Không có mô hình chung nào cho Khu Hành chính tập trung cấp Tỉnh

Trong Chỉ thị số 1073/CT-TTG ngày 5/7/2011 Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo về việc tăng cường công tác quản lý và hiện đại hóa công sở của cơ quan hành chính ở địa phương theo hướng tập trung. Trước đó, vấn đề này đã được thể hiện qua các Quyết định số 09/2007/QĐ-TTG ngày 19/01/2007, Quyết định số 147/1999/QĐ-TTG ngày 05/7/1999 và Quyết định số 260/2006/QĐ-TTG ngày 14/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Nghiên cứu các văn bản này, cả về câu chữ, đều thấy là những chỉ đạo rất đúng và rõ ràng.

Khu kinh tế hành chính La Défense (Paris)
Khu kinh tế hành chính La Défense (Paris)

Vừa qua, trên thực tế, một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã và đang triển khai thực hiện các văn bản trên, kết quả và các định hướng đầu tư xây dựng khu hành chính tập trung này đang trở thành vấn đề được xã hội quan tâm.

Xung quanh vấn đề này, có nhiều ý kiến trái chiều, khác nhau về quan điểm, nhận thức. Có ý kiến quan tâm nhiều về hình thức và những vấn đề cảm quan ảnh hưởng xã hội, có những ý kiến quan tâm nhiều về giá trị đầu tư và hiệu quả sử dụng,… Thực tế sẽ rất khó so sánh để tìm ra được mô hình nào là tối ưu, mặc dù các cơ quan này đều có chung chức năng nhiệm vụ, nằm trong hệ thống các cơ quan công quyền của Quốc gia. Bởi lẽ, một kiến trúc được tạo lập và hình thành trên cơ sở không gian đô thị của nó. Các tỉnh thành ở các vùng miền khác nhau, điều kiện tự nhiên và lịch sử đô thị khác nhau, do vậy chân dung, diện mạo của các khu hành chính tập trung cũng sẽ khác nhau.

Vậy xung quanh vấn đề đầu tư xây dựng khu hành chính tập trung (HCTT) cấp Tỉnh nên như thế nào, cần thiết có những bàn luận, để rút ra những chuẩn mực cốt lõi, để từ đó xem xét lựa chọn những giải pháp cụ thể cho từng địa phương. Tôi xin có một số trao đổi với những tiêu chí như sau:

1. Về tính đại diện (bộ mặt)
Đã là cơ quan công quyền, đầu não của một Tỉnh, kiến trúc của nó cần thể hiện được đặc trưng nhận diện (tính đại diện) của chính quyền địa phương – Nghĩa là: Một công trình kiến trúc mà mọi người dân đều dễ dàng nhận biết được nó, và có được ấn tượng trong lòng du khách. Không nhất thiết phải là cả khu công trình, mà quan trọng là kiến trúc của công trình chính cần đạt được điều đó. Công trình chính, để đạt được tính nhận diện, không nhất thiết phải có quy mô đồ sộ hoặc thật cao tầng. Trong chuyên môn, học thuật, chúng ta đều hiểu rằng, vị thế quy hoạch sẽ mang lại hiệu quả lớn hơn nhiều. Vì thế, giải pháp quy hoạch cho khu HCTT là yếu tố quan trọng hàng đầu cần đạt được. Cảnh quan đô thị của khu vực này cần có địa hình, tầm nhìn xứng tầm với nó. Khu đất quy hoạch nếu được ở trung tâm đô thị, và ở những nơi vốn đã có giá trị về văn hóa, lịch sử, càng làm cho công trình trở nên quan trọng và có ý nghĩa hơn.
Khi đã có lợi thế về giá trị địa điểm, vị trí quy hoạch, tổ hợp kiến trúc của công trình này có thể chỉ là một sự dung dị, chuẩn mực, không nhất thiết phải là sự gò nén, phải là sự “lên gân”, tìm giải pháp tạo hình khác lạ. Chính sự dung dị, chuẩn mực, trong vị thế độc tôn của quy hoạch, càng làm cho công trình trở nên sang trọng hơn, đây cũng là một lợi thế để có được phương án đầu tư kinh tế tốt hơn cho ngân sách địa phương, đồng thời cũng dễ dàng có được sự gần gũi, thân thiện với môi trường không gian xung quanh. Phía trước công trình nên có một quảng trường đủ rộng, sẽ là nơi mọi tầng lớp nhân dân thường xuyên lui tới ngắm nhìn, nghỉ ngơi, sinh hoạt hàng ngày.

Tính nhận diện của công trình kiến trúc này được thể hiện ở nhiều góc độ, trong đó có yếu tố kiến trúc (kể cả về giải pháp tổ chức không gian và ngôn ngữ kiến trúc), vì thế cần được nghiên cứu một cách kỹ càng, cẩn trọng. Tất cả những biểu hiện từ công trình kiến trúc này đều nên xem là tuyên ngôn của chính quyền địa phương, chỉ đạo về đường lối phát triển kiến trúc trong các đô thị của Tỉnh. Tôi không nghĩ công trình này phải là một kiệt tác, song nó phải thể hiện được tư tưởng của chủ sở hữu công trình, kiến trúc của nó có thể chưa thành công về bản sắc địa phương, nhưng phải thể hiện được xu hướng phát triển kiến trúc của thời đại, phải là công trình thích hợp với điều kiện khí hậu địa phương, được đầu tư với tinh thần tiết kiệm tài nguyên, tiết kiệm năng lượng. Đó không thể là một công trình hiện đại, để rồi hàng ngày tiêu tốn năng lượng và chi phí vận hành.

Tóm lại, kiến trúc của khu HCTT của Tỉnh cần đạt được tiêu chí về tính nhận diện. Nói rộng hơn, nếu đạt được tính biểu tượng về kiến trúc trong đô thị của Tỉnh thì càng tốt, bởi lẽ hàng ngày mọi công dân của Tỉnh đều hướng về cơ quan lãnh đạo tối cao của Tỉnh, nơi mọi người gửi niềm tin vào đó, kiến trúc của nó phải xứng đáng là niềm tự hào đối với mọi người dân.

2. Về sự phù hợp với hạ tầng đô thị
Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng, có liên quan đến vị trí quy hoạch xây dựng và quy mô về tính tập trung của dự án. Tính tập trung của dự án là khái niệm được xác định bởi nhiều cấp độ khác nhau, đơn giản nhất là quy hoạch hệ thống các công trình này vào một khu vực, khoảng cách giữa các công trình theo tiêu chuẩn để không bị lãng phí về quỹ đất. Cấp độ tập trung thứ hai là tập trung tất cả các chức năng này vào một dự án, trong một phạm vi hẹp, theo giải pháp bố cục phân tán, nhiều khối công trình, trong đó chức năng quan trọng sẽ là khối công trình chính (giữ vai trò bộ mặt). Cấp độ thứ ba là tập trung tất cả các chức năng này vào một tòa nhà, có quy mô lớn và cao tầng (có thể là một khối hoặc chỉ vài khối công trình).

Với những cấp độ tập trung trên đây cũng chưa thể nói ngay được rằng như thế nào là tối ưu. Bởi lẽ, lựa chọn cấp độ tập trung nào tùy thuộc vào điều kiện của từng địa phương, của từng đô thị. Và đặc biệt là sự phù hợp với hạ tầng đô thị tại khu vực xây dựng khu hành chính tập trung này. Đối với những đô thị trẻ, có điều kiện quỹ đất rộng rãi, không bị áp lực của hạ tầng đô thị, sẽ có sự lựa chọn khác với những đô thị nén, quỹ đất hạn hẹp, các cơ quan đầu não của thành phố thường có vị trí ở trung tâm đô thị truyền thống, có lịch sử phát triển lâu đời. Nhiều địa phương vì nhiều lý do đã quyết định xây dựng dự án khu HCTT là một tổ hợp công trình cao tầng. Tuy nhiên, đối với những dự án có cấp độ tập trung quy mô lớn, nếu vấn đề hạ tầng đô thị không được nghiên cứu chu đáo, sức ép lên hạ tầng đô thị quá lớn, sẽ là phản tác dụng. Đây chính là điều mà nhiều chuyên gia nghi ngại.

Với những cơ sở lý luận cơ bản thông thường, có thể khẳng định như sau: Cho dù nền văn minh đô thị phát triển đến đâu, khoa học công nghệ phát triển đến đâu thì giải pháp kiến trúc khu HCTT phân nhỏ, hình thành các mô – đun tiêu chuẩn, có quy mô không quá lớn, số tầng nhà không quá cao… sẽ là những giải pháp chủ động, đạt được hiệu quả về tính thân thiện với môi trường, có những giải pháp về bài toán tiết kiệm năng lượng, dễ đầu tư, quản lý khai thác vận hành, phù hợp với tâm lý đa số người sử dụng và ít thách thức hơn nhiều so với loại hình khu HCTT dồn nén trong một khối nhà đồ sộ. Công trình càng hiện đại cao cấp, thì chủ sở hữu công trình càng phải đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức ở đây là gì? – Là trình độ quản lý tòa nhà, là khả năng chi phí vận hành tòa nhà, phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao về an ninh, an toàn thoát hiểm… Lựa chọn giải pháp hợp khối trung tâm hành chính có quy mô lớn và cao tầng phải được tính toán rất kỹ về chi phí vận hành tòa nhà hàng tháng, vì đây là những khoản chi phí không nhỏ. Khi hợp khối sẽ tận dụng được các diện tích sử dụng chung, tiết kiệm được chi phí văn thư đi lại và…; đồng thời phải so sánh với chi phí vận hành tòa nhà, xem cái lợi của hiệu quả đầu tư giữa các giải pháp lựa chọn. Đặc biệt, hợp khối sẽ không dễ dàng giải quyết vấn đề hạ tầng đô thị. Tòa nhà này xây dựng ở đâu thì ở đó sẽ có một vùng ảnh hưởng lớn. Khi một tòa nhà có tới hàng nghìn cán bộ công chức làm việc, với hàng nghìn lượt người dân và các đối tượng xã hội tiếp cận hàng ngày ra vào. Vì vậy, vấn đề quy hoạch giao thông cho khu vực này phải được giải quyết tốt. Đây chính là vấn đề trả lời cho câu hỏi: Giải pháp hợp khối khu hành chính tập trung có phù hợp với hạ tầng đô thị hay không?

Tóm lại, sự phù hợp với hạ tầng đô thị có liên quan đến 3 cấp độ về tính tập trung của các dự án xây dựng khu HCTT cấp Tỉnh. Các cấp độ này là sự lựa chọn rất riêng của từng tỉnh. Cho dù đã bàn luận khá nhiều về cấp độ tập trung cao nhất cho loại hình khu hành chính tập trung cao tầng, song tôi vẫn xem đây có cái lý của các địa phương khi quyết định xây dựng theo phương án này, cũng có thể vì không còn giải pháp nào khác, cũng có thể vì nhiều cái được khác.

3. Về cấu trúc thành phần chức năng trong hợp khối tòa nhà
Với 3 cấp độ tập trung như đã phân tích trên đây, tùy theo điều kiện của từng địa phương để lựa chọn, song việc hợp khối các thành phần chức năng là cơ sở để hình thành cấu trúc không gian của khu hành chính tập trung – Nhằm đạt được hiệu quả về tính bộ mặt và phù hợp với hạ tầng đô thị.

Chúng ta đều hiểu rằng, tính nhận diện của cơ quan hành chính cấp Tỉnh chính là bộ mặt hành pháp của chính quyền địa phương. Vì vậy, công trình chính đảm đương chức năng bộ mặt, phải ưu tiên cho các chức năng hành pháp cao nhất của Tỉnh, đó là các chức năng: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, bộ máy của Thường trực UBND, tiếp theo là các sở, ban, ngành – Bộ máy quản lý Nhà nước giúp việc cho thường trực UBND. Để tránh cho tổ hợp không gian phải tạo ra hai cực bộ mặt, có thể ghép cơ quan Tỉnh ủy vào công trình bộ mặt chính này. Trong trường hợp không ghép, tách riêng cơ quan của Đảng, thì cơ quan Tỉnh ủy có thể xác định ở vị trí dung dị, khiêm tốn hơn, không nhất thiết phải tạo ra một hình ảnh bề nổi, uy quyền, dù Tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Tỉnh. Đối với đô thị, bộ máy hành chính hành pháp cần được xem là hình ảnh bộ mặt của chính quyền địa phương. Đây là công trình bề nổi, cần có một diện mạo xứng tầm với nó.

Ngoài các thành phần chức năng quan trọng trên, các cơ quan đoàn thể, tổ chức xã hội và các cơ quan hành chính sự nghiệp (bộ phận giúp việc cho các sở ban ngành của Tỉnh), các chức năng này không nhất thiết phải tổ hợp trong công trình bộ mặt. Tùy theo điều kiện quy hoạch của từng địa phương để lựa chọn giải pháp tổ chức không gian, bố cục các khối chức năng này có khoảng giãn cách với tổ hợp công trình chính, trên tinh thần vẫn bảo đảm tính tập trung của khu hành chính.

Tóm lại, việc tổ hợp cấu trúc các thành phần chức năng trong tổ chức không gian khu hành chính tập trung là công việc quan trọng, nhằm xác định đúng tính chất chức năng, các thành phần quan trọng nhằm giãn cách tính chất hoạt động và các đối tượng sử dụng, dễ dàng cho công tác quản lý và điều hành. Không nên dồn nén quá phức tạp các thành phần chức năng và đối tượng sử dụng vào trong một hợp khối. Đây chính là yếu tố quan trọng để phân tích về hiệu quả sử dụng của việc lựa chọn giải pháp tổ chức không gian theo cấp độ của khu HCTT đồng thời cũng là cơ sở để xác định mức đầu tư khác nhau giữa các thành phần chức năng của khu HCTT.

Kết luận
Với những phân tích và bàn luận về 3 tiêu chí trên đây, việc chỉ đạo của Chính phủ trong công cuộc tạo lập khu HCTT cấp Tỉnh là đúng đắn và cần thiết. Đây vừa là dịp để nâng cấp chất lượng làm việc của các cơ quan hành chính cấp tỉnh, vừa là cơ hội để chuẩn hóa phương thức làm việc của các cơ quan công quyền – bộ mặt của Quốc gia tại các địa phương.

Xây dựng khu HCTT của Tỉnh có thể được xem là một sự kiện lớn của địa phương, bởi lẽ, hơn bất cứ một khu công trình nào trong đô thị, nó liên quan đến tất cả các đối tượng người dân trong tỉnh với các thành phần xã hội có liên quan. Chính vì vậy, thành quả của công cuộc này được xã hội hết sức quan tâm.
Thực tế, những gì đã thấy ở một số tỉnh thành về công cuộc này, có thể khẳng định rằng, không có mô hình chung nào cho các khu HCTT cấp tỉnh. Bởi lẽ, mỗi địa phương, mỗi đô thị có những điều kiện riêng khác nhau, dẫn đến sự lựa chọn giải pháp xây dựng khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế đã có những sự lựa chọn chưa được chuẩn mực, dẫn đến dư luận xã hội có những ý kiến trái chiều. Có những công trình vị trí quy hoạch chưa phù hợp. Có công trình hình thức kiến trúc chỉ là sự khác lạ, mà không biểu hiện được tiếng nói của cơ quan công quyền, cơ quan đầu não của chính quyền địa phương, nghĩa là chưa đạt được tính bộ mặt cần thiết trong lòng người dân. Cũng có tỉnh, điều kiện địa hình, cảnh quan thiên nhiên rất đặc sắc, song giải pháp kiến trúc của tổ hợp khu HCTT lại không ăn nhập gì với khung cảnh thiên nhiên, thậm chí còn phá vỡ khung cảnh thiên nhiên, tạo nên một hình ảnh phản cảm trong cảnh quan đô thị… Tất cả những khiếm khuyết trên đây sẽ là mặt phản tác dụng trong đường lối chỉ đạo phát triển kiến trúc đô thị của Tỉnh.

Một vấn đề khác, dư luận xã hội thường quan tâm đến tổng mức đầu tư và hiệu quả sử dụng. Đây cũng là hậu quả của việc quyết định đầu tư xây dựng khu HCTT cấp tỉnh khi 3 tiêu chí trên đây chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng.

Nội dung bàn luận và trao đổi trên đây, hy vọng rằng giúp được gì đó cho những khu HCTT cấp tỉnh khác, có thể xem xét rút kinh nghiệm, khi dự án xây dựng còn chưa đến hồi kết.p

KTS Nguyễn Tiến Thuận