Nhà ở nông thôn mới tỉnh Sóc Trăng

Hình 1. Vị trí Sóc Trăng nằm trong khu vực ĐBSCL

Tỉnh Sóc Trăng nằm ở cửa Nam sông Hậu, diện tích tự nhiên 3.311,7629 km2 (chiếm khoảng 1% diện tích cả nước và 8,3% diện tích của khu vực đồng bằng sông Cửu Long). Có bờ biển dài 72 km và 03 cửa sông lớn: Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra Biển Đông. Các tỉnh tiếp giáp: Hậu Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, Vĩnh Long.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một vùng đất đa văn hóa, đa dân tộc với nhiều tín ngưỡng – các dân tộc Hoa, Khmer và Chăm cư trú xen kẽ qua nhiều thế kỷ với mối giao lưu rộng rãi và lành mạnh. Là vùng đất có môi trường thiên nhiên vô cùng phong phú và đa dạng, với những đặc điểm riêng biệt đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cũng như trong việc hình thành tính cách của con người sinh sống ở đây.

ĐBSCL là vùng sông nước rất đặc thù, không chỉ của Việt Nam mà của thế giới. Sông trước cửa nhà, sông sau lưng nhà, sông chạy cặp theo những con lộ, sông luồn lách qua những xóm nhỏ, sông ôm ấp những cù lao… Sông Cửu Long chảy từ Tây Tạng xuống Nam Hải (nay gọi là biển Đông), mỗi năm có một mùa nước nổi, hai bên bờ không có đê. Đất rộng người thưa, vào mùa lũ thì còn nhiều giồng đất cao ráo không ngập, đủ chỗ cho dân cư ngụ.

Hình 2. Cư dân định cư theo tuyến (trước kênh – đường – nhà – vườn – ruộng); Thường cư dân tập trung đông đúc tại các ngã ba sông; Cư dân sống dọc theo các giồng cát chạy song song với bờ biển

Làng xóm hình thành không có ranh giới rõ ràng, hình thể của làng thường chạy dọc theo hai bờ sông hoặc hai bờ rạch: Mé sông (rạch), đường mòn rồi đến nhà, phía sau nhà là vườn cây rồi đến ruộng. Chỉ có những nơi ngã ba hoặc ngã tư sông thì có nhà cửa chen chúc hơn, trở thành nơi trao đổi, buôn bán hàng hóa, thành những chợ nhỏ, dần phát triển thành những thị trấn, thị tứ và các đô thị như ngày nay.

Truyền thống, tập quán xây dựng nhà cửa: Cư dân ở ĐBSCL thường chọn nhà ở trên đất giồng, gò, đồi và nhà ở chạy dọc theo sông rạch. Việc lựa chọn cách bố trí này vừa giúp cho họ dễ dàng trong việc lao động sản xuất cũng như trong các hoạt động bán buôn, theo quan điểm “Nhất cận thị, nhị cận giang”.

Về vật liệu làm nhà cư dân nơi đây thường chọn những vật liệu có sẵn trong vườn, hoặc ở địa phương mình, họ thường cất nhà bằng cây tròn, nhỏ như tràm, đước… và lợp bằng lá dừa nước.

Hình 3. Dạng nhà chữ Đinh
Hình 4. Dạng nhà ở truyền thống của người Khmer Nam bộ

Riêng nhà của những người giàu có thì được cất bằng các loại gỗ quý và mái lợp ngói, hoặc là xây bằng bê tông cốt thép trang trí đẹp mắt, sang trọng với nhiều nội thất quý giá.

Văn minh miệt vườn là một đặc trưng khá nổi bật của cư dân ĐBSCL, vì vậy nhà cửa của cư dân ở đây thường gắn liền với thửa ruộng, miếng vườn. Những nhà trung nông thường có vườn, có sân với diện tích khoảng vài ba công đất. Vườn chủ yếu để trồng cây ăn trái, còn sân thì để trống cho thoáng, đôi khi tận dụng để phơi lúa, phơi củi. Mép ngoài của sân thường được đặt một bàn thờ ông Thiên để thờ Trời, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mua may bán đắt, gia đạo bình an. Mép trong của khoảng sân giáp mí với căn nhà thường có một cái hàng ba (hàng hiên), rộng hay hẹp tùy căn nhà. Hàng ba này có tác dụng làm dịu cường độ ánh sáng, giảm oi bức vào mùa nắng và hạn chế mưa tạt vào những lúc trời mưa. Còn phía sau nhà thường là một vườn cây, nơi bố trí chuồng nuôi súc vật, có bến nước dùng làm nơi tắm giặt, đậu ghe xuồng, cũng như dùng trong các sinh hoạt khác.

Tình hình quy hoạch, xây dựng nhà ở nông thôn mới tỉnh Sóc Trăng

Đa phần các đồ án Quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh thường chọn từ 2 đến 3 điểm dân cư nông thôn để quy hoạch. Trong đó, trung tâm xã là quan trọng. Tuy nhiên, từ khi khai triển đến nay, các điểm dân cư nông thôn (ngoài trung tâm xã) không phát triển như mong muốn và dân cư vẫn sống phân tán dọc theo các tuyến kênh, tuyến sông có đường nông thôn đã được đầu tư xây dựng. Trong các đồ án được phê duyệt, vẫn ưu tiên cho việc quy hoạch bổ sung hạ tầng cho các trục liên ấp, liên xã và các công trình công cộng nhằm đảm bảo bán kính phục vụ cho các tuyến dân, cư hiện hữu.

Các chương trình hỗ trợ nhà ở của Nhà nước và các nhà tài trợ khác trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng rất nhiều nhưng đa phần còn hạn chế về vốn, giải pháp thiết kế xây dựng chưa đồng bộ. Hiện tại, vùng ĐBSCL nói chung và Sóc Trăng nói riêng chưa có nghiên cứu nào về “giải pháp nhà ở nông thôn” nói chung và giải pháp cụ thể nhà ở cho vùng ven sông, biển và vùng trũng… Do đó, kiến trúc nhà ở nông thôn rất đa dạng và hình thành tự phát, chủ yếu là người dân tự xây dựng theo nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của từng hộ gia đình.

Hình 5. Nhà ở hộ nghèo nông thôn Sóc Trăng

Bên cạnh những ngôi nhà khang trang, ngăn nắp thì Sóc Trăng vẫn còn nhiều hộ nghèo nhà ở tạm bợ, chưa đạt chuẩn nông thôn mới. Mặt khác, nhà ở ven sông, ngoài đê biển nơi mà có nguy cơ sạt lở rất cao.

Hình 6. Hiện trạng sạt lở xảy ra nhiều ở Sóc Trăng
Hình 7. Hiện trạng một số tuyến đê bao ở Sóc Trăng

Kiến nghị và đề xuất

  • Cơ quan quản lý chuyên ngành, địa phương ưu tiên cho các đề tài nghiên cứu giải pháp nhà ở gồm: Quy hoạch phân bố, kiến trúc, không gian, vật liệu… nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó, có giải pháp cụ thể cho khu vực nhà ở ven sông, biển và vùng trũng;
  • Ngành xây dựng hỗ trợ cho các đề tài nghiên cứu vật liệu xây dựng mới từ nguồn nguyên liệu của địa phương (vùng ĐBSCL);
  • Ngân sách trung ương và địa phương ưu tiên đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp và tu bổ các công trình quan trọng như: Hệ thống các công trình thủy lợi (đê bao, cầu cống), các tuyến giao thông quan trọng ven sông, ven biển và kết nối vùng trũng. Đặc biệt là đầu tư các công trình chống sạt lở, đồng thời bố trí tái định cư các hộ sống ven sông, ngoài đê biển về các khu vực an toàn đã được quy hoạch;
  • Ngành Nông nghiệp hỗ trợ nghiên cứu mô hình sản xuất, nuôi trồng xen canh nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu giữa các vùng ngọt – lợ – mặn;
  • Ngành Tài nguyên & Môi trường nghiên cứu quy định chế tài (nghiêm cấm) việc bán đất mặt của các hộ nông dân (trồng lúa) vùng trũng và đất giồng, cát giồng ở vùng ven sông, biển. Hiện tượng này đang xảy ra phổ biến ở ĐBSCL vì hiện tại lượng cát san lấp rất hiếm cho các đô thị. Từ đó, làm cho cao độ nền ở nông thôn ngày càng thấp;
  • Về quy hoạch, bố trí dân cư: Đối với khu vực ven sông, biển, ưu tiên bố trí dân cư tại các nơi cao ráo (giồng đất, giồng cát);
  • Bổ sung các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội phục vục các cụm tuyến dân cư này. Đối với khu vực vùng trũng, ưu tiên xây dựng các trục giao thông kết nối cũng như hệ thống thủy lợi; Đồng thời có giải pháp bảo tồn không gian cộng đồng của các Phum, Sóc người Khmer mà trung tâm là ngôi chùa;
  • Về đất nền xây dựng: Cân bằng đào đắp tại chỗ (tôn nền) tận dụng khối lượng nạo vét hệ thống thủy lợi hàng năm để dự trữ đất phục vụ tôn nền cho các trục giao thông nông thôn và các công trình công cộng. Đối với nền nhà ở, khuyến khích các hộ dân đào đắp tại chỗ như: Đào ao lấy đất tôn nền và nuôi cá, tôm. (Hạn chế việc bán đất mặt của vùng trũng (đất mặt ruộng) và cát, đất giồng của vùng ven sông, biển cho nhu cầu san nền của các đô thị, và sản xuất gạch nung);
Hình 8. Tình trạng bán đất mặt ruộng xảy ra phổ biến
  • Về kiến trúc và không gian ở: Kết hợp kiến trúc hiện đại và truyền thống nhằm phát huy văn hóa bản địa, tính cách, phong tục tập quán của địa phương. Giải pháp thiết kế phải đảm bảo tiết kiệm năng lượng, không gian năng động. Các chương trình hỗ trợ nhà ở cần nghiên cứu mẫu nhà ở phù hợp với văn hóa – dân tộc. Giải pháp nhà sàn cũng cần được nghiên cứu cải tiến các mô hình nhà sàn vượt lũ của vùng Đồng Tháp và An Giang nhằm phục vụ cho các khu vực vùng trũng;
  • Về vật liệu xây dựng: Kết hợp vật liệu hiện đại có độ bền cao và vật liệu xây dựng mới sản xuất tại địa phương nhằm giảm giá thành xây dựng, sử dụng năng lượng tái tạo.
Hình 9. Bản đồ quy hoạch xã nông thôn mới điển hình

Trong tương lai, các nguồn năng lượng và vật liệu ngày càng cạn kiệt do con người khai thác quá mức, việc xây dựng nhà ở sử dụng vật liệu tái tạo, tiết kiệm năng lượng là xu hướng của thời đại. Để thực hiện tiêu chí nhà ở nông thôn mới một cách có hiệu quả thì cần phải có một giải pháp đồng bộ, toàn diện về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, công tác lập quy hoạch xây dựng, đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, các giải pháp về vốn, cơ chế chính sách tài chính…

KTS Huỳnh Thanh Phong – Hội KTS Sóc Trăng
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2017)

Xem thêm: