Phố xưa nhà cũ Hà Nội ơi!

ÔN CỐ TRI ÂN HAY LÀ “ĐẬP CỔ KÍNH RA TÌM LẤY BÓNG”…

Xin bắt đầu bằng ngày Thái tổ nhà Lê “nhập trào”, ngày mà ngài phải tái thiết kinh đô giữa đống hoang tàn. Việc trước nhất cần làm là dựng mấy cung điện trị quốc thường nhật. Nhà vua đã gấp rút cho xây dựng điện Kính Thiên, nơi nghị triều, các điện Cần Chính, Vạn Thọ để nhà vua làm việc, ăn ở… Mà cũng làm giản tiện đi nhiều.

2b_PA

Năm 1430, Lê Lợi cho cải tên kinh đô là Đông Kinh, ấy là lúc khởi nguyên của Phố xưa nhà cũ Hà Nội mà mà ta bàn đến hôm nay. Trước nhất, chúng được thừa hưởng cấu trúc Thăng Long mới mẻ nhưng là kiểu “Cựu bình trang Tân tửu” đầy phẩm chất kinh tế xã hội tự cường. Tạm nhắc qua mấy bận quy hoạch lớn thời Lê Sơ: Năm 1474, triều đình cho đắp và sửa phía Tây thành trong. Năm 1477, đắp và sửa thành ngoài. Năm 1490, Lê Thánh Tông lại cho đắp thành trong rộng ra phía ngoài trường đấu võ đài, rộng 8 dặm, làm trong tám tháng trời (người tính toán xây dựng lần này là Vũ Hữu). Năm 1499, lại cho xây tường phía Đông… Các bản đồ bản đồ Thăng Long thời Hồng Đức đều cho thấy Thăng Long có hình thước thợ. Mặt Bắc của thành từ quán Trấn Vũ chạy thẳng đến Bưởi, nơi giáp sông Tô Lịch và sông Thiên Phù. Mặt Tây của thành chạy dọc theo bờ sông Tô Lịch từ Bưởi đến Cầu Giấy. Mặt Nam của thành cong gấp từ cửa Bảo Khánh lên cửa Nam Môn, nối với mặt Đông của thành rồi chạy thẳng hướng Bắc – Nam lên mặt Bắc…Đến nay, mặt Nam và mặt Đông của thành Đại La (thời Hồng Đức) đã bị phá huỷ hoàn toàn, nhường chỗ cho phố xá, nhà cửa. Nhưng mặt Tây và mặt Bắc thành thì vẫn còn, nhất là mặt Bắc thành. Hình dáng của đoạn Bắc thành mà người xưa vẽ có hình cánh chim gồm hai đoạn cong vút, y hệt hình dáng phố Hoàng Hoa Thám trên bản đồ Hà Nội ngày nay với đoạn giữa hai cánh thắt lại vào khoảng vị trí dốc Tam Đa ngày nay…

Trên bản đồ Hồng Đức còn vẽ mặt Bắc thành gồm hai lớp thành song song với nhau và song song với sông Tô Lịch nằm sát phía trên hai lớp thành. Nay sông Tô Lịch còn lưu dấu là con mương thoát nước nhỏ nằm xen giữa phố Hoàng Hoa Thám và phố Thuỵ Khuê. Nếu đối chiếu bản đồ thời Hồng Đức và bản đồ Hà Nội ngày nay thì có thể thấy rõ phố Hoàng Hoa Thám nằm chồng lên một trong hai đoạn thành phía bắc. Hiện nay, trung bình mặt đường phố này vẫn cao hơn hẳn mặt đất ở xung quanh trên dưới hai mét. Lớp thứ hai của đoạn thành phía Bắc nay không còn dấu tích gì. Nhiều người cho rằng phố Thuỵ Khuê (xưa cũng chạy song song và hình cánh cung như phố Hoàng Hoa Thám), ở vào vị trí của lớp thành thứ hai ấy. Sông Tô Lịch, nguyên chạy bên ngoài hai lớp thành thì nay đổi dòng và dịch xuống phía Nam một chút… Dấu tích mặt Tây của thành cũng còn khá rõ – đường Bưởi ngày nay. Đường Bưởi cũng nằm chồng lên mặt thành xưa và nằm ven chân thành hiện giờ và cũng cao hơn chừng hai mét so với mặt đất ở xung quanh.

Một mô tả khác: “ấn tượng nhất là ba lớp tường thành cổ bảo vệ cung điện. Nhiều mảng tường tàn phế chứng tỏ đây là một công sự kiên cố với những cổng thành vĩ đại và mỹ quan được xây bằng cẩm thạch. Khuôn viên cung điện có chu vi khoảng 6 hay 7 dặm (tức khoảng 10-12 km). Cổng, ngõ, sân vườn dinh thự còn có những trại lính rất hùng hậu luôn sẵn sàng chiến đấu trong mọi trường hợp. Ngoài ra, ở bờ sông là công binh xưởng và kho vũ khí, gần bãi cát ven sông có nơi làm lễ tế cờ gọi là lễ Kỳ đảo.” (Nguyễn Đình Đầu – trích dẫn từ Sách mô tả Vương quốc Đàng ngoài của Samuel Baron, viết tiếng Anh năm 1635. TC Xưa và Nay số 6/2001, trang 16).
Sau Samuel Baron nửa thế kỷ, trong sách Du ký mới và kỳ lạ về Vương quốc Đông Kinh (in tại Paris 1681) Jean Baptisle và Daniel Tavernier lại nói khác đi một chút: “Điều làm ta kinh ngạc là (Đông Kinh) có ba lần tường của kinh thành và của cung vua. Tuy đổ nát nhưng những tường thành ấy còn tỏ cho ta hay rằng đã được xây dựng rất kiên cố và có những cửa thành đẹp, lớn, dưới có lát đá vân. Khu cung điện đo được chu vi chừng sáu, bảy dặm, có cửa, có sân, có cung viện… trước kia rực rỡ nguy nga lắm. Trong thành có dinh trại của một đội quân nhiều ghê gớm, lúc nào cũng sẵn sàng. Xưởng đúc súng nằm trên bờ sông, gần một hòn đảo là chỗ tế kỳ đạo…”

03

Kể lại những điều mắt thấy tai nghe vào thời Lê Trung hưng, tại thời điểm đã 100 – 150 năm trôi qua kể từ ngày nhà Lê dựng nghiệp, nhưng dường như cả Samuel Baron, Jean Baptiste và Daniel Tavernier đều nhằm vào Thăng Long thời Lê sơ. Riêng về mấy đoạn tả Đại La thành, có thể là họ nhắc đến lần củng cố hồi cuối thế kỷ 16 của nhà Mạc, hay do chúa Trịnh mở mang năm 1749. Còn kiểu dáng nhà cửa thì chắc chắn thuộc về Lê sơ. Vì lẽ, sau năm 1527, tuy đóng đô ở Thăng Long liên tục hơn 60 năm, nhưng nhà Mạc chủ yếu chỉ sử dụng lại các cung điện cũ mà “trước kia rực rỡ nguy nga lắm”. Đương nhiên, đó càng không phải là phủ chúa Trịnh, vì phủ chúa chỉ xây trên phần đất phía Đông và Đông Nam Thăng Long, lại đang hồi mới mẻ khang trang, xa hoa tôn quý mà Samuel Baron đã dành hẳn mấy đoạn mô tả khác, có kèm hình vẽ hẳn hoi.

Đến đây, chúng ta có thể tiếp xúc dễ dàng hơn với khởi nguyên của phố xưa nhà cũ Hà Nội. Nhưng trước khi đến với hình bóng của chúng, chúng hậu thế cực chẳng đã phải tưởng tượng Thăng Long độ vào cuối thập niên thứ ba của thế kỷ 15. Ấy là một kinh thành từng sầm uất (liền bốn thế kỷ) đã bị giặc Minh đốt phá sạch sành sanh.

Thăng Long thời Lê được được tổ chức lại thành 36 phường, chủ yếu quanh quẩn mạn Đông và Đông – Bắc Phụng Thiên. Cách làm này đạt hiệu quả bền vững, có lẽ do rút kinh nghiệm từ việc mở phủ Ứng Thiên thời Trần. Mỗi phố phường đều có tên tuổi riêng, khẳng định vị thế không thay thế được của nó nơi thành thị. Còn như chuyện từ 61 phường thời Lý – Trần đột ngột giảm xuống còn 36 ở thời Lê, thì có thể giải thích như sau: Thời quân Minh cai trị, việc điền hộ ở An Nam phải theo như lệ bên Tàu. Ở thôn quê thì chia ra làm lý và giáp, ở thành thị thì gọi là phường. Thế nhưng, khi giặc Minh sang chiếm đóng, dân Thăng Long kinh hoàng chạy loạn ráo cả, số còn nấn ná ở lại phải chịu thảm sát tàn khốc. Bởi vậy, số thị dân gom lại chắc chỉ đủ thiết lập 36 phường (không loại trừ ban đầu đó là con số đúng). Hoặc giả co kéo cho vừa Tam thập lục theo tín niệm phong thủy, vì lẽ 36 là con số Hợp quần Vũ trụ, biểu thị sự hội nhập các nguyên tố và chu trình tiến hoá. Nhà Lê dùng con số này để dẫn xuất phố phường khởi sắc ấm no là phải lẽ, đẹp đời đẹp đạo. Cần nói rõ, cách gọi ghép “phố” với “phường” thành Phố phường sớm nhất cũng phải từ thế kỷ 17 trở đi. Ấy là khi đã có nhiều dân làng nghề nhập cư vào Thăng Long làm ăn sinh sống, rồi lập ra phố nghề tại đây.

14e_Qy

Một hiện tượng kiến trúc nữa, đó là giống như nhiều thành phố khác ở châu Á và trên thế giới, Thăng Long không tránh khỏi sự phát sinh của “trấn Trung Hoa” ngay trong lòng đô thị lịch sử của mình. Sách vở nói sự nhập cư của người Trung Quốc vào Thăng Long tăng đột biến vào thời Trần. Cuối thế kỷ 13, hàng chục lượt tàu thuyền của quan dân nhà Tống chở theo gia quyến, của cải đào vong khỏi nước Tàu đến Thăng Long (riêng đợt năm 1274 là 30 tàu thuyền) mưu cầu trú ngụ. Họ đã được vua Trần cho phép định cư ở phường Nhai Tuân, mở phố chợ bán vải vóc, nhiễu đoạn và thuốc bắc. Nghề y, kê đơn, bốc thuốc cũng từ phương bắc thâm nhập cung đình Đại Việt, rồi sau theo chân các thái y, ngự y hoặc thất sủng hoặc hưu lão mà về mưu sinh ở phường Nhai Tuân. Nghề chơi đào hát, leo dây, múa rối, tuồng tích, mãi võ cũng đến từ phương bắc…Thế kỷ 15, ở Thăng Long có hẳn một phường Đường Nhân, nơi “người nhà Đường” sinh sống, buôn bán vải vóc, trong đó có mặt hàng “diệp y” (quần áo cao cấp) chỗ phố Hàng Ngang bây giờ. Năm 1650, chúa Trịnh cũng quy định cho các khách thương đến từ Phúc Kiến được trú ngụ tại hai làng gần sông Nhị Hà là Thanh Trì, Khuyến Lương để tiện giao dịch…

Thế kỷ 18 – 19, dân số người Hoa lưu lạc ở Hà Nội thường dao động trên dưới 10% dân số kinh thành. Do họ sinh sống chủ yếu bằng các nghề buôn bán, dịch vụ nên dần dần tìm cách co cụm ở khu vực trung tâm và sầm uất nhất…Người Việt tại Thăng Long dần quen mắt với sản phẩm kiến trúc đô thị do cộng đồng người lưu lạc du nhập: “Các cổng người ta dùng để đi vào khu người Hoa Kiều đều lởm chởm lỗ châu mai như các tường thành, chúng đều vô cùng kiên cố và người ta đã bố trí vào phía trong một loại hành lang nhỏ. Có thể cắt cử phu canh đêm và đứng gác ở đó. Không thể lọt vào các phố Trung Quốc một khi các cổng của chúng đã đóng lại. Người ta còn giữ được những bức ảnh cũ chụp cái cổng ở phố Hàng Gai được tạo thành bởi một cái khung hình chữ nhật trong một bức tường có nhiều lỗ châu mai, và ảnh cổng phố Phúc Kiến (Lãn Ông ngày nay) có dáng dấp đồ sộ – có một bao lơn có trang trí được đỡ bởi hai cột lớn” (Andre Masson, Khu phố buôn bán – Tạp chí Xưa và Nay, tài liệu đã dẫn). Về sau các “trấn Trung Hoa” kiểu như vậy, trước sức sống mãnh liệt của 36 phố phường Thăng Long, dần dần tự tiêu biến và trở thành một phố phường như mọi phố phường sở tại khác. Các kiến trúc nhà ở, cao lâu, thương điếm, hội quán do họ xây dựng ở các phố Hàng Buồm, Mã Mây, Phúc Kiến (giờ là phố Lãn Ông), Nội Miếu, Nguyễn Siêu, Lương Ngọc Quyến, Đào Duy Từ… tỏ ra có thể chấp nhận được, không đến nỗi quá lạc điệu với kiến trúc kinh thành Thăng Long.

3a_n

11

Cho đến bây giờ dù thêm bớt thế nào, người ta vẫn ưa gọi một tên chung “Thăng Long – Hà Nội 36 Phố phường”, để tôn vinh kiến trúc ở nơi Kẻ Chợ ăn gia làm nên và văn hoá Tràng An bất hủ. Khỏi nói chuyện quý hiếm, người đời luôn kể về chúng như để tán thưởng thứ kiến trúc hàm chứa giá trị kinh tế – xã hội đô thị độc đáo.

TỪ CÁI CỔ ĐẾN CÁI CŨ XUẤT HIỆN TRONG BẢY THẬP KỶ THUỘC ĐỊA VÀ TẠM BỊ CHIẾM

Về thực chất, toàn cõi Việt Nam từ sau 1884 đã là thuộc địa của Pháp. Tuy vậy các nhà thực dân vẫn bày vẽ ra thiết chế ba kỳ: Bắc kỳ – xứ Bảo hộ, có Thống sứ cai trị cùng Kinh lược sứ của Nam triều; Trung kỳ – xứ Tự trị, có Khâm sứ cai trị cùng với vua Nguyễn và Nam kỳ – xứ Thuộc địa, chỉ do một Thống đốc người Pháp cai trị. Chưa hết, năm 1885, Pháp còn buộc vua Đồng Khánh ký khoản ước trao đứt Hà Nội cho mẫu quốc, chấm dứt tình trạng nhập nhằng ăn cướp – chiếm đóng – nhượng địa như kiểu điều khoản Hòa ước 1874. Đồng nghĩa với việc, kể từ đó chỉ người Pháp mới có quyền quản lý kiến thiết Hà Nội, dù là một căn nhà góc phố.

Khi phát triển kiến trúc đô thị Hà Nội những năm đầu thuộc địa, rất có thể các quy hoạch gia người Pháp đã nhận ra một số dự án của họ xâm hại nặng nề môi trường kiến trúc lịch sử Thăng Long – Hà Nội. Thế nhưng, thay vì tìm đến một giải pháp ôn hòa có trước có sau hơn cho Hà Nội, họ lại tận hưởng cơ hội vàng – cơ chế đô thị thuộc địa dành cho nó. Để rồi rảnh tay kết liễu thành thị Thăng Long sông nước ngàn đời, bằng cách mở liên tiếp các tuyến phố và xây cất ồ ạt tại hàng loạt khu vực: Đông, Đông Nam, Tây Nam, Tây, Tây Bắc và Bắc thành phố. Mở đầu cho việc vĩnh viễn xếp tên tuổi hai dòng sông “bên này” tuyệt vời của Thăng Long – Hà Nội (Sông Hồng từ Bắc sang Đông / Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này) vào trang sử mất nước của người Việt. Tuy quy hoạch là vậy, nhưng nhìn chung cho đến đầu thế kỷ 20, phố phường Hà Nội vẫn giữ được dáng dấp kiến trúc lịch sử gần gũi lẫn nhau, phảng phất tình cảm cội nguồn.

Trở lại chuyện mở mang phố mới ở Hà Nội hồi thập niên cuối cùng của thế kỷ 19. Nếu liên hệ với hai con số: 105.101 (số dân Hà Nội năm 1905) và 156.481 (số dân Hà Nội năm 1945) thì không thể không trân trọng tay nghề quy hoạch của các KTS đô thị gia thời ấy. Đồ rằng người Pháp không vô tình khi lấy tên Leon Gambetta (1838-1882, thủ lĩnh phái Cộng hoà tư sản cánh Tả, hai năm cuối đời làm Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Pháp) đặt cho trục Đông – Tây lớn nhất của Hà Nội (tuyến phố Trần Hưng Đạo ngày nay). Như thể có ý lấy bài bản kiến trúc của phố Gambetta thay thế cho thương hiệu của tuyến Tràng Triền – Hàng Khay – Tràng Thi mang tên Paul Bert, người lãnh chức quan bên mẫu quốc thấp hơn nhiều so với Gambetta. Và giá như (lại giá như!) người Pháp ưu tiên mở mang kiến trúc đô thị kiểu Âu tây cho Hà Nội kể từ các phần đất đầu Đông, đầu Tây và toàn bộ vùng đằng sau dãy số lẻ của phố Gambetta thì đã có thể có một “Hà Nội – Thăng Long” khác đẹp đẽ và nhuần nhuyễn hơn ở tuổi 1.000 của nó. Riêng về mặt này, công bằng mà nói, lỗi nhiều thuộc về những nhà quản lý thiết kế đô thị Hà Nội sau người Pháp.

Năm 1919, năm đạo luật Cornudet ra đời bên Pháp. Đạo luật này xác định ý tưởng mới cho việc phát triển các đô thị ở chính quốc cũng như tại thuộc địa của Pháp. Hiện diện trong bộ máy cầm quyền Bảo hộ bấy giờ còn có các KTS – đô thị gia, những người có điều kiện thuận lợi nhất khi vận dụng luật Cornudet trên đất Hà Nội. Ngoài ra, Toàn quyền Maurice Long còn cho thành lập bộ phận quy hoạch đô thị trực thuộc Sở Thanh tra Công chính Hà Nội. KTS Ernest Hebrard được cử đứng đầu cơ quan này. Hebrard bắt tay vào quy hoạch và chỉnh trang lại một số thành phố của Việt Nam. Đầu tiên là Hà Nội rồi sau đó là Sài Gòn và một số đô thị khác. Và có thể nói, những thiết kế quy hoạch Hà Nội của Hebrard và một số người kế nhiệm vừa thoả mãn quá trình đô thị hoá, vừa dành ra một lộ trình khiêm tốn để Hà Nội có thể phát triển lên hiện đại, điều mà về sau ít được thể hiện. Tại Hà Nội, bên cạnh những khu phố cổ chật hẹp chen chúc nhà lợp ngói một tầng đã xuất hiện những đường phố kiểu châu Âu có vỉa hè rộng, nhà cửa chững chạc 2-3 tầng. Các tuyến phố lớn ở Hà Nội thường có công trình quan trọng chặn ở đầu đường, cùng với những dãy nhà xen kẽ kiểu dáng thuộc địa và hàng cây hè phố tạo viễn cảnh. Kiểu như nhà hát Lớn chặn đầu phố Tràng Tiền, Đại học Đông Dương – phố Lý Thường Kiệt, nhà Đấu Xảo – phố Quán Sứ, Tòa án và Sở Liêm phóng chặn hai đầu phố Dã Tượng. Hay như phố Trần Hưng Đạo với ga Hàng Cỏ chặn đầu mút phía Tây và quảng trường Ngã sáu – phía Đông…

Cần nói, hầu hết không gian của các tuyến phố ấy đều được trù tính bắc cầu về hai trung tâm đô thị cùng phát triển rầm rộ bấy giờ của Hà Nội, mà “lòng sông” là toàn bộ dải phố phường bao bọc phía Đông, Đông Nam và Nam của kinh thành Thăng Long xưa. Hai trung tâm ấy là: Khu Bờ Hồ ở phía Đông và Khu trung tâm chính trị Ba Đình (khu Phủ toàn quyền cũ) ở phía Tây thành phố cho đến giờ vẫn là hai hình ảnh nổi bật của Hà Nội. Nhân đà này, hàng loạt đường phố Hà Nội cũng được chỉnh trang. Đương nhiên, các “phố Tây” là chính.

Thời gian đôi ba thập kỷ trước năm 1954 là thời kỳ phát triển khá toàn diện của phố xá Hà Nội. Đại thể, thời ấy không năm tháng nào là không có nhiều công trình mới mọc lên. Theo niên giám xây dựng và sự dàn trải kiến trúc ở nội thành, người ta có thể dễ dàng nhận ra những chuyển hóa, tiệm biến hình thức nghệ thuật khá hợp lý hợp tình. Để từ đó việc khai phóng các kiểu dáng nhà cửa Việt, Âu hay hòa trộn Việt – Âu về sau gặp nhiều thuận lợi. Chứng tỏ, những can thiệp chuyên môn của giới quản lý xây dựng cơ bản Thuộc địa đã đạt hiệu quả. Đáng nhớ, số đầu mục công trình do các KTS người Việt thiết kế ngày càng tăng lên. Đã xuất hiện hàng trăm (có tài liệu nói 300) ngôi biệt thự mà ngày nay đã trở thành danh giá của quỹ kiến trúc đô thị Hà Nội. Phần lớn số đó đều được xây dựng hồi đôi ba thập niên trước năm 1954. Riêng ở khu vực Bờ Hồ, chống lại sự thô bạo của kiến trúc đô thị tân thời, đặng lưu lại chút hồn thu thảo Thăng Long – Hà Nội, tiếc thay chỉ đơn thương độc mã có mặt nước và cây xanh hồ Hoàn Kiếm.

14c_Qx

NHỮNG PHỐ KHÔNG CÒN, NHỮNG NHÀ ĐÃ MẤT

Hồi những năm 1890 – 1900, có một mảng kiến trúc đô thị phát triển rầm rộ về phía Tây Hà Nội, hoàn toàn do người Việt lo liệu xây dựng vì đất đai khu Hoàng thành cũ và vùng Đông, Đông – Nam Hà Nội đã bị người Pháp chiếm gần hết. Những chỗ khác, dù thuộc sở hữu người Việt thì lại nằm trong bàn tay quy hoạch và phép tắc xây dựng thần thông của nhà cầm quyền Bảo hộ.
Đó là Thái Hà Ấp.

Chưa tính đất đền chùa và đất công, Thái Hà ấp đã rộng tới 120 ha. Nếu đem so với diện tích khu 36 phố phường Hà Nội 81ha thì thấy Thái Hà Ấp thực sự là khu đô thị mới rất to lớn thời bấy giờ. Có đến 1/3 số hộ ở đó là đám quan hàng tỉnh, tổng đốc, tuần phủ, án sát, đương chức cả ở Hà Nội lẫn các tỉnh. Bọn họ mua đất làm nhà và cư trú dài dài trên đất Bắc thành. Kiến trúc đô thị nơi này là thứ sang cả quyền quý, bộc lộ rất rõ cung cách đối đáp Thăng Long hoài cổ: dinh cơ với sông núi; đất làng quan với ao hồ; đường cái quan với bóng nước hoa viên; sự vui chơi hưởng lạc với vườn thú…Khác nào một khúc thăng hoa của nghệ thuật kiến thiết cận – hiện đại. Thật phô trương nhưng cũng thật tinh tế. Nói ve vuốt một tí, “hồn thu thảo” lẩn quất đâu đây.

Thái Hà ấp ngày nay không còn, nhưng qua lời tiền nhân bình phẩm và một số mảng miếng còn sót lại của dinh Kinh lược, lăng Hoàng Cao Khải, lăng Hoàng Trọng Phu hậu thế phần nào mường tượng ra sự nổi bật của nó như là một cảnh tình đất nước con người Hà Nội rất riêng. Quả thật Thái Hà ấp vừa như khúc hòa vần ăn nhịp với phố xưa nhà cũ Kẻ Chợ, vừa như sự tiếp sức cho nghệ thuật truyền thống đang hồi lao đao trước làn sóng kiến trúc đô thị Âu hóa.

Có lẽ lâu lắm rồi các hiệp thợ thổ mộc hạng nhất xứ Đông, xứ Đoài, các nghệ nhân chạm khắc đá thượng thừa đất Bắc mới được dịp khoe tài. Diện mạo kết nối Thăng Long – Hà Nội của Thái Hà Ấp hẳn nhiều ý nghĩa. Nhờ đó các nhà hoạch định và thiết kế xây dựng cả người Pháp lẫn người Việt được nhỡn tiền. Lại trúng dịp họ đang tìm kiếm một hình thức khả dĩ cho kiến trúc Hà Nội thuộc địa. Sau này, không riêng tại Hà Nội mà ở cả những đô thị mở mang theo nghệ thuật Bảo hộ chính thống cũng không mấy thiếu vắng lề lối thành thị, trang trí kiến trúc vọng cổ kiểu như Thái Hà Ấp.

Không thể phủ nhận những đóng góp quan trọng của Thái Hà Ấp đối với diện mạo phố phường Hà Nội trên dưới hai thập kỷ. Nhận xét về thủ lĩnh của công cuộc xây dựng ở đó – Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải (1850-1933), nhà sử học Chương Thâu nói: “Lập ấp Thái Hà, thực tâm Hoàng Cao Khải muốn giúp đỡ những người từ phương xa tới kinh kỳ. Ngay Phan Bội Châu, lãnh tụ của phong trào Đông Du cũng nhận định: Hoàng Cao Khải là người “nhất điểm linh đài”, (nghĩa là) còn một điểm lương tâm, còn biết Việt Nam là nước của tổ tông cha mẹ, là nước của đồng bào, không nỡ trông thấy người Pháp phá hoại mòn mỏi đi”. Theo suy nghĩ của tôi (Chương Thâu), dù làm việc cho Pháp nhưng Hoàng Cao Khải vẫn là người có tinh thần dân tộc (tôi không dùng chữ yêu nước)…” (Việtbáo.vn ngày 4/10/2007)

Hẵng tạm coi luận điểm của ông Chương Thâu như một ghi nhận lịch sử kiến trúc: Thái Hà ấp đã làm khởi sắc truyền thống kiến thiết Hà Nội. Khác chi dựng lên một Hoàng thành mới giữa vùng đất phía phủ Phụng Thiên xưa. Kể cũng không ngoa, nếu đối chiếu với địa vị vua đất Bắc của họ Hoàng. Ngay đến cái tên Thái Hà cũng là ghép từ tên làng Đông Thái và tỉnh Hà Tĩnh – nơi chôn rau cắt rốn của quan Kinh Lược mà thành, thì đủ thấy họ Hoàng ngông cuồng lắm! Song le, các nhận định khác của ông Chương Thâu về Hoàng Cao Khải thì nên đính chính một chút. Đọc cụ Hoàng Xuân Hãn và nghe những hồi âm “bia miệng” về nhân vật lịch sử này, khắc rõ. Ngay như cái gọi là lập ấp Thái Hà để giúp đỡ những người từ phương xa tới, chẳng qua cũng là chuyện ỷ quyền Phó vương lấy đất Hà Nội đem bán cho đám tổng đốc, tuần phủ, án sát khắp Bắc kỳ. Đặng thu về muôn ức tiền của để xây nên cả dinh cơ lẫn lăng tẩm xa xỉ tột bực riêng của họ Hoàng trên một khuôn viên 300.000m² giữa thời buổi gạo châu củi quế…

10

VÀ “TRI TÂN” HÔM NAY

Chuyển sang bàn thảo về khu phố Cổ hay những phố Cũ có những ngôi nhà cũ. Từ cuối thập kỷ 1990 Ba mươi sáu phố phường được giới chuyên môn khoanh vùng chính thức: phía đông là đường Trần Quang Khải và đường Trần Nhật Duật; phía tây là vệt phố Phùng Hưng; phía nam là vệt cuối phố Hàng Bông – phố Đường Thành – phố Ngõ Trạm; phía bắc là phố Hàng Đậu. Toàn khu phố Cổ chiếm diện tích khoảng 81ha thuộc địa bàn 10 phường quận Hoàn Kiếm với 66.000 dân (tính ra mật độ xấp xỉ 81.500 người/1km²). Nghe nói, chính quyền thành phố hiện đã có Dự án di dời 1.800 hộ dân sang khu ở mới rộng 11,12 ha (khu đô thị Việt Hưng). Không rõ việc nay đến đâu rồi?
Khu Ba mươi sáu Phố phường được coi là di sản đặc biệt của Hà Nội, bao gồm một số đoạn phố với chừng trên dưới 100 ngôi nhà còn lưu lại dáng xưa, nhưng cũng đã mai một nhiều. Đáng ngại hơn, hình bóng đường ngang ngõ tắt kinh thành thuở nào đến nay hầu như tan biến hết. Để ngược dòng lịch sử, không gì bằng nhớ lại lời dân gian kể về 36 phố phường, nơi làm nghề, buôn bán kinh doanh mặt hàng nào đó hoặc liệt kê tên phường hội nằm trên các phố ấy (như hàng Thùng, hàng Da, hàng Bạc, hàng Mắm…) – Nhưng chính xác hơn cả là từ địa chí cũ. Theo sưu tầm của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đăng trên báo L’Annam Nouveau (số 140, năm 1932, mà TC Xưa và Nay có đăng lại) thì các phường của Hà Nội bấy giờ những là “Đồng Xuân, Yên Tỉnh, Yên Thành, Yên Phụ, Yên Ninh, Tiền Trung, Vinh Hạnh, Phương Trung, Vĩnh Trú, Hà Khẩu, Thanh Hà, Văn Lâm, Thanh Ngộ, Thanh Miến, Thái Cam, Thuỵ Khuê, Thịnh Yên, Thiền Chung, Hàm Long, Tiên Tích (đường Cái quan), Khán Xuân (Bách Thú), Phủ Từ (Hàng Cót), Vĩnh Thuận, Cầu Đông, Yên Thái, Báo Thiên, Kim Ngư, Gia Ngư, Nam Ngư, Cự Phú, Hà Trung (ngõ Trạm), Đông Thổ”.

09

Cụ Nguyễn Văn Vĩnh kê chính xác tên tuổi phố phường Hà Nội đầu thế kỷ 20, kể cả các đình làng trong nội thành, các hội đồng kỳ mục hoặc những người kế tục họ vẫn còn tiếp tục giữ những tục lệ, nề nếp làm ăn buôn bán như Đồng Xuân, Hà Khẩu, Phương Trung, Nghĩa Lập…Cụ Vĩnh còn dày công hỏi han tận nơi các phường xã không còn nữa do những biến động mở rộng thành phố, mở đường xá, đền bù đất đai hay tự người dân nơi đó đã từ bỏ tập quán làm ăn cũ…Và cụ cũng nói trước rằng danh mục 36 phố phường mà cụ đưa ra là chưa thật đầy đủ. Từ đó cho thấy: Đối với Thăng Long, sự phát triển về quy mô và chất lượng kiến trúc phần Kinh thành bao bọc Hoàng thành và Tử cấm thành thực chất là ở 36 phường, mà về sau nhiều phường trong đó đã đổi theo tên phố như thấy ngày nay.

Tên gọi của các phố cũ Hà Nội thường gắn với tên làng ấp, địa danh mà nên, rồi về sau kết hợp với tên các phố, ngõ ở đó có kinh doanh, làm nghề riêng mà cải thành tên “phố phường” theo tên mặt hàng đã thành thương hiệu. Khi ấy dễ xuất hiện tên mới như các phố (phải gọi là “phường phố” mới đúng): Hàng Vải, Hàng Chiếu, Hàng Bạc, Hàng Mã, Hàng Thiếc, Lò Rèn…Tức là mỗi phường có thể thâu tóm một số phố, ngõ thuộc hẳn về ngành nghề, phường hội riêng nào đó. Về sau dân gian kể thành vè “hàng”…”hàng”…cũng là để cho khớp với 36 phố chính. Quan trọng là nhờ đấy, hậu thế có thể hình dung ra các mặt phố không trộn lẫn vào đâu được với những dãy nhà san sát vô vàn quầy tạp phẩm, nhu yếu phẩm, đồ may thêu, đan, kim khí…

Đường phố Hà Nội là nơi người ta có thể vừa sản xuất vừa bán hàng hoặc chuyên kinh doanh thành phẩm từ làng nghề nông thôn chuyển ra. Nét chợ quê phảng phất đâu đây, nhưng sự nhộn nhịp thì chẳng đâu bằng: “Vào những hôm rằm, mồng một là những ngày phiên chợ, có dân các làng lân cận mang đến bán một số hàng nhiều quá sức tưởng tượng. Nhiều phố xá rất rộng, thế mà vào những ngày chợ phiên, kẻ mua người bán ngồi chật đường, cố len trong đám đông thì may lắm, nửa giờ mới tiến được độ trăm bước. Hàng bán mỗi thức riêng một phố và mỗi phố lại thuộc vào một hay nhiều làng, chỉ có dân làng mới được phép mở cửa hàng buôn bán thôi, tựa như các hội buôn hoặc các phường công nghệ ở các tỉnh thành bên châu  u” (G.F. Martini. Du ký mới và kỳ lạ về các vương quốc Đông Kinh, Lào. Sách in tại Paris – 1666. Bản dịch của Nguyễn Trọng Phấn 1942-1943).

Như vậy, đường phố thì có tên hẳn hoi, nhưng các cửa hàng thì không cần biển hiệu. Ra dáng khu buôn bán nguyên thuỷ: Không có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các hộ kinh doanh vì đã có thương hiệu phố phường làm thương hiệu chung. Các quầy hàng khỏi cần tự quảng cáo mà vẫn buôn may bán đắt. Về kiến trúc, nhà phố cổ Hà Nội giống nhau ở chỗ mặt tiền rất chật hẹp và lòng nhà lại rất sâu. Mức độ chật hẹp vào loại nổi tiếng trên thế giới.

12

Khái niệm nhà ở – cửa hàng hình ống bắt nguồn từ chuyện làm ăn: Hàng hoá bày theo lô, theo dãy như ở chợ quê, nơi mà giá cả và mức thuế thường được xác định trên cơ sở bề rộng của quầy hàng. Bố cục mỗi căn nhà thường như sau: Gian ngoài là chỗ bán hàng hoặc làm hàng. Tiếp đó là một khoảng sân lộ thiên để lấy ánh sáng và thông gió. Giữa sân có bể xây cạn hay bể đúc xi măng, thêm chút non bộ, thả cá cảnh, quanh sân nhỏ bày chậu cây. Tiếp đến, nếp nhà đằng sau mới là nơi ăn ở và trong cùng là khu phụ. Nhà phố cũ Hà Nội xưa chủ yếu một tầng, có thể thêm gác lửng. Hai tường hồi xây giật cấp với hai trụ đấu chững chạc ở đầu nóc.

Các khảo cứu nước ngoài hay coi phố cũ Hà Nội là tập hợp các nhà ở – cửa hàng. Tuy vậy tên gọi “nhà hình ống” nghe mát tai hơn. Vì rằng, ngôi nhà chẳng khác một cái ống là bao: Bề ngang hẹp, bề sâu hun hút và tối đến rợn người. Có nhà thông sang tận ngõ khác, phố khác. Kỷ lục là một ngôi nhà ở phố Hàng Bông, bề ngang hơn 2m một chút mà sâu tới 50m…

Một số nhà có làm gác xép hay dựng hẳn tầng 2 thì có trổ cửa sổ dạ thấp, chạy ngang mặt đứng và chống con tiện. Có lẽ là do quy lệ riêng dành cho kiến trúc nhà dân ở kinh thành Thăng Long ngày xưa, thuở dân chúng không được phép nhìn mặt vua (Long Nhan) những khi ngài loan giá ra phố, nhất là lại từ trên cao nhòm xuống. Mặt khác, tập quán trổ cửa sổ dạ thấp có phần do nguyên nhân kỹ thuật vì mái nhà đằng trước đổ xuống quá thấp, có khi hoành mái ngoài cùng chỉ còn cách sàn tầng hai hay sàn gác xép chừng 1m, cho dù cột cái hay bổ trụ giữa nhà đã được nâng cao tới 5-6m kể từ mặt sàn. Thành thử ngưòi ta làm cửa sổ thấp và hẹp cũng phải. Nhà ống ở khu phố cũ liền mái, liền tường, bộ nhỏ, giản dị, nhưng thật dễ thương. Quanh năm rộn rã cảnh tượng mua bán, sum vầy.

06

Tiếng là có từ ngày xửa ngày xưa, nhưng diện mạo cho thấy niên đại Ba mươi sáu Phố phường chỉ chừng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đổ lại đây. Đó là nhân lõi dân sinh chủ yếu của kinh thành Thăng Long còn lại. Cách đây gần hai chục năm, Ban quản lý di sản phố cổ Hà Nội có chốt lại cương giới cho nó bằng một hình tam giác cân. Tam giác cân ấy có đỉnh là một đầu phố Hàng Than; cạnh phía Đông là đoạn đê sông Hồng; cạnh phía Tây là tuyến phố Hàng Cót – Hàng Điếu – Hàng Da và cạnh đáy là cả tuyến kéo dài liền 3 phố Hàng Bông – Hàng Gai – Cầu Gỗ. Trừ một số làng, đường phố ở mạn nam, mạn đông-bắc Hà Nội và ven hồ Tây, khu tam giác kể trên cũng mô tả được cảnh tình ăn ở sinh sống của 84.000 người (con số năm 2007) trong khổ đất 100 ha: “Nằm lọt giữa khung cảnh hiện đại của một thành phố theo kiểu châu Âu, khu phố này của Hà Nội đông dân và khéo léo, còn giữ lại được một phần cái vẻ đẹp thời trước với các đường phố loanh quanh uốn khúc chằng chịt lấy nhau và các dáng điệu cổ kính của các thợ thủ công lành nghề cúi mình trong các căn nhà nhỏ, trên những công việc cổ truyền…Tất cả các đồ vật đem bán trong thành phố này mỗi loại có một khu phố riêng, hoàn toàn giống như các loại công ty hay phường ở các thành phố châu  u” (Andre Masson. Khu phố buôn bán. TC Xưa & Nay, số 4/2001, trang 29).

Ngay trong lòng Hà Nội còn rất nhiều đình chùa, đền miếu rải rác khắp ngõ phố, vốn là các nơi thờ cúng của các làng cũ, phường cũ, chỗ co cụm người nơi khác về kinh thành làm ăn sinh sống, nhiều khi bằng chính nghề tổ quê nhà. Như, đình 38 Hàng Đường xưa là đình làng Đức Môn, chùa 54 Hàng Khoai là chùa làng Khoai, đình Hoa Lộc – 90 Hàng Đào, là của phường nhuộm màu ở Đan Loan (Hải Dương) lập ra, đình Tỳ Thị – 2A ngõ An Thái thờ tổ nghề thêu do làng thêu Quất Động (Hà Tây cũ) dựng nên…Không nói thì ai cũng biết, phố cũ nhà cũ Hà Nội sẽ không còn là chính mình một khi chúng không xen kẽ với các Trung tâm văn hóa máu thịt của dân Kẻ Chợ – những công trình Tôn giáo tín ngưỡng.

Ngày nay, những gì còn lại ở phố cổ, nhà cũ Hà Nội khiến hậu thế  tin tưởng về một cấu trúc đường phố mới của thủ đô, mà như ở Thăng Long – Hà Nội thuở trước là độc đáo và hiếm thấy.

04

KTS Đoàn Khắc Tình
Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08.2015