Kiến trúc thương mại hay kiến trúc bền vững cho Hà Nội

Vấn đề “nóng” nhất ở Việt Nam hiện nay là đô thị hoá rộng khắp trên mọi vùng lãnh thổ. Đô thị hóa nhanh chóng góp phần không nhỏ để thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của chúng ta, đồng thời cũng để lại hậu quả nặng nề, do càng phát triển đô thị càng bộc lộ các yếu kém gây tác hại lâu dài. Các căn bệnh đô thị như: Kiến trúc lộn xộn, giao thông tắc nghẽn, ô nhiễm môi trường, dự án đô thị- phòng ngủ kiểu độc canh, thiếu vắng các trung tâm công cộng… Xem xét một cách sâu xa, chúng ta đang thiếu một hoạch định tổng thể được nghiên cứu hệ thống, liên ngành giữa hiện đại hóa kinh tế với đô thị, giữa đô thị với kiến trúc, bền vững tự nhiên – con người – xã hội trong phát triển.

Từ góc độ của nghiên cứu đô thị và kiến trúc cũng nên lùi xa và nhìn lại toàn cảnh đô thị của chúng ta để có cái nhìn thấu đáo hơn về lịch sử phát triển và tương lai của nó. Đặc biệt trong bối cảnh đô thị hoá hiện nay, những kinh nghiệm đô thị truyền thống hài hoà với tự nhiên, lối sống rất tiết kiệm không gian, đất đai, lại linh hoạt, đa năng trong sử dụng chưa được nhìn nhận một cách nghiêm túc trong phát triển đô thị ở Việt Nam.

NHẬN DẠNG HIỆN TRẠNG ĐÔ THỊ HOÁ Ở VIỆT NAM

Trong khoảng 10 năm gần đây, nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước đã lên tiếng cảnh báo về sự bùng nổ dân số đô thị và hiện tượng đô thị hoà không bình thường ở Việt Nam, càng đặc biệt khi vấn đề này lan rộng ở quy mô toàn quốc, kể cả vùng sâu vùng xa, có thể trở thành vấn nạn ở tầm mức quốc gia nếu không quan tâm đúng mức. Trào lưu đô thị hoá kiểu này không dễ gì kiểm soát. Có thể phân tích nhận dạng hiện trạng đô thị hoá hôm nay và gợi mở một số ý kiến cho lối ra.

 Đô thị hoá là hệ quả tự nhiên của công nghiệp hoá ở phương Tây.

W.Curtis, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về kiến trúc hiện đại thế kỷ 20 đã khẳng định “Quy luật của sự chuyển hoá thời kỳ hiện đại cho thấy đô thị là sản phẩm tất yếu của quá trình công nghiệp hoá. Nước Anh trước khi phát triển những thành phố hiện đại đầu tiên có 80 năm công nghiệp hoá, nước Mỹ là 50 năm và các con rồng châu Á là 30 năm”.

Như vậy, gần 150 năm trước trào lưu đô thị hoá bắt đầu ở phương Tây lan sang Mỹ những năm cuối thế kỷ 19 và châu Á là những thập niên 60, 70 thế kỷ 20 đều là hệ quả tự nhiên của quá trình hiện đại hoá đất nước thông qua cuộc Cách mạng Công nghiệp. Trước đó nữa, sự chuyển biến các chức năng đô thị thời kỳ giao lưu hàng hoá, tiền tệ đã xuất hiện hàng loạt nhà ga mới, hệ thống hạ tầng giao thông, điện nước, các phương thức xây dựng mới và vật liệu bê tông, sắt, thép với các chủ đầu tư mới, làm thay đổi bộ mặt của đô thị, kiến trúc thế giới. Chỉ trong thế kỷ 20 các nước phát triển đã chuyển gần như 80, 90% dân số cư trú từ nông thôn sang cư trú ở đô thị, đưa số người sống trong đô thị hiện nay lên 50% dân số của trái đất (khoảng hơn 3 tỷ người chỉ trong một thế kỷ). Trong trào lưu đô thị hoá, không có điểm khởi đầu rõ ràng nhưng chính cuộc Cách mạng Công nghiệp đã chuyển hoá cả thành thị và nông thôn một cách sâu sắc và toàn diện. Khác với chúng ta, các nước phát triển có cả hàng trăm năm để xây dựng nếp sống, văn minh đô thị. Họ có đô thị với những cư dân đã quen đi làm theo thời gian biểu của nhà máy, công xưởng và đi lại bằng các phương tiện công cộng. Họ dần quen với các chức năng chung của đô thị và coi trọng các giá trị công ích của đô thị – vốn rất nhiều thành phần cho công cộng. Họ có văn hoá đô thị hình thành trong nhiều thế hệ.

Việt Nam – đô thị hoá xảy ra trước công nghiệp hoá.

Ít ai nhận ra rằng ở Việt Nam quá trình đô thị hoá xảy ra nhiều năm trước quá trình công nghiệp hoá, khiến cho các mô hình và tư duy đô thị gặp sự khủng hoảng lớn. Chưa kịp phân tích nguyên nhân do đâu dẫn tới hiện tượng này (có thể do sức ép nhà ở, làm giàu sau chiến tranh và giá quá hời do đầu cơ  nhà đất chăng?) nhưng ai cũng nhận thấy các đô thị Việt Nam càng phát triển càng bộc lộ các yếu kém gây tác hại lâu dài. Các căn bệnh đô thị như giao thông, nước thải sinh hoạt, di dân tự do, an ninh xã hội…ngày càng trầm kha. Công tác hoạch định đô thị chưa bao giờ là đối tượng quan tâm hàng đầu của quốc gia.

Chúng ta xem sự lệch pha lớn không giống ai này tạo hậu quả gì cho đô thị Việt Nam về cảnh quan tự nhiên và cảnh quan văn hoá. Và phải chăng đây là đặc điểm nhận dạng tương đối rõ nét để hiệu chỉnh các lý luận và chính sách đô thị ở Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn. Quy hoạch vốn là gốc của phát triển, ngày càng xa rời nền tảng kinh tế – xã hội– dân cư của nó để  chạy theo tư duy của các nhà chính trị (Việc cấp tới gần 800 dự án chiếm đất từ vành đai 3-4, để lại bài toán không thể giải trong quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội, là barie không thể vượt qua của quy hoạch này),  khiến cho căn bệnh đô thị ngày càng trở nên bế tắc.

Ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh và Hà Nội có tới hàng chục vạn người (nếu không nói là cả gần triệu người) sống chen chúc trong các khu tối tăm, không được thoả mãn nhu cầu tối thiểu về nhà ở, việc làm, chưa nói đến các nhu cầu dịch vụ giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, nước sạch và hạ tầng kỹ thuật…Các khu đô thị mới được phát triển mạnh ở ngoại vi vốn là các dự án nhỏ lẻ, không đồng bộ, hầu như chỉ phân lô bán nền nhà ở. Vốn không có việc làm tại chỗ, không trường học, bệnh viện, chợ búa và các trung tâm giao tiếp nên các cư dân vẫn đổ vào các trung tâm cũ theo giao thông hướng tâm để đi làm, đi học và đi tới các khu dân cư khác. Điều này càng trở nên nan giải khi dòng người nhập cư không chính thức từ nông thôn ra thành phố càng tăng trong diễn biến đô thị hoá toàn diện hiện nay ở Việt Nam.

Theo các số liệu của Hiệp hội Đô thị Việt Nam tháng 9 năm 2006, các tổ chức quốc tế dự báo tỷ lệ đô thị hoá ở Việt Nam đến 2020 đạt 60% chứ không phải là 45% như trong chiến lược phát triển đô thị dự kiến. Theo kết quả điều tra dân số năm 2004-2008, mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu người nhập cư vào các thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh dân số là 7.109.251 người thì dân nhập cư chiếm 28,9 %, chưa kể số người nhập cư không chính thức. Còn theo TS. W. Frenner – Trưởng đại diện Viện Konrad – Adenouer tại Việt Nam “Đến 2020 dân số Việt Nam sẽ tăng khoảng hơn 100 triệu và trong đó 70% tức là 70,84 triệu người sẽ sống trong các đô thị. Họ sẽ cư trú và làm việc tại đâu, phân bố trong mạng lưới đô thị trung bình toàn quốc hay tập trung vào các thành phố lớn để hình thành các đô thị 20, 30 triệu dân như Saopaolo và Mexico city ?”. Đây thật sự là thách thức lớn của thời đại.

Bộ mặt kiến trúc – đô thị.

Bước vào thời kinh tế thị trường từ năm năm 1986 đến nay, kiến trúc Việt Nam đổi thay mạnh mẽ. Đô thị hoá hoá rộng khắp và các dự án mọc lên như nấm. Các loại hình kiến trúc của thời kỳ này là: Kiến trúc công sở, nhà chia lô, khách sạn, văn phòng, trung tâm thương mại, khu công nghiệp tập trung và các khu đô thị mới với chung cư cao tầng (Rất ít xây bệnh viện, trường đại học như thời bao cấp). Nhưng về phong cách và tính thẩm mỹ, thậm chí về công năng lại tụt hậu đáng kể so với thời kỳ trước (Hội thảo về “Kiến trúc xây từ ngân sách”-2008 của Hội KTS Việt Nam tổ chức, cho thấy sự lạc hậu của loại kiến trúc nhại cổ hãnh tiến). Ở các khu đô thị lớn, do hệ quả của dự án cấp theo “quan hệ”, thành phố bị xé lẻ, băm nát thành những mảnh riêng biệt, ngôn ngữ kiến trúc vụn vặt chắp vá, tính tổng thể xưa kia vốn là nền tảng cho vẻ đẹp đô thị nay bị phá vỡ, làm tổn hại nặng nề đến bộ mặt thành phố. Có thể nói “thành phố của dự án” tương đồng với thuật ngữ “thành phố bị phá vỡ cấu trúc” đang đại diện cho kiến trúc đô thị thời mở cửa, cộng vào đó là sự thiếu vắng các trung tâm công cộng – vốn là bộ mặt thành phố – càng làm bức tranh kiến trúc thêm ảm đạm.

 

Đô thị hoá là hệ quả tự nhiên của công nghiệp hoá ở phương Tây.

W.Curtis, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về kiến trúc hiện đại thế kỷ 20 đã khẳng định “Quy luật của sự chuyển hoá thời kỳ hiện đại cho thấy đô thị là sản phẩm tất yếu của quá trình công nghiệp hoá. Nước Anh trước khi phát triển những thành phố hiện đại đầu tiên có 80 năm công nghiệp hoá, nước Mỹ là 50 năm và các con rồng châu Á là 30 năm”.

Như vậy, gần 150 năm trước trào lưu đô thị hoá bắt đầu ở phương Tây lan sang Mỹ những năm cuối thế kỷ 19 và châu Á là những thập niên 60, 70 thế kỷ 20 đều là hệ quả tự nhiên của quá trình hiện đại hoá đất nước thông qua cuộc Cách mạng Công nghiệp. Trước đó nữa, sự chuyển biến các chức năng đô thị thời kỳ giao lưu hàng hoá, tiền tệ đã xuất hiện hàng loạt nhà ga mới, hệ thống hạ tầng giao thông, điện nước, các phương thức xây dựng mới và vật liệu bê tông, sắt, thép với các chủ đầu tư mới, làm thay đổi bộ mặt của đô thị, kiến trúc thế giới. Chỉ trong thế kỷ 20 các nước phát triển đã chuyển gần như 80, 90% dân số cư trú từ nông thôn sang cư trú ở đô thị, đưa số người sống trong đô thị hiện nay lên 50% dân số của trái đất (khoảng hơn 3 tỷ người chỉ trong một thế kỷ). Trong trào lưu đô thị hoá, không có điểm khởi đầu rõ ràng nhưng chính cuộc Cách mạng Công nghiệp đã chuyển hoá cả thành thị và nông thôn một cách sâu sắc và toàn diện. Khác với chúng ta, các nước phát triển có cả hàng trăm năm để xây dựng nếp sống, văn minh đô thị. Họ có đô thị với những cư dân đã quen đi làm theo thời gian biểu của nhà máy, công xưởng và đi lại bằng các phương tiện công cộng. Họ dần quen với các chức năng chung của đô thị và coi trọng các giá trị công ích của đô thị – vốn rất nhiều thành phần cho công cộng. Họ có văn hoá đô thị hình thành trong nhiều thế hệ.

Việt Nam – đô thị hoá xảy ra trước công nghiệp hoá.

Ít ai nhận ra rằng ở Việt Nam quá trình đô thị hoá xảy ra nhiều năm trước quá trình công nghiệp hoá, khiến cho các mô hình và tư duy đô thị gặp sự khủng hoảng lớn. Chưa kịp phân tích nguyên nhân do đâu dẫn tới hiện tượng này (có thể do sức ép nhà ở, làm giàu sau chiến tranh và giá quá hời do đầu cơ  nhà đất chăng?) nhưng ai cũng nhận thấy các đô thị Việt Nam càng phát triển càng bộc lộ các yếu kém gây tác hại lâu dài. Các căn bệnh đô thị như giao thông, nước thải sinh hoạt, di dân tự do, an ninh xã hội…ngày càng trầm kha. Công tác hoạch định đô thị chưa bao giờ là đối tượng quan tâm hàng đầu của quốc gia.

Chúng ta xem sự lệch pha lớn không giống ai này tạo hậu quả gì cho đô thị Việt Nam về cảnh quan tự nhiên và cảnh quan văn hoá. Và phải chăng đây là đặc điểm nhận dạng tương đối rõ nét để hiệu chỉnh các lý luận và chính sách đô thị ở Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn. Quy hoạch vốn là gốc của phát triển, ngày càng xa rời nền tảng kinh tế – xã hội– dân cư của nó để  chạy theo tư duy của các nhà chính trị (Việc cấp tới gần 800 dự án chiếm đất từ vành đai 3-4, để lại bài toán không thể giải trong quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội, là barie không thể vượt qua của quy hoạch này),  khiến cho căn bệnh đô thị ngày càng trở nên bế tắc.

Ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh và Hà Nội có tới hàng chục vạn người (nếu không nói là cả gần triệu người) sống chen chúc trong các khu tối tăm, không được thoả mãn nhu cầu tối thiểu về nhà ở, việc làm, chưa nói đến các nhu cầu dịch vụ giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, nước sạch và hạ tầng kỹ thuật…Các khu đô thị mới được phát triển mạnh ở ngoại vi vốn là các dự án nhỏ lẻ, không đồng bộ, hầu như chỉ phân lô bán nền nhà ở. Vốn không có việc làm tại chỗ, không trường học, bệnh viện, chợ búa và các trung tâm giao tiếp nên các cư dân vẫn đổ vào các trung tâm cũ theo giao thông hướng tâm để đi làm, đi học và đi tới các khu dân cư khác. Điều này càng trở nên nan giải khi dòng người nhập cư không chính thức từ nông thôn ra thành phố càng tăng trong diễn biến đô thị hoá toàn diện hiện nay ở Việt Nam.

Theo các số liệu của Hiệp hội Đô thị Việt Nam tháng 9 năm 2006, các tổ chức quốc tế dự báo tỷ lệ đô thị hoá ở Việt Nam đến 2020 đạt 60% chứ không phải là 45% như trong chiến lược phát triển đô thị dự kiến. Theo kết quả điều tra dân số năm 2004-2008, mỗi năm có khoảng hơn 1 triệu người nhập cư vào các thành phố. Thành phố Hồ Chí Minh dân số là 7.109.251 người thì dân nhập cư chiếm 28,9 %, chưa kể số người nhập cư không chính thức. Còn theo TS. W. Frenner – Trưởng đại diện Viện Konrad – Adenouer tại Việt Nam “Đến 2020 dân số Việt Nam sẽ tăng khoảng hơn 100 triệu và trong đó 70% tức là 70,84 triệu người sẽ sống trong các đô thị. Họ sẽ cư trú và làm việc tại đâu, phân bố trong mạng lưới đô thị trung bình toàn quốc hay tập trung vào các thành phố lớn để hình thành các đô thị 20, 30 triệu dân như Saopaolo và Mexico city ?”. Đây thật sự là thách thức lớn của thời đại.

Bộ mặt kiến trúc – đô thị.

Bước vào thời kinh tế thị trường từ năm năm 1986 đến nay, kiến trúc Việt Nam đổi thay mạnh mẽ. Đô thị hoá hoá rộng khắp và các dự án mọc lên như nấm. Các loại hình kiến trúc của thời kỳ này là: Kiến trúc công sở, nhà chia lô, khách sạn, văn phòng, trung tâm thương mại, khu công nghiệp tập trung và các khu đô thị mới với chung cư cao tầng (Rất ít xây bệnh viện, trường đại học như thời bao cấp). Nhưng về phong cách và tính thẩm mỹ, thậm chí về công năng lại tụt hậu đáng kể so với thời kỳ trước (Hội thảo về “Kiến trúc xây từ ngân sách”-2008 của Hội KTS Việt Nam tổ chức, cho thấy sự lạc hậu của loại kiến trúc nhại cổ hãnh tiến). Ở các khu đô thị lớn, do hệ quả của dự án cấp theo “quan hệ”, thành phố bị xé lẻ, băm nát thành những mảnh riêng biệt, ngôn ngữ kiến trúc vụn vặt chắp vá, tính tổng thể xưa kia vốn là nền tảng cho vẻ đẹp đô thị nay bị phá vỡ, làm tổn hại nặng nề đến bộ mặt thành phố. Có thể nói “thành phố của dự án” tương đồng với thuật ngữ “thành phố bị phá vỡ cấu trúc” đang đại diện cho kiến trúc đô thị thời mở cửa, cộng vào đó là sự thiếu vắng các trung tâm công cộng – vốn là bộ mặt thành phố – càng làm bức tranh kiến trúc thêm ảm đạm.

 Sau mở cửa năm 1986, giới kiến trúc tỏ ra lúng túng trước quá nhiều ngả đường, thể hiện qua tính chất lai tạp Á – Âu, kim – cổ, không có sự nhất quán trong tư tưởng nhận thức thiết kế như thời kỳ trước. Sau 25 năm đổi mới, kiến trúc sa vào chủ nghĩa hình thức lạc hậu và lãng phí. Nhiều hội chứng “kiến trúc Pháp”, “kiến trúc Thái”, “củ hành, củ tỏi”, mái úp, mái xoè, trang trí loè loạt… như hội chứng của các nước đang phát triển mắc phải : “Các kiến trúc tạp nham xa lạ thời kỳ đổi mới ở Việt Nam có thể giải thích một phần nào do những tầng lớp mới phất muốn tách bản thân họ ra khỏi những giá trị quê hương họ để chạy theo văn hoá tiêu dùng phương Tây. Họ ham muốn những hình ảnh hào nhoáng, hợm hĩnh, dùng hàng nhái, hàng rởm để khẳng định vị trí riêng của họ. Tình trạng này giống như một số nước châu Mỹ Latinh thập niên 50, 60 của thế kỷ 20”(J.Ghenry).

Đơn cử như Hà Nội chẳng hạn, thành phố có quá nhiều công trường quy mô lớn (từ khu Hoàng Thành với Nhà Quốc hội mới, 280 dự án cao tầng trong trung tâm nội đô vừa bị dừng đã lại được cấp phép xây tiếp và hàng trăm khu đô thị mới lớn nhỏ bám vào vành đai 2, 3, 4….). Có quá nhiều vấn đề trong cơ thể đô thị trung tâm vốn cho 2 vạn người từ thời Pháp thuộc, nay quá tải trở nên ọp ẹp (giao thông tắc nghẽn, hạ tầng xuống cấp, di dân nơi khác đến, giải phóng mặt bằng liên miên cho các dự án tái sử dụng, nhà không phép…), còn nói chi đến việc xây dựng lối sống, văn hoá và chất lượng kiến trúc. Các khu vực trung tâm của 4 quân nội thành cũ, trong đó có khu phố cổ, khu phố Pháp bị sức ép nặng nề do phải chất tải các hoạt động của hàng triệu lượt người hàng ngày. Nếu quan sát tinh ý, chúng ta thấy dòng người đổ vào mỗi sáng từ các hướng ven đô vào trung tâm đi làm, đi học và chiều đến lại từ trung tâm ngược về nhà ở. Các quận Đống Đa, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên và Hoàn Kiếm ven đê là những khu vực sẽ xuống cấp nhanh nhất. Song song với nó là sự xây cất quá nhiều ở khu phố Pháp – nguy cơ Hà Nội sẽ phá hỏng khu phố này như kiểu nhà 27 Hàng Bài, trụ sở Bộ Tài Chính ở phố Trần Hưng Đạo, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở phố Lý Thường Kiệt (Hình 1,2,3). Sự phá vỡ cấu trúc các trung tâm kiến trúc lịch sử vô giá của Hà Nội là không thể ngăn được.

Bước ra ven đô, chỉ cần nhìn lướt hai bên đường khi ra khỏi thành phố cũng đủ cảm nhận một cách “đứt gãy lớn”, một sự “phá vỡ” lớn trong cảnh quan của các vùng nông thôn ở đây, vốn xưa có cấu trúc rất đẹp giữa cánh đồng và làng. Tình trạng bê tông hoá mạnh ai nấy xây ven lộ, ven đê, ven đường cao tốc và trong các đường làng chật hẹp cũng bộc lộ rõ sự không theo kịp của những hoạch định quy hoạch nông thôn hiện nay.

Hệ quả của “sự bơ vơ” về sáng tác của kiến trúc hiện nay thể hiện sự hẫng hụt trong học thuật và lý luận đô thị, kiến trúc. Kiến trúc thời bao cấp không còn đáp ứng được xã hội. Kiến trúc mới chưa kịp ổn định thì gặp phải làn sóng dự án đầu tư vì mục đích thương mại, vùi lấp các khoảng sáng để lại nhiều khoảng trống và miền tối trong sáng tác. Cũng có thể bứt phá để sáng tạo ngôn ngữ kiến trúc mới phù hợp thời đại trong hoàn cảnh này; Cũng có thể dễ dãi ăn theo thị trường bất động sản, cần dùng món nào thì ta xào món đó, để cho “Kiến trúc thương mại” ghi dấu ấn đặc thù vào Hà Nội hôm nay, và tệ hơn là phá hỏng Hà Nội cổ kính xưa.

Năm 1998, KTS Hoàng Phúc Thắng đã nghiên cứu về năng lực quy hoạch của Việt Nam. Ông cho biết nếu với quy trình và công cụ lạc hậu như Việt Nam hiện nay, việc thực hiện quy hoạch chi tiết các đô thị (vùng chức năng, khu dân cư) phải mất 500 năm nữa mới hoàn thành. Khi đó ai cũng cho là câu nói hoang đường. Nhưng đến nay có thể là sự thực. Bởi tính đến 2005 mới có khoảng 20 triệu người sống ở đô thị. Nếu năm 2020, sau 14 năm nữa là 70 triệu thì ta phải lo cho 50 triệu dân cư đô thị có nhà ở, việc làm và các dịch vụ đời sống khác. Hay tính theo quỹ đất cứ 100m2/đầu người thì chúng ta cần tới 700.000 ha đất dành cho đô thị. Và khi Hà nội mở rộng tới gần 4 lần, phải mất bao lâu mới xong qui hoạch chi tiết? Chỉ tính riêng về dịch vụ tối thiểu cho 3 hạng mục cấp nước,  thoát nước và thu gom sử lý chất thải rắn đã cần khoản đầu tư khổng lồ: năm 2010 cần 8,9 tỷ USD và đến năm 2020 cần 13 tỷ USD (theo số liệu của Hiệp hội Đô thị Việt Nam). Con số cần tính cho bao nhiêu nhà ở, trường học, bệnh viện… chưa có số liệu chính thức nào từ phía các cơ quan quản lý nhà nước công bố. Sẽ là quá muộn nếu chúng ta không có những quyết sách đúng đắn về đô thị hoá ở Việt Nam. Liệu chúng ta có thể lặp lại bế tắc đô thị như bế tắc giao thông hiện nay ? Bế tắc đô thị còn lớn hơn nhiều.             

Tôi thử đưa một số mặt đứng kiến trúc Văn phòng làm việc tại Hà nội, xây dựng trong thời kỳ 1996 đến nay, để độc giả tự nhận xét xem đã có những biểu hiện của xu hướng kiến trúc “hiện đại và đậm đà bản sắc” hay chưa. Hay chúng ta đã đưa một châm ngôn thiết kế rất hình thức chỉ cốt ở cái mặt đứng, xa lạ với đòi hỏi nóng bỏng của thực tiễn phát triển hôm nay? 

THỬ TÌM LỐI RA BẰNG CÁCH SUY NGHĨ

Các lý thyết kiến trúc cơ bản đều đề cập đến kiến trúc như sản phẩm của xã hội và lịch sử. Những thay đổi của phong cách kiến trúc đều có nguồn gốc từ mối quan hệ sản xuất – xã hội và từ đó là cấu trúc văn hoá- nghệ thuật. Khi xã hội dịch chuyển, xuất hiện những nhân tố mới, những trào lưu nghệ thuật có điều kiện phôi thai, được phát lộ và chịu tác động trực tiếp của cấu trúc xã hội quy định nó. Mối quan hệ này thường không thực hiện trực tiếp mà theo những con đường phức tạp của quy luật thẩm mỹ – sự cảm nhận và tính đại diện mà người ta hay gọi chung là tính thời đại.

Mặt khác kiến trúc là một nghệ thuật duy nhất mang tính nhị nguyên: Vừa là sản phẩm của xã hội, của hoạt động con người; Đồng thời, lại là chủ thể kiến tạo môi trường  không gian bao chứa cho tất cả  các hoạt động đó. Điều này tạo nên sự cao quý của Kiến trúc. Nói lên sự liên quan mật thiết và sâu xa của nó với con người.

Trong “ Luận cương về kiến trúc” nổi tiếng của mình, Le Corbusier đã viết: “Kiến trúc hay là Cách mạng” và ông đã đưa ra ý tưởng thiết kế thành phố vườn với các đường phố rộng và thẳng, các toà nhà dài 200m hình chữ thập, chìm trong cây xanh với thiết kế bên trong thật rõ ràng, hợp lý, đưa sinh hoạt đường phố vào những toà nhà đó. “Ông vẽ một thành phố thuần nhất cào bằng quá khứ” (KTS Portzamparc – giải thưởng Pritzker 1994 nhận xét). Thật là lý thú biết bao khi nhìn điều đó từ thời điểm 1922. Nhưng cũng thật khủng khiếp nếu nhìn từ ngày nay, sau khi chúng ta đã thử đưa tất cả điều đó vào thực tế. Những complex nhà ở khổng lồ, cùng khuôn mẫu với những ngôi nhà dài 200m đó, có mặt ở mọi nơi trên thế giới, và ở khắp nơi con người đều gặp phải khó khăn với nó như nhau trong việc định hướng và sinh sốn, bởi chúng không thuận tiện. Thực tế đã chỉ ra rằng, không một thành phố nào được thực hiện hoàn toàn theo thiết kế của chỉ kiến trúc sư, lại tạo ra một môi trường sống có thể so sánh với môi trường của các thành phố lịch sử, được hình thành qua nhiều thế kỷ. Những thành phố cũ dường như nói tiếng nói riêng của cư dân bản địa, tiện lợi theo cách sống của họ và mang vẻ đẹp duy nhất.

Chính những thành tựu kỹ thuật được sử dụng trong kiến trúc hiện đại với các khả năng chưa được chế ngự đã để lại những hậu quả xấu, làm tồi tệ đi môi trường sống, tuy gia tăng nhanh chóng diện tích đô thị. Điều hòa trung tâm trong các cao ốc văn phòng cách biệt với bên ngoài, làm các “chứng bệnh văn phòng” phát sinh cùng với “ hiệu ứng nhà kính” của trái đất. Ý định dùng kỹ thuật để tạo ra môi trường sống nhân tạo lý tưởng được tiêu chuẩn hóa về nhiệt độ (22 + 1­­­­0C) chiếu sáng nhân tạo (500 lux), không khí sạch tối thiểu (8,33l/s/người) đang dần bộc lộ những yếu điểm không thể bỏ qua­­­. Chính sự ỷ lại vào kỹ thuật và tăng tốc xây dựng còn để lại môi trường kiến trúc đơn điệu, giống hệt nhau từ Đông sang Tây. Các ban công khác kiểu có thể che dấu sự đơn điệu được chăng? Những vấn đề kiến trúc (như các khối hộp chữ nhật nằm ngang hay thẳng đứng trần trụi trong đô thị hiện đại) mà chúng ta nhắc lại hàng triệu lần để không biến thành thảm họa của thẩm mỹ là cái gì? Và bỗng nhiên các công trình đã là niềm tự hào bởi chiều cao, khối tích lớn chưa từng có trong quá khứ bắt đầu làm chúng ta lo lắng, coi đó là biểu hiện xa lạ với con người, bởi sự tổ chức môi trường sống thật bất tiện, thậm chí bài trừ cái đẹp.

Nhưng có thể lùi về quá khứ? Có thể tước đoạt các khả năng kỳ diệu của kỹ thuật, của giao thông cao tốc, của điện thoại, truyền thông vô tuyến, xe hơi, điều hòa trung tâm, những căn hộ trên không trung, của kính tấm lớn v.v… để hoàn toàn ngược trở về với truyền thống? Tỷ như có thể đánh đổi sự thỏa mãn dễ chịu khi cho những khu vườn nhiệt đới lớn xâm nhập từ bên ngoài vào những phòng khách rộng lớn, bằng cách nhìn ra vườn từ một cửa sổ hẹp và “cũ kỹ”. Và liệu có thể lấy đi sự đan quyện hiện đại của các không gian đa năng chỉ cần một vài cột đỡ, để giữ lại không gian kiểu cũ với các gian phòng tối tăm, bó hẹp trên từng tầng nhà?


Nhưng, cũng xin từ nền tảng văn hóa, địa lý, khí hậu để thử nêu ba câu hỏi cho giới chuyên môn chúng ta cùng suy nghĩ, tìm đến các giải pháp thích hợp cho đô thị- kiến trúc Việt Nam:

1, Phải chăng đã đến lúc cần phải nghiên cứu và thiết kế vì sự đa dạng của kiến trúc Việt Nam -vốn sinh ra từ nền tảng địa lý – nhân văn rất khác biệt theo vĩ tuyến suốt  Bắc – Trung – Nam dài 3000km. Chiều ngang theo kinh tuyến ở mỗi miền đều qua núi cao, trung du, đồng bằng, duyên hải, có khí hậu, môi sinh riêng bởi các vùng sinh thái không đồng nhất (mà trời cho chúng ta thật hào phóng). Tính đa dạng làm chỗ dựa cho nền kiến trúc phong phú, nhiều sắc thái, có chung động lực của công nghệ – kỹ thuật hiện đại sẽ tạo nên ngôn ngữ thống nhất của Hiện đại – Bản địa.

2, Và trong đô thị liệu có nên thay thế dạng đô thị thuộc về phương thức sinh sống nhỏ (bám vào các trục lộ, mặt nhà, hè phố, lòng đường để buôn bán) vốn là bản chất của người Việt (chắc còn tồn tại khá lâu nữa) bằng kiểu dự án đô thị- phòng ngủ như hiện nay (Đô thị chỉ nhà liền kề và chung cư), kiểu chia lô bán nền được cấp theo “quan hệ” rất tiện cho chủ đầu tư, và cả cho sự “gợi ý” đưa thiết kế vốn đơn điệu của chúng về “ lò của các Sở QH-KT” thực hiện.

3, Thực ra chúng ta đang ở vận hội mới của Kiến trúc thế giới, khi nền văn minh tri thức đã lộ diện. Biết bao sáng tạo của con người đã thay đổi tận cội rễ đời sống. Không gian và thời gian sống dường như mở rộng, trải nghiệm dài hơn với mỗi người qua màn hình tivi, internet và tốc độ đi lại… Không gian kiến trúc đã được giải phóng khỏi các bức tường và khẩu độ của dầm bê tông bằng công nghệ mới, vật liệu nhẹ, thông minh và đa năng… Mục đích là mang lại cho con người các giải pháp tiết kiệm tối đa năng lượng, nước sạch, tài nguyên và… thật nhiều không khí, cây xanh, sức khoẻ. Sao chúng ta không đi vào xu hướng này? Thi xem ai sáng tạo ra các toà nhà dùng ít năng lượng nhất, có nhiều sáng kiến để chống lại các bất lợi khí hậu và tiết liệm tài nguyên. Xem ngôi nhà nào thông minh nhất ở biển, ở núi cao, ở khu đô thị chật chội, những ngôi nhà có khả năng tự điều chỉnh thích ứng với môi trường bên ngoài với tên gọi khiêm nhường nhưng chứa đựng tính nhân văn sâu sắc: “Nhà cacbon thấp”, “Nhà sinh thái mới”, “Nhà xanh”. Hay đây là ý tưởng xa xỉ với kiến trúc Việt đang chạy theo thị hiếu thị trường?

LỜI KẾT VỀ NGUỒN LỰC KIẾN TRÚC

Kiến trúc Việt đang gặp vận hội mới cũng giống như thời kỳ những năm 20-36 của thế kỷ 20. Dù du nhập kiến trúc phương Tây, nhưng thế hệ Kiến trúc sư thứ nhất đã để lại dấu ấn của Phong cách kiến trúc Đông dương ; Thế hệ thứ 2, 3 là Phong cách hiện đại nhiệt đới miền Nam Việt Nam và Phong cách công năng xã hội chủ nghĩa miền Bắc Việt Nam (Những luận điểm này được Hội nghị toàn thể kiến trúc thế giới ghi nhận ở Bacelona 2006, thông qua một nghiên cứu về Kiến trúc Trường đại học ở Việt Nam của tác giả bài này với Trường đại học Tổng hợp Deakin – Úc). Nó cho chúng ta thấy sự nghiêm túc của các thế hệ kiến trúc Việt nam luôn khát khao hội nhập cao nhất với quốc tế, đồng thời khẳng định cái riêng – rất riêng của dân tộc mình. Sự trăn trở ngày càng lớn hơn khi hiện nay bước vào hiện đại hoá, chúng ta có nhiều cơ hội hơn, nhiều tiền hơn, nhưng lại cam go hơn khi muốn có tác phẩm để đời như cha anh đã từng. Tại sao vậy? phải chăng đó là sức ép của guồng quay thị trường vốn do những chủ đầu tư ăn xổi bắt tay với tư duy nhiệm kỳ của quan chức chi phối; là sự dễ dãi của xã hội trong việc tiêu thụ các sản phẩm xây dựng đại trà chất lượng thấp được đưa vào Việt Nam? Hay chúng ta ít ý tưởng hơn và nhiều tính thợ hơn khi phụ thuộc quá nhiều vào máy tính và thủ tục xét duyệt bản vẽ?

Tôi lại cho rằng, do chúng ta chưa từng phân tích với nhau về nguồn lực kiến trúc. Ai cũng muốn sinh ra trên núi vàng, nhưng ít ai biết mỗi chúng ta đều có một núi vàng, nếu biết phân tích nguồn lực chung quanh để khai thác. Nguồn lực kiến trúc của Việt Nam hiện nay là vô cùng lớn, nếu không nói là điểm vàng cho hành nghề kiến trúc. Bởi chúng ta đang bắt đầu đô thị hoá, bắt đầu chuyển cả trăm triệu người sang sống ở đô thị. Bắt đầu tìm kiếm mô hình cư trú mới cho nền văn minh Công nghiệp-Dịch vụ-Tri thức. Kiến trúc sư ngoại biết rất rõ nguồn lực đó và họ đã tràn vào cả hàng trăm tổ chức tư vấn với sự bật đèn xanh của Nhà nước khi duyệt giá thiết kế “Trên trời” cho công trình ngân sách có “Tây” thiết kế. Kiến trúc sư Việt Nam đang ở vai tư vấn phụ ngay trên sân nhà với phận hèn do thiếu kỹ năng nghề nghiệp từ học vấn ọp ẹp của các trường đào tạo kiến trúc, do tiếng nói của Hội nghề nghiệp chưa đủ mạnh, do hành lang pháp lý hành nghề chưa có chuẩn. (Ai đã xem triển lãm Kiến trúc Việt Nam từ hai năm nay sẽ thấy rõ: Đây là cuộc hội diễn của tư vấn nước ngoài mà chúng ta – các kiến trúc sư Việt Nam đóng vai khán giả.)

Nguồn lực Kiến trúc không khác các lý thuyết kinh tế đã gọi tên, nó gồm:

 1, Nguồn lực từ nhu cầu kinh tế-xã hội-văn hoá trong thời kỳ đô thị hoá – là nguồn lực dồi dào nhất trong lịch sử kiến trúc dân tộc như đã phân tích ở trên.

 2, Nguồn lực từ con người: Kiến trúc sư, Nhân lực xây dựng khác (Họ đang vươn lên làm chủ công nghệ trong thi công rất nhanh) và Nhà quản lý dự án. Có thể nói đây là nguồn lực chỉ đạt chuẩn dưới 50%.

  3, Nguồn lực từ chính sách và thể chế: Là nguồn lực thiếu hụt nhất và xót xa thay… lại là quan trọng nhất. Bởi nếu hai nguồn lực trên có dồi dào đến mấy cũng chỉ là nguồn lực dạng tài nguyên, đợi các chính sách khai thông để khai thác và đợi hành lang pháp lý để thực hiện. Như vậy chúng ta đang rất cần một Thể chế hành nghề chuyên nghiệp đạt chuẩn quốc tế và phù hợp với quyền lợi của số đông kiến trúc sư, có sự đóng góp trí tụê của giới kiến trúc sư Việt Nam, để họ có thể phát huy hết nguồn lực của Tổ quốc, để họ có được đô thị, kiến trúc để đời như cha anh họ đã từng có.

PGS.TS.KTS Nguyễn Hồng Thục