ô văng, cửa chớp và thông gió tầng áp mái. Về mặt kỹ thuật, đấy là những giải pháp khí hậu hiệu quả. Về mặt lịch sử, đây là thời điểm các nguyên tắc dân gian trong tay người thợ Việt được quan sát và biểu đạt thành nguyên lý thiết kế. Nhìn bên ngoài, những nguyên tắc này tương đồng đáng kể với các giải pháp vốn đã tồn tại trong nhà dân gian. Tuy nhiên, chúng lại được xây dựng trên nền tảng hoàn toàn khác; từ sinh lý học, dịch tễ và tinh thần kỹ thuật phương Tây, không chỉ từ tập quán địa phương, trong khuôn khổ một dự án cai trị [8], [9]. Dưới góc nhìn đó, tư duy kỹ thuật đã xếp môi trường ở truyền thống vào phạm trù thiếu vệ sinh, có hại cho sức khỏe. Không chỉ Việt Nam, mà ở các thuộc địa của phương Tây, truyền thống và địa phương là những thứ cần phải bài trừ hoặc xóa bỏ [10]. Bố cục và hình dáng ngôi nhà dân gian là mô hình cần phê phán, khắc phục. Câu chuyện vệ sinh được giới trí thức Việt tiếp nhận và chuyển hướng. Phong trào Nhà Ánh Sáng, do nhóm Tự Lực Văn Đoàn khởi xướng và được các kiến trúc sư khóa đầu của Trường Mỹ thuật Đông Dương ủng hộ. Văn phòng Luyện-Tiếp-Đức chủ trương xây dựng nhà ở giá rẻ, hợp vệ sinh cho dân nghèo thành thị và nông thôn. Nguyên tắc thiết kế xoay quanh ba yêu cầu: Ánh sáng, không khí và sự sạch sẽ. Cửa rộng, trần cao, bếp, vệ sinh và phòng ngủ được tách bạch, nền được tôn cao [11], [12]. Dưới quan niệm này, ngôi nhà truyền thống hiện ra như ẩn dụ cho sự tối tăm, lạc hậu của quá khứ. Đó là đối tượng cần được cải tạo vì tương lai đất nước. Chính những trí thức tiên phong người Việt, chứ không phải chính quyền thuộc địa, là những người thấy rõ nhất cái lạc hậu của dân tộc mình. Ánh sáng và không khí ở đây không nhìn như yếu tố vi khí hậu, mà như biểu tượng của sức khỏe giống nòi, của văn minh tiến bộ. Sinh thái vệ sinh trở thành một nhu cầu đạo đức trước khi là một dự án kỹ thuật.
Có sự chuyển dịch mà lịch sử kiến trúc Việt Nam thường lướt qua. Trong suốt nửa đầu thế kỷ 20, các giải pháp khí hậu được nghiên cứu, giảng dạy và ứng dụng rất tích cực. Nhưng điều đó không được biện minh bằng kế thừa truyền thống mà bằng yêu cầu của vệ sinh, tiến bộ khoa học và bằng tính hiện đại. Mô hình nhà dân gian chủ yếu đóng vai cái xưa cũ cần phải vượt qua. Việc thức nhận lại mô hình dân gian như một khởi nguyên mẫu mực của kiến trúc Việt lại là sản phẩm của giai đoạn sau.
Hiện đại hoá
Sau 1954, hai miền Bắc – Nam phát triển hai hệ diễn ngôn kiến trúc đối lập, trong khi các giải pháp khí hậu được cả hai miền sử dụng có nhiều điểm tương đồng. Miền Nam tự định vị trong mạch kiến trúc hiện đại nhiệt đới quốc tế: Tấm chắn nắng mặt đứng, nhà mảnh thông gió xuyên phòng, hành lang ngoài, mái đôi, và gạch hoa thông gió phổ biến từ biệt thự đến trường học, nhà phố. Miền Bắc lấy tính dân tộc làm trục tư tưởng chủ đạo với quan điểm: Hình thức Dân tộc – Nội dung XHCN. Nhà ở nông thôn và những kinh nghiệm xây dựng dân gian là chủ đề thu hút sự quan tâm của KTS trong giai đoạn thiếu thốn thời chiến. Hòa bình lập lại, những khu ở lắp ghép, các đô thị lần lượt xuất hiện những giải pháp khí hậu quen thuộc như mái có khe đối lưu, gạch lá nem, ô văng chắn nắng, lô gia và tường hoa thông gió. Cùng mục đích thích ứng khí hậu nhưng hai cách nhìn phần nào khác biệt: Ở miền Nam, đó là biểu hiện kỹ thuật tiến bộ – Ở miền Bắc lại là nếp văn hoá căn cốt của người Việt. Tuy nhiên, điểm cả hai miền không làm là lý giải các giải pháp đó bằng ngôn ngữ của sinh thái – Khái niệm Xanh chưa tồn tại trong vốn từ vựng kiến trúc hai miền.
Sự khẳng định mô hình kinh nghiệm dân gian trong giai đoạn 1975-1986 thể hiện rõ nhất trên bình diện quốc tế. Giữa lúc kiến trúc trong nước gần như không có điều kiện xây dựng quy mô lớn, chính đề tài nhà ở nông thôn hiện đại, gắn với kinh nghiệm dân gian là nơi kiến trúc Việt đối thoại được với bên ngoài. Các giải thưởng kiến trúc quốc tế Việt Nam giành được trong thời kỳ này phần lớn thuộc chủ đề nhà ở nông thôn [13]. Nổi bật nhất là cuộc thi kiến trúc Nông thôn do UNESCO tổ chức năm 1979, có 6 đồ án của Việt Nam lọt vào vòng 2. Kết quả, có 3 đồ án Việt đoạt giải cao nhất. Đặc biệt đồ án “Nhà ở như một đơn vị cân bằng sinh thái” của KTS Nguyễn Luận và Trần Quang Trung. Thông qua quan sát và hệ thống hóa mô hình canh tác Vườn – Ao – Chuồng phổ biến ở nông thôn, các tác giả trình bày khuôn viên nhà nông thôn như một đơn vị vận hành trong chu trình sinh thái khép kín: Phụ phẩm trồng trọt nuôi gia súc, chất thải chăn nuôi làm khí biogas, nuôi cá và bón vườn, đất và bùn ao hoàn trả xây nhà, trong khi mặt nước và cây xanh điều hòa vi khí hậu. Các yếu tố: Đất, nước, kiến trúc, cây xanh gắn bó hữu cơ, như một đơn vị cơ bản của hệ sinh thái nông nghiệp. Một mô hình sống được xâu chuỗi thống nhất từ ngôi nhà đến toàn bộ cấu trúc môi trường nông nghiệp, từ không gian ở đến không gian lao động. Các tác giả không phát minh mô hình – Họ chỉ đơn thuần chuyển lối sống canh tác thành một sơ đồ kiến trúc có thể trình bày và biện giải.
Đây có thể xem là mốc lịch sử trong dòng chảy kiến trúc Xanh Việt Nam. Lần đầu tiên, môi trường ở dân gian được diễn đạt bằng ngôn ngữ logic kỹ thuật trước cử tọa quốc tế, khi thế giới dành sự quan tâm đặc biệt cho những công nghệ thích ứng và tri thức bản địa tại các nước đang phát triển, sau Habitat Vancouver 1976. Được trình bày như một mô hình kĩ thuật sinh thái, khuôn viên nhà ở nông thôn Việt Nam trở nên dễ hiểu trong hệ quy chiếu ấy. Nói cách khác, sinh thái trong kiến trúc Việt không phải mới xuất hiện gần đây, mà đã hình thành từ 1979. Mô hình kiến trúc dân gian đã đạt chuẩn mực, thiết lập vững chắc trên các trụ cột chính của bản sắc và sự công nhận quốc tế.
Xanh của tương lai?
Đổi mới kinh tế làm thay đổi điều kiện xây dựng. Kinh tế tăng trưởng, thu nhập cải thiện và hoạt động xây dựng chuyển từ tay Nhà nước sang tay hộ gia đình. Những năm sau, hoạt động cải tạo và xây dựng nhà ở do các hộ gia đình tự thực hiện tăng nhanh, đặc biệt tại các đô thị và vùng nông thôn có điều kiện. Vật liệu lần đầu tiên có thể mua tự do trên thị trường. Ở đô thị, hình ảnh tiêu biểu là khung nhôm, kính đen, nhà mái chóp. Ở nông thôn, hình ảnh tương ứng là ngôi nhà gạch, mái bằng thường lấn át những khung nhà gỗ. Khi bài toán tiện nghi nhiệt có thể mua được bằng kinh tế, mối liên hệ giữa hình thức công trình và khí hậu dần trở nên lỏng lẻo, đặc biệt thời điểm xuất hiện máy điều hòa nhiệt độ. Ngôi nhà có thể quay hướng bất kỳ, xây sát nhau mà vẫn sống được. Các giải pháp khí hậu tích lũy từ trước dần bị loại bỏ; gạch lỗ thông gió, tường hoa, mái có khe đối lưu, gạch lá nem, ô văng chắn nắng, hiên rộng và mái dốc gần như biến mất khỏi công trình xây mới. Điều đáng nói là: Các giải pháp không bị loại bỏ vì kém hiệu quả mà chỉ vì nhận thức xã hội. Trót sinh ra trong hoàn cảnh thiếu thốn, những giải pháp đó mang dấu ấn của chính hoàn cảnh. Khi kinh tế dư giả, người ta không muốn nhìn lại chỉ dấu của thời khó khăn. Mô hình dân gian hoàn tất một vòng quay đầy đủ: Từ biểu hiện của sự lạc hậu những năm 30, được nâng lên thành mẫu mực trong thập niên 1970. Đến đầu thế kỉ 21, hàng trăm nghìn quyết định xây dựng riêng lẻ của người dân đã thay thế mô hình này.1
Rồi các khái niệm Kiến trúc Xanh, Kiến trúc bền vững dần được du nhập vào Việt Nam, đi kèm những công thức quen thuộc: Một bộ từ vựng, hệ tiêu chí và một cơ chế chứng nhận. LEED của Hoa Kỳ xuất hiện sớm nhất qua các dự án có vốn nước ngoài, tiếp đó là Green Mark của Singapore và EDGE của World Bank. Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam xây dựng LOTUS như một phiên bản hiệu chỉnh cho điều kiện trong nước từ 2007. Điểm chung của những sản phẩm từ hệ quy chiếu định lượng đúc rút từ khủng hoảng năng lượng phương Tây thập niên 1970. Kết quả được diễn đạt thành chỉ số, thang điểm và cấp chứng nhận có thể kiểm chứng. Các giá trị mới này không dựa vào kinh nghiệm hay truyền thống, mà có khả năng kiểm chứng, xác thực và uy tín của tổ chức cấp chứng nhận. Những khái niệm Kiến trúc mới của thời đại nhanh chóng tìm được sự tương đồng trong mô hình dân gian quen thuộc. Ngược lại, mô hình dân gian được tiếp biến bằng xu thế đương thời. Chính ở giao điểm này, câu chuyện “kiến trúc Xanh truyền thống bản địa” đã hình thành và được giới nghề, xã hội chấp nhận. Đây cũng là giai đoạn kiến trúc Việt Nam hội nhập quốc tế chưa từng có. Các công trình của Võ Trọng Nghĩa với hệ kết cấu tre, mái xanh và cây xanh tích hợp trong công trình đô thị; Văn phòng Kiến trúc 1+1>2 và KTS Hoàng Thúc Hào với các nhà cộng đồng, trường học vùng cao và hệ thống làng kiểu mới ở đô thị, nông thôn sử dụng vật liệu, kỹ thuật và nhân công địa phương; KTS Đoàn Thanh Hà với những mô hình nhà ở chi phí thấp cho cư dân dễ tổn thương; các tác phẩm sử dụng gạch trần, khơi gợi ký ức của Tropical Space, tối giản hiện đại của MIA Studio… Tất cả đều nhận được giải thưởng và sự chú ý rộng rãi quốc tế. Đây là những dự án nghiêm túc, có nghiên cứu, thử nghiệm kỹ thuật, vật liệu và cam kết hiệu quả xã hội rõ ràng. Các KTS Việt liên tục được vinh danh tại các giải quốc tế về kiến trúc bền vững và cộng đồng. Sự thành công bên ngoài quay lại củng cố những luận điểm trong nước như bằng chứng cho tính liên tục của truyền thống Xanh bản địa. Những cuộc thi trong nước cũng nhận được sự quan tâm của giới nghề và sinh viên như Kiến trúc Xanh Việt Nam, Spec Go Green, Topten Kiến Việt…
Chặng cuối của câu chuyện diễn ra trên thị trường. Khi đã tích tụ đủ giá trị biểu tượng, vừa mang thẩm quyền kỹ thuật của chứng nhận quốc tế, vừa mang thẩm quyền văn hóa truyền thống, kiến trúc Xanh liền trở thành một tài sản thương mại. Từ khoảng thập niên 2010, thuật ngữ này xuất hiện dày đặc trong tên gọi dự án, trong quảng cáo và hồ sơ tiếp thị bất động sản. Kèm với đó là những chỉ tiêu về mật độ cây xanh, cảnh quan mặt nước và những bản phối cảnh xanh ngắt (!). Trong công nghiệp xây dựng hiện nay, hiếm sản phẩm nào không có những chứng chỉ sinh thái và dấu chân Carbon. Tuy nhiên, nhiều công trình đạt chuẩn tiết kiệm năng lượng nhưng mặt dựng kính lớn phản chiếu ánh nắng chói trang vùng nhiệt đới. Giai đoạn này, khoảng cách ngữ nghĩa của cùng một từ “Xanh” trở nên quá lớn: Một hệ tiêu chí, một tập giải pháp thụ động của nhà dân gian, một nguyên tắc thực hành thiết kế đương đại, hoặc chỉ đơn giản là luận điểm bán hàng. Việc nhiều ý nghĩa đứng dưới cùng một cái ô khiến khái niệm Xanh vừa có sức hấp dẫn và thuyết phục rộng rãi, vừa gần như không thể kiểm chứng.
Trong lịch sử kiến trúc, túp lều nguyên thuỷ khởi nguồn của kiến trúc đã ám ảnh các lý thuyết gia từ Vitruvius đến nay. Rykwert đã lý giải điều này khi cho rằng kiến trúc tìm lại mô hình khởi nguồn của mình mỗi khi cần có sự cải cách [14]. Khuôn viên nhà ở vùng Bắc Bộ đã vận hành như vậy trong lý luận kiến trúc Việt Nam suốt gần một thế kỷ. Chỉ hơn 100 năm, giá trị môi trường ở truyền thống liên tục được khám phá, đọc và diễn giải lại, tùy bối cảnh và nhu cầu khác nhau. Mô hình được dựng từng thời kỳ, và mỗi lần lại mang hình ảnh của thứ mà thời kỳ ấy cần định danh hóa. Có lẽ câu hỏi đáng đặt ra không phải kiến trúc truyền thống Việt Nam có thực sự Xanh và Sinh thái hay không, mà ngược lại: Ngày hôm nay, việc chúng ta nói về dòng chảy Xanh của kiến trúc Việt có tác động như thế nào đến kiến trúc Việt Nam đương đại?
KTS Hoàng Thúc Hào
Phó Chủ tịch Hội KTS Việt Nam
KTS Nguyễn Mạnh Trí
Khoa Kiến trúc và Quy hoạch – Trường ĐH Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2026)
Ghi chú
1. Tác giả cũng không ít lần gặp những gia chủ sẵn lòng bán đi nếp nhà của tổ tiên để lại vì lý do cần xây nhà mới cho tiện nghi. Cũng chính họ thừa nhận ở trong nhà gỗ cũ dễ chịu hơn ở trong nhà gạch mới.
Tài liệu tham khảo
[1] N. C. Luyện: Từ những mái nhà tranh cổ truyền – 2nd ed. Hà Nội: Kim Đồng, 2007;
[2] N. T. Trần: Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam – Hanoi: Nhà xuất bản TP. HCM, 2001;
[3] P. Gourou: Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ Nghiên cứu địa lý nhân văn – TP.HCM: Nhà Xuất bản Trẻ, 2015;
[4] P. H. Cường: Văn hóa bản địa trong xây dựng môi trường cư trú truyền thống – Tạp chí Kiến trúc, no. 5, 2017, [Online]. Available: https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/van-hoa-ban-dia-trong-xay-dung-moi-truong-cu-tru-truyen-thong.html;
[5] E. T. Jennings: Imperial heights: Dalat and the making and undoing of French Indochina. in From Indochina to Vietnam : Revolution and war in a global perspective, no. 4. Berkeley: Univ. of California Press, 2011;
[6] L. Victoir: Hygienic Colonial Residences in Hanoi – in Harbin to Hanoi The Colonial Built Environment in Asia, 1840 to 1940 – L. Victoir and V. Zatsepine, Eds., Hong Kong: Hong Kong University Press, 2013;
[7] C. Herbelin: Quel style pour l’Indochine in Architectures du Vietnam colonial: repenser le métissage – in L’art et l’essai, no. 16. , Paris: CTHS-INHA, 2016, pp. 61–110;
[8] M. Vann: White city on the red river: race, power, and culture in French colonial Hanoi, 1872-1954 – Doctor of Philosophy, University of California, Santa Cruz, 1999;
[9] C. Herbelin: Architectures du Vietnam colonial: repenser le métissage – in L’art et l’essai, no. 16. Paris: CTHS-INHA, 2016;
[10] A. D. King: The times and spaces of modernity in Spaces of global cultures: architecture, urbanism, identity – in The architect series, London ; New York: Routledge, 2004, pp. 65–81;
[11] N. M. Tri: Giá trị truyền thống và hiện đại của kiến trúc Nhà Ánh sáng – Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng, vol. 9, no. 4, pp. 57–63, 2015;
[12] M. T. Nguyen: On our own strength: the self-reliant literary group and cosmopolitan nationalism in late colonial Vietnam. in A study of the Weatherhead East Asian Institute. Honolulu: University of Hawai’i Press, 2021;
[13] T. N. Lan: Quá trình hội nhập với thế giới của Kiến trúc Việt Nam sau 1975 – Tạp chí Kiến trúc, no. 6, 2021;
[14] J. Rykwert: On Adam’s house in paradise: the idea of the primitive hut in architectural history, 2nd ed. Cambridge (Mass.) London: MIT press, 1993.































