Mở đầu
Giai đoạn Lê sơ (thế kỷ 15 – 16) là một giai đoạn lịch sử quan trọng đồng thời cũng là một trong những giai đoạn thịnh trị, ổn định vào bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển rực rỡ đương thời đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn, bởi lẽ tại hai kinh đô là Thăng Long và Lam Kinh, hai kinh đô lớn và quan trọng vào bậc nhất hiện không còn một công trình kiến trúc nào hiện hữu. Trong nhiều năm trở lại đây, qua nhiều lần khai quật khảo cổ học tại hai địa điểm này cũng đã phần nào đưa ra được những cứ liệu quan trọng trong việc nghiên cứu, đánh giá quy mô, hình thái kiến trúc và nghệ thuật trang trí kiến trúc cổ thời kỳ này.
Qua các cuộc khai quật, tìm được một khối lượng các loại hình vật liệu kiến trúc khổng lồ, được xác định có niên đại thời Lê sơ (thế kỷ 15-16) với sự phong phú về chất liệu, loại hình, là những bằng chứng khoa học chân thực, khách quan khi nghiên cứu về lịch sử xây dựng, quy mô các công trình kiến trúc dưới thời Lê sơ trong lịch sử.
Mặc dù cho tới nay, sử sách và các tư liệu ghi chép về các quy định liên quan đến việc xây dựng các kiến trúc cung điện gần như không còn, các nguồn sử liệu chữ viết liên quan đến vấn đề này còn rất ít và không rõ ràng, tuy nhiên từ những kết quả khảo cổ học có thể nhận thấy trong sản xuất, ngói thời Lê sơ cũng hoàn toàn tiếp nối truyền thống sản xuất ngói so với thời kỳ trước, từ cách lựa chọn nguyên liệu, tạo hình (ngói ống, ngói cong, diềm trang trí, các dạng ngói có tạo hình hộp, tượng tròn…), sự phong phú của các motif hoa văn (rồng, hoa cúc, như ý…) có thể nhận thấy dưới thời Lê sơ hẳn sẽ tồn tại một bộ quy tắc quy định rõ ràng trong việc sử dụng các loại ngói cho từng loại công trình khác nhau, quy định về các yếu tố kỹ thuật, mỹ thuật… trong sản xuất các loại ngói.
Dựa trên kết quả nghiên cứu từ quá trình phân loại, chỉnh lý ngói thời Lê sơ tại Hoàng thành Thăng Long, đồng thời kết hợp nghiên cứu so sánh các hiện vật ngói tại khu di tích Lam Kinh (Thanh Hóa), so sánh đồng đại với các loại ngói thời Minh sơ (Trung Quốc), bước đầu có thể đưa ra một số nhận định về kỹ thuật sản xuất ngói dưới thời Lê sơ như sau:
Đặc điểm kĩ thuật sản xuất ngói thời Lê Sơ
Về tạo hình
Nhìn chung, về tạo hình, các loại ngói thời Lê sơ đều được tạo hình rất quy chuẩn, tiếp nối truyền thống sản xuất ngói trong lịch sử. Trong đó, các phần đầu ngói, rìa cạnh ngói được cắt gọt phẳng, nhẵn, kích thước trong từng nhóm loại hình rất đồng nhất và gần như sự sai số là không lớn hoặc không có, từng hiện vật đều có sự chỉn chu, chau chuốt.
Về quy trình sản xuất và kỹ thuật sản xuất
Đầu tiên phải nói đến việc gia công vật liệu, đất sét và cao lanh đều được xử lý rất kỹ trước khi sử dụng làm ngói, qua quan sát trên xương ngói thời Lê sơ dường như rất ít tạp chất.
Thứ hai, cơ bản các loại hình ngói đều được làm bằng khuôn gỗ, tạo dáng trên khuôn định hình. Phần đầu ngói hoa văn trang trí được tạo bằng những khuôn khắc chìm, in vào phần đầu viên ngói khi còn ướt, sau khi nung tạo ra các đầu ngói trang trí các mô típ nổi. Các loại hình ngói ống, ngói âm lợp diềm mái thường được tạo bằng kỹ thuật ghép nối. Các bộ phận (thân ngói và phần đầu ngói, đuôi ngói…) được làm riêng lẻ sau đó gắn ghép vào với nhau. Phần tiếp giáp này được đắp thêm đất sét và được miết kỹ để kết dính hai phần lại với nhau.
Việc sử dụng khuôn có lót vải trong sản xuất là rất rõ ràng, sử dụng kỹ thuật cắt (dao, nan tre) hoàn toàn (cắt gọt phần rìa cạnh), không tồn tại loại kỹ thuật cắt-bẻ (cắt một phần kết hợp bẻ bằng tay) như đã thấy trên hiện vật thuộc các giai đoạn trước (Tiền Thăng Long) và giai đoạn sau (Lê Trung hưng).
Về kỹ thuật tạo hoa văn
Như nêu trên, hoa văn trên các loại ngói có trang trí đều được làm bằng khuôn khắc chìm, in vào khi hiện vật còn ướt. Tùy từng hiện vật, có loại để mộc theo như hiện trạng khi ra khuôn hoặc được sửa lại bằng tay, tạo sự chi tiết, rõ nét về khối hình, hình thái hoa văn. Các motif trang trí trên ngói thời Lê sơ bao gồm hình tượng rồng, hoa cúc, văn như ý là chủ đạo, có nhiều biến thể khác nhau.
Về sử dụng men
Men được sử dụng cho loại ngói lưu ly (men vàng, men xanh). Về vật liệu tạo ra men thì hiện nay tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về quy trình tạo ra những loại men sử dụng cho các loại ngói lưu ly này, nhưng qua một số tài liệu nghiên cứu từ Trung Quốc hay những quy trình trong sản xuất ngói men hiện đại có thể thấy thành phần hóa học rất phức tạp chủ yếu là oxit kim loại như oxit chì (PbO), oxit sắt (Fe2O3), oxit nhôm (Al2O3)… và một số những hỗn hợp khác.
Kỹ thuật phủ men cho thấy thời Lê sơ tồn tại hai hình thức phủ men chính là dội men/quét men hoặc nhúng men, trong đó đa phần hình thức được sử dụng nhiều nhất là nhúng men.
Về quá trình phủ men, cho rằng có hai hình thức như sau:
- Thứ nhất, men được phủ trực tiếp lên xương ngói;
- Thứ hai, trước khi phủ men được phủ một lớp hợp chất màu trắng (một dạng sơn lót) hiện cũng chưa rõ là loại hợp chất gì, có thành phần cấu tạo như thế nào.
Khi quan sát hiện vật ngói tại Lam Kinh, chúng tôi nhận thấy ngói ở đây dù là xương ngói trắng hay xương ngói đỏ cơ bản đều không phủ lớp lót (loại có lót rất ít), điều này là một sự khác biệt so với ngói lưu ly thời Lê sơ tại Thăng Long, do đó ngói tại Lam Kinh thường có tông màu trầm và sậm màu hơn. Điều này chứng minh cho việc sử dụng lớp lót trước khi phủ men tại Thăng Long có lẽ cũng được tuân theo một quy định về xử lý kỹ thuật, việc phủ lớp lót màu trắng trước khi phủ men có tác dụng làm cho màu sắc men trở lên tương đồng giữa hai loại xương ngói.
Do tồn tại hai cách thức như trên dẫn tới một hiện tượng như sau: Những hiện vật được phủ men trực tiếp lên xương ngói sẽ có độ bám dính cao và thường ít xảy ra hiện tượng ngói bị bong lớp men. Những hiện vật được phủ thêm lớp lót, có thể phải qua một lớp trung gian nên giữa xương ngói và men không có độ thẩm thấu tốt nên dẫn đến tình trạng lớp men dễ bị bong tróc.
Về kỹ thuật nung ngói
Cho đến nay qua nguồn tư liệu khảo cổ học có 144 vết tích lò nung được phát hiện thấy trong 15 di tích và cụm di tích kiến trúc thế kỷ 15-18 ở Bắc Việt Nam. Trong đó, di tích thế kỷ 15- đầu thế kỷ 16 có 2 lò nung vật liệu kiến trúc là Đê Bưởi (Hà Nội) và Lam Kinh (Thanh Hóa), (Ngô Thị Lan, 2019: “Di tích sản xuất gạch, ngói thế kỷ 15 – 18 ở Bắc Việt Nam từ góc nhìn khảo cổ học”.
Việc phát hiện các dấu tích lò nung là một nguồn tư liệu khảo cổ học vô cùng quan trọng, tuy nhiên, trước nay thường chỉ chú ý tới vị trí phát hiện lò nung, kết cấu, quy mô mà chưa có sự chú ý nhiều tới kỹ thuật nung (đơn chiếc, xếp nung…) như thế nào, thực tế hiện cũng không có nhiều tư liệu có thể lý giải vấn đề này. Qua quá trình phân loại, chỉnh lý các loại hình ngói lưu ly (men vàng – men xanh) tại Hoàng thành Thăng Long, đồng thời qua so sánh với một số hiện vật ngói thời Minh tại Nam Kinh, Bắc Kinh nhận thấy trên một số hiện vật có phần đuôi ngói, rìa cạnh có dấu vết bong men hoặc men bị dính điều này bước đầu có thể nhận định dưới thời Lê sơ đã sử dụng kỹ thuật xếp nung trong quá trình sản xuất ngói.
Nhận xét, đánh giá bước đầu
Sản xuất ngói thời Lê sơ luôn có tính kế thừa trong truyền thống sản xuất ngói so với các thời kỳ trong lịch sử ở một số yếu tố như tạo hình (hình dáng hiện vật) kỹ thuật sử dụng khuôn, tạo hoa văn…;
Mặc dù chưa thể đánh giá và đưa ra được những nhận định tuyệt đối trong kỹ thuật sản xuất ngói thời Lê sơ nhưng dựa trên những bằng chứng từ hiện vật khảo cổ học cũng như những quy định nghiêm ngặt được ghi chép về việc sử dụng các loại ngói, quy cách lắp ghép ngói thời Minh qua nghiên cứu so sánh đồng đại thì phần nào cũng có thể hiểu được chắc chắn trong kỹ thuật sản xuất ngói thời Lê sơ cũng sẽ được dựa trên một quy chuẩn mang tính nhất quán đối với từng loại hiện vật, ở đây bao gồm nhiều các yếu tố về hình dáng, kích thước, màu sắc, hoa văn trang trí…;
Để đánh giá được một cách chuẩn xác các yếu tố kỹ thuật trong quá trình sản xuất ngói, kỹ thuật lắp ghép, dùng ngói… tiến tới việc nghiên cứu phục dựng hình thái bộ mái kiến trúc thời Lê sơ, sự ảnh hưởng của những yếu tố nghệ thuật, tôn giáo đương thời cần nhiều nghiên cứu mang tính chuyên sâu hơn nữa, trong đó quan trọng nhất là vấn đề nghiên cứu so sánh đồng đại, nghiên cứu có tính thực nghiệm.
Bùi Hữu Ngọc*
*Viện Nghiên cứu Kinh thành
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 01-2025)
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Hữu Ngọc, 2021: Ngói ống lợp diềm mái thời Lê sơ: Kết quả nghiên cứu chỉnh lý năm 2020 – 2021, in trong Kỷ yếu tọa đàm khoa học quốc tế: Nhận diện kiến trúc cung điện Việt Nam thời Lê sơ, Viện Nghiên cứu Kinh thành, tr.97 – 115.
2. Bùi Hữu Ngọc, Lê Đình Ngọc, 2023: Nghiên cứu, xác định chức năng tên gọi các loại ngói lợp mái kiến trúc cung điện thời Lê sơ, in trong Kinh thành cổ Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.56 – 75.
3. Bùi Minh Trí, Nguyễn Quang Ngọc, 2022: Nghiên cứu giải mã hình thái kiến trúc điện Kính Thiên thời Lê sơ dựa trên tư liệu Khảo cổ học và nghiên cứu so sánh, in trong kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, tr.180 – 195.
4. Bùi Minh Trí, Nguyễn Quang Ngọc, 2023: Nghiên cứu giải mã hình thái kiến trúc điện Kính Thiên, in trong Kinh thành cổ Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.10 – 55.
5. Đại Việt sử ký toàn thư, 4 tập, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
6. Ngô Thị Lan, 2013: Gạch, ngói thế kỷ XV – XVI ở Bắc Việt Nam qua nguồn tư liệu khảo cổ học, Luận án Tiến sĩ Lịch sử.
7. Ngô Thị Lan, 2011: Nhận thức tên gọi và chức năng một số loại hình gạch, ngói ở di tích Lam Kinh (Thanh Hóa), Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2011, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.543 – 545.
8. Trương Huyền Sa, Đinh Thế Anh, Lê Đình Ngọc và Bùi Hữu Ngọc, 2022: Nghiên cứu so sánh hệ thống ngói kiến trúc cung điện Lê sơ (Việt Nam) và Minh sơ (Trung Quốc). Khảo cổ học, số 5, tr. 59 -73.
9. Viện Nghiên cứu Kinh thành, 2021: Báo cáo kết quả nghiên cứu, phân loại, chỉnh lý ngói lợp diềm mái thời Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng (Thế kỷ 15 – 18), khu ABCD- Khu di tích Hoàng thành Thăng Long.
10. Viện Nghiên cứu Kinh thành, 2022: Báo cáo kết quả nghiên cứu, chỉnh lý ngói lợp thân mái và góc mái thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung hưng (thế kỷ 15 – 18), khu ABCD- khu di tích Hoàng thành Thăng Long.
11. Lương Tư Thành, 2001. Lương Tư Thành toàn tập, quyển 07. Nxb. Công nghiệp kiến trúc, Bắc Kinh, Trung Quốc. 梁思成 (2001)梁思成全集,第七卷. 北京:中国建筑工出版社.
12. Lưu Đại Khả, 2014. Doanh pháp ngói đá kiến trúc cổ Trung Quốc. Nxb. Công nghiệp kiến trúc, Bắc Kinh, Trung Quốc. 刘大可(2014) 中国古建石瓦法. 北京:中国建筑工出版社.
13. 明代三都琉璃瓦胎体工的初步比研究_桂美陶瓷,2023年1月



























