Vấn đề “bản địa” trong kiến trúc

“Kiến trúc bản địa” là cách nói vốn có nguồn gốc từ sự chinh phục thuộc địa của phương Tây, nhưng gần đây lại đang được đề cập nhiều như một hướng đi hiệu quả đối với kiến trúc của các nước đang phát triển. Vấn đề “bản địa” trong kiến trúc đã trải qua một hành trình tương đối dài để được chấp thuận rộng rãi và được nhìn nhận như một cứu cánh cho những nỗ lực tạo dựng bản sắc kiến trúc địa phương trong xu hướng toàn cầu hóa và bản địa hóa kiến trúc.

Railroad – Căn hộ đường ray – Thường thấy trên phố New York hay San Francisco. Đây là kiểu nhà tiết kiệm không gian ở các khu vực có mật độ dân số cao. Cấu trúc thường là tiền sảnh với một cầu thang lên tầng trệt, nối hành lang dài tỏa ra các phòng, theo cấu trúc của xe lửa..Dưới sảnh vào thường có tầng hầm/ Nguồn: Archdaily

Bối cảnh thế giới dẫn đến vấn đề “bản địa” trong kiến trúc cuối thế kỷ 20

Nửa cuối thế kỷ 20 đã chứng kiến những sự chuyển biến mạnh mẽ trong cả thực tại xã hội (XH) và ý thức XH, hướng đến một cục diện chung gắn liền với những vấn đề “bản địa”:

– Từ Phong trào độc lập dân tộc và giải phóng thuộc địa (những năm 1950-1960) đến Phong trào không liên kết (những năm 70-80) và xu thế thoát ly ảnh hưởng của Châu Âu (Euro-Excentrism) từ những năm 90. Ngay cả các quốc gia kiểu phương Tây nhưng nằm ở phương Đông (Úc, Nhật Bản) cũng đề cao những giá trị văn hoá (VH) địa phương của mình, đưa lên tầm thế giới để sánh ngang với các di sản thời cổ đại đã được thừa nhận chung của Châu Âu. Tiêu biểu là Úc với Hiến chương Burra về bảo vệ các địa điểm có ý nghĩa VH (1979-1999) và Nhật Bản với Văn kiện Nara về tính xác thực (1994).

– Hình ảnh một châu Âu văn minh, ổn định, thanh bình và thịnh vượng đã bị đổ vỡ ngay trước thềm thiên niên kỷ mới. Sự tan rã của các liên bang xã hội chủ nghĩa (XHCN) Liên Xô, Nam Tư – vốn đồng nhất hóa các yếu tố VH-XH theo hình mẫu quốc tế vô sản mà bỏ qua những khác biệt về con người và lịch sử) tạo ra làn sóng dân tộc chủ nghĩa cực đoan với hàng loạt cuộc nội chiến và xung đột ngay trong lòng châu Âu. Bất chấp những nỗ lực thống nhất hóa (từ Khối thị trường chung/ Cộng đồng kinh tế châu Âu – EEC đến Liên minh châu Âu – EU, Cộng đồng châu Âu – EC, đồng tiền chung Euro, Nghị viện châu Âu,..), mới đây nước Anh đã quyết định rời khỏi Cộng đồng châu Âu (sự kiện Brexit 2017).

– Sự ra đời và nối tiếp liên tục của các nền kinh tế Thông tin (1990), kinh tế Tri thức (2000) và nay là kinh tế Ý thức (2010) khẳng định tiến trình chuyển tiếp từ nền văn minh Công nghiệp sang nền văn minh Tri thức – theo hướng dân chủ hóa (Bắc -> Nam, Tây -> Đông, châu Âu -> châu Á – Thái Bình dương) và nhân văn hóa (đề cao các giá trị tinh thần, đặt yếu tố con người vào trung tâm, làm động lực cho sự phát triển XH). Ngoài lĩnh vực kinh tế, những ý thức đã trở thành phổ biến trong đời sống XH là ý thức về giá trị cá nhân, về quá khứ và tương lai, về trách nhiệm XH và sự gắn kết với cộng đồng, với môi cảnh.

– Làn sóng toàn cầu hóa về kinh tế và phong trào chống lại toàn cầu hóa về VH được dung hòa với xu thế liên kết/ quốc tế hóa trong phạm vi khu vực (giữa các quốc gia gần gũi về địa lý tự nhiên và cùng chung nền tảng VH – Ví dụ: Khối ASEAN). Khi thế giới ngày càng trở nên “phẳng” hơn và những khoảng cách / những rào cản cố hữu về địa lý, thời gian, ngôn ngữ,… lần lượt bị vượt qua – thì chính sự khác biệt về bản thể (cá tính và sự độc đáo), về nguồn gốc (yếu tố VH và cộng đồng) trở thành những giá trị giúp nhận diện và khẳng định, để “hòa nhập nhưng không bị hòa tan”.

– Sự khủng hoảng của Chủ nghĩa Hiện đại (những năm 1950) dẫn tới các trào lưu VH Hậu hiện đại những năm 70-80 (chủ trương khai thác các mã lịch sử, mã VH để tạo nên hình thức đa nghĩa), tuy không kéo dài nhưng mở ra thời kỳ XH đa nguyên VH (đa nguồn gốc và bình đẳng giá trị). Kiến trúc được định hướng tới các yếu tố của VH đại chúng (R.Venturi – “Complexity và Contradiction in Architecture” và “Learning from Las Vegas”), tới các mô thức dân gian / truyền thống (Ch.Alexander – “Timeless Way of Building” và “A Pattern Language”).

– Nhận thức XH về phát triển bền vững (từ những năm 90) được tiếp nối đến các vấn đề của đô thị bền vững và kiến trúc bền vững (thích ứng với môi trường tự nhiên, tiếp nối truyền thống VH, phù hợp với nhu cầu XH và khả năng kinh tế – kỹ thuật). Kiến trúc gắn liền với hoàn cảnh cụ thể của mỗi cộng đồng và với những điều kiện cụ thể của từng địa phương. Vai trò của yếu tố VH được đề cao như là trụ cột thứ tư của phát triển bền vững (với nội dung bảo vệ sự đa dạng VH, duy trì, làm mới và làm phong phú thêm các giá trị VH của cộng đồng).

– Cuối cùng, trong lĩnh vực kiến trúc, tại Đại hội lần thứ XX ở Bắc Kinh ngay trước thềm thiên niên kỷ mới (6/1999), UIA đã đưa ra phương châm/ khẩu hiệu “Bản địa hóa kiến trúc quốc tế” song song với “Quốc tế hóa kiến trúc bản địa”. Từ đó mở ra xu hướng kiến trúc toàn cầu thích ứng với địa phương/ Glocal Architecture (W.Lim) – trong đó Glocal = Global + Local. Có thể xem “Bản địa hóa và quốc tế hóa” là chiến thuật của các nước lớn/ mạnh nhằm vượt qua vấn đề “tính dân tộc” mà các nước nhỏ, yếu thế thường đặt ra như một hàng rào bảo hộ về VH, một điều kiện để giữ vị thế độc lập trong các quan hệ giao lưu và hợp tác quốc tế.

Vấn đề “bản địa” trong kiến trúc phương Tây

Trong lịch sử từ xa xưa, phương Tây với nền tảng VH Thiên chúa giáo luôn tự coi mình là hiện thân của văn minh nhân loại, nên khái niệm “bản địa” xuất hiện khi các nước phương Tây bắt đầu khám phá thế giới bên ngoài châu Âu và chinh phục các thuộc địa ở châu Mỹ, châu Phi, châu Á. Phương Tây tìm hiểu VH, ngôn ngữ,.. bản địa ở các thuộc địa vì sự khác biệt, mới lạ và nhằm mục đích thôn tính lãnh thổ, chứ không vì chân giá trị. Nghĩa gốc ban đầu của “bản địa”, “bản xứ” chỉ gặp trong các lĩnh vực dân tộc học, ngôn ngữ học (Vernacular = tiếng bản xứ, thổ ngữ, phương ngữ), phản ánh cái nhìn “từ bên ngoài” (của người Âu) và lập trường “lấy châu Âu làm chuẩn” để xem xét (Eurocentrism). Theo đó, “kiến trúc bản địa” là kiến trúc vốn có của dân cư bản xứ (để phân biệt với kiến trúc chính thống là của người Âu, được mang từ chính quốc sang – còn gọi là kiến trúc thuộc địa). Đây là luồng quan điểm có tính lịch sử, có phần “đóng” cứng và cực đoan – theo đó, kiến trúc bản địa bị khu biệt hóa về không gian, thời gian và chủ thể. Sau 2-3 thế kỷ, mặc dù các thuộc địa đều đã được độc lập, song cách nhìn nhận mang tính “thực dân” như vậy vẫn tiếp tục được duy trì cho đến hiện nay. “Kiến trúc bản địa” đa phần được hiểu là nền kiến trúc “không chính thống”, có nét riêng, ít nhiều còn lạc hậu,… của các nước đang phát triển (mà hầu hết là các thuộc địa cũ), để phân biệt với nền kiến trúc hiện đại của phương Tây. Tất nhiên, phạm vi về thời gian đã được mở rộng hơn so với trước – không chỉ là kiến trúc của quá khứ đã xa mà có thể tiếp nối đến kiến trúc đương đại.

Nhà Bậc Thang có nhiều tên gọi trên thế giới : Nhà trên sân hiên, Nhà liền kề, Nhà theo hàng lối… tuy nhiên cùng chỉ một kiểu hình nhà ở với mặt tiền giống nhau (màu sắc, vật liệu), xây liền nhau thành từng hàng. Nhà Bậc Thang được gọi theo văn hóa Mỹ và Canada. Ở nhiều khu vực có thể có có cầu thang ngoài trời hoặc ban công sắt.

Khẩu hiệu của UIA (Union of International Associations) (1999) cũng chịu ảnh hưởng và phản ánh quan điểm của phương Tây khi “phân biệt đối xử” giữa kiến trúc quốc tế du nhập từ bên ngoài và kiến trúc tại chỗ (đã có từ trước, do KTS địa phương thiết kế). Có thể hiểu là kiến trúc hiện đại khi đưa vào các nước đang phát triển thì nên được bản địa hóa để thích ứng với điều kiện địa phương, còn kiến trúc của người địa phương (bản địa) thì cần được quốc tế hóa – nhưng không rõ “quốc tế hóa” để làm gì, để phục vụ cho ai? (Để đáp ứng những yêu cầu của XH hiện đại? Để phù hợp với những tiêu chí chung, tiêu chuẩn hiện đại của ai đó? Để “xuất khẩu” đưa sang xây dựng ở phương Tây?… Tất cả đều là những mục đích mà người dân bản địa không cần).

Bên cạnh đó, đến cuối thế kỷ 20 cũng đã xuất hiện những quan điểm “cởi mở” hơn/ “dân chủ” hơn – coi “kiến trúc bản địa” là “kiến trúc địa phương”, như vậy kiến trúc dân gian tại các vùng miền của châu Âu cũng chính là kiến trúc bản địa của các nước phương Tây. Theo đó, kiến trúc bản địa là những kiến trúc tự thân, do người dân xây dựng theo kinh nghiệm và các mô thức dân gian được cộng đồng chấp nhận, bằng nguồn lực (vật liệu và kỹ thuật) sẵn có tại chỗ mà không có bàn tay chuyên môn của KTS. Các “kiến trúc bản địa” như vậy có sự phát triển theo thời gian, phản ánh bối cảnh môi trường, VH và lịch sử địa phương – thậm chí cũng có giá trị như những di sản tổng thể/ di sản VH bên cạnh các di sản kiến trúc cổ đại/ cổ điển, có thể được hiện đại hóa hoặc thích ứng hóa để đáp ứng các yêu cầu đương đại. Trong lĩnh vực bảo tồn, để bổ sung cho Hiến chương Venice (1964), Đại hội đồng quốc tế về di tích và di sản (ICOMOS họp tại Mexico (10/1999) đã thông qua Hiến chương về các di sản xây dựng bản xứ (Charter on the Built Vernacular Heritage). Cái “bản xứ” ở đây được hiểu không chỉ là công trình kiến trúc, mà gồm cả tính cách vùng, địa phương, các phương thức xây dựng và sử dụng của cộng đồng, trình độ tay nghề và kỹ thuật truyền thống (kể cả không chính thống). Đây là luồng quan điểm hiện đại tương đối “mở”, có phần ôn hòa và linh hoạt, chấp nhận tính diễn tiến liên tục, đề cao mối liên hệ với cuộc sống và với cộng đồng. Sự đồng nhất hóa văn hóa và chuyển đổi kinh tế xã hội toàn cầu, dẫn đến cấu trúc bản địa trên toàn thế giới bị thay đổi, phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng. Do đó, điều cần thiết là ngoài Hiến chương Venice, thiết lập các nguyên tắc cho chăm sóc và bảo vệ di sản bản địa.

Bay-and-Gable – Kiểu hình kiến trúc nhà ở phổ biến tại Canada nói chung và TP Toronto nói riêng. Bay-and-Gable được xây bằng gạch đỏ, đôi khi có sơn màu, với mái ngói dốc và cửa sổ cao. Thiết kế được lấy cảm hứng theo phong cách Victorian cổ điển/ Nguồn: Archdaily

Tìm kiếm trong các ngôn ngữ phương Tây thì thấy không có một từ gốc duy nhất với nghĩa chính thống là “bản địa” – mà có nhiều từ khác nhau và trong những ngữ cảnh nhất định có thể được dịch là “bản địa” (nhưng bên cạnh đó vẫn có một nghĩa khác, cách dịch khác phổ biến hơn). Ví dụ trong tiếng Anh: khi nói về kiến trúc, thường dùng Vernacular (bản xứ) hoặc Local (địa phương) – nhưng ngoài ra cũng có lúc có chỗ dùng Indigenous (bản xứ), Identity (bản sắc), Primitive (nguyên thủy), Native (gốc), Folk (dân gian), Traditional (truyền thống), Original (nguyên bản), Basic (gốc, cơ sở), Aboriginal, Autochthonous,…

Điều đó cũng cho thấy giới kiến trúc phương Tây đang có sự quan tâm rất lớn và đa dạng đến việc tạo dựng mối liên hệ với quá khứ, với cái “vốn có ở địa phương”, nhưng không phải tất cả đều được gọi chung là “kiến trúc bản địa”, “bản địa hóa” – mà được diễn đạt bằng những thuật ngữ khác nhau tùy theo quan điểm, cách tiếp cận và cấp độ. Có thể thấy trong vấn đề này phương Tây đã đi rất xa so với chính các chủ nhân ban đầu của kiến trúc bản địa:

– Chủ nghĩa Khu vực – Địa phương mang tính phê phán (Critical Regionalism – chữ của K.Frampton, 1980) chống lại kiến trúc Hiện đại phong cách quốc tế khô khan vô cảm và phê phán kiến trúc Hậu hiện đại có hình thức dễ dãi và bị thương mại hóa. Chủ trương kiến trúc phản ánh VH truyền thống một cách có ý thức, nhấn mạnh và phát huy tối đa các đặc tính địa phương, sử dụng vật liệu phù hợp với khí hậu để tối ưu hóa hiệu quả, giảm giá thành và tạo sự độc đáo hấp dẫn, đề cao sự trải nghiệm thực tế để cảm nhận trực tiếp (thay vì qua các phương tiện truyền thông). Tiếp cận và khai thác VH địa phương một cách linh hoạt mềm dẻo, nhưng cũng không chối bỏ những khía cạnh tiến bộ của VH đương đại, đối thoại cởi mở với các dòng VH khác (tránh bị mâu thuẫn, xung đột, phủ nhận lẫn nhau).

– Chủ nghĩa Môi cảnh (Contextualism) và tiếp cận Bối cảnh luận: Đề cao vai trò của bối cảnh (từ gốc Latinh “Contextus” = liên hệ chặt chẽ, kết nối với nhau) như là tổng thể thống nhất các yếu tố của địa điểm / địa phương mang lại ý nghĩa và giá trị cho công trình -> các yếu tố tự nhiên và VH-XH của địa điểm quyết định giải pháp kiến trúc trên cả phương diện chức năng, hình thức và cảm nhận. Công trình không chỉ là những hình khối tự thân tồn tại – mà phải hòa hợp với môi trường và cảnh quan xung quanh, không phải là những không gian trống rỗng ở bên trong – mà phải tạo thành những “nơi chốn” có ý nghĩa, với sự hoạt động thường xuyên của con người và cộng đồng,tạo ra sự liên tục trong bối cảnh VH của khu vực. Kiến trúc là một thực thể vật chất, nó phải tuân theo quy luật Kiến tạo học (Tectonics / Architectonics), có cấu trúc đa tầng lớp để có thể kết nối với các hệ thống của địa điểm.

– Hiện tượng học Kiến trúc (Phenomenology of Architecture): Phương pháp Hiện tượng học của E.Husserl (1859-1938) và tư tưởng hiện sinh của M.Heidegger (1889-1976, coi kiến trúc là một tính năng thiết yếu của sự hiện hữu con người tại một địa điểm) được vận dụng vào kiến trúc ở cuối thế kỷ 20, mở ra các lý luận về “bản sắc của địa điểm” (Place Identity). Đó là những đặc điểm nội tại nổi trội và đặc sắc, có thể cảm nhận, nhận biết bởi số đông người, giúp phân biệt nơi này với nơi khác – với các mức độ: “Hồn nơi chốn” (con người cảm nhận được sự liên quan / gắn bó, thông qua kinh nghiệm và cảm giác của bản thân) -> “tinh thần của địa điểm” (con người nhận thức / hiểu được các tầng ý nghĩa) -> “bản sắc của địa điểm” (tạo cảm xúc mạnh mẽ, được nhận thức sâu sắc, có sự đồng cảm của số đông). Trong một phạm vi nhất định (địa điểm / địa phương) có sự thống nhất hữu cơ giữa các cấu trúc vật chất tự nhiên và nhân tạo với các hoạt động của con người (-> môi cảnh), tạo nên những cảm xúc, nhận thức và trải nghiệm tương ứng về kiến trúc tại đó. Như vậy, kiến trúc là biểu hiện của hiện tượng môi cảnh và qua đó phản ánh hồn nơi chốn / tinh thần của địa điểm / bản sắc địa phương (Ch.Norberg-Schulz, “Genius Loci: Towards a Phenomenology of Architecture”, 1980).

– Nhìn sang Nhật Bản – quốc gia Á Đông đã mở cửa quan hệ với phương Tây từ rất sớm – thì thấy có nhiều yếu tố VH được du nhập từ bên ngoài (từ Triều Tiên, Trung Hoa, Tây Âu và Mỹ) nhưng sau đó đã được “bản địa hóa” và kết hợp nhuần nhuyễn với VH gốc để trở thành một phần giá trị của VH Nhật. Chỉ trong nửa cuối thế kỷ XX, Nhật Bản từ một nước bại trận đã vươn lên thành một cường quốc về kinh tế và công nghệ, lọt vào nhóm các nước phát triển phương Tây (G7), tạo dựng được một nền kiến trúc hiện đại hàng đầu thế giới nhưng vẫn đậm đặc tinh thần truyền thống. Trong quá trình Âu hóa và quốc tế hóa mạnh mẽ, người Nhật vẫn luôn tự tôn dân tộc và dựa vào nội lực – mặt khác họ cũng chưa bao giờ phải chịu ách thuộc địa của phương Tây – cho nên không dùng chữ Vernacular (“bản địa” / “bản xứ”) mà luôn dùng Traditional (“truyền thống”, khi đề cập những giá trị chung) và Local (“địa phương”, để nói về những giá trị riêng).

Thatched Cottage | Nhà lợp mái tranh: Nhà tranh vốn rất quen thuộc với các nước Á Đông, trong đó có Việt Nam. Nhà tranh ra đời từ rất sớm khi con người biết dùng tranh từ tự nhiên để lợp mái chống nắng, mưa. Nhiều biến thể của nhà tranh còn được tìm thấy ở các bản làng cổ tại Anh.
Nguồn: Archdaily

Vấn đề “bản địa” trong Kiến trúc Việt Nam

Đối với VH Việt Nam nói chung và kiến trúc nói riêng, khái niệm “bản địa” và vấn đề “bản địa hóa” chỉ xuất hiện cùng với sự xâm nhập của người phương Tây, nhất là từ khi bị thôn tính thành thuộc địa của Pháp. Trước đó, VH cộng đồng luôn là mô thức văn hóa xuyên suốt lịch sử (VH-1). Kiến trúc dân gian tại các làng xóm vùng nông thôn do người dân làm theo những kinh nghiệm và hình mẫu chung, cho nên các loại nhà cửa đều giống nhau về hình thái và cấu trúc (sự khác biệt là về quy mô, vật liệu và mức độ trang trí). Đến khi hình thành các đô thị thì kiến trúc và tại đó vẫn tiếp nối mô thức truyền thống như trước. Tính cộng đồng chính là nhân tố quyết định giúp VH Việt không bị đồng hóa bởi VH Trung Hoa trong gần 1000 năm Bắc thuộc cũng như trong suốt thời kỳ phong kiến tự chủ.

Cung văn hóa lao động thủ đô (sau đổi là cung văn hóa hữu nghị Việt – Xô). Đây là công trình được coi có nhiều sáng tạo trong việc khai thác nghệ thuật kiến trúc dân tộc với việc sử dụng hệ mái cột và dầm kèo rất gần gũi với cấu trục của những ngôi nhà truyền thống/ Nguồn: Internet

Trong bối cảnh cuộc giao lưu và tiếp biến với VH phương Tây thời Cận đại, cho đến trước những năm 40, người Pháp (Ví dụ: H.Parmentier, L.Bezacier,..) đã quan tâm nghiên cứu (khảo sát, vẽ ghi) các kiến trúc truyền thống tiêu biểu của người Việt (đình, chùa) mà họ gọi là “kiến trúc bản địa”. Trên cơ sở đó, các KTS Pháp và Việt đã tiếp thu đưa vào chi tiết trang trí trong một số công trình Art Deco, hoặc hơn nữa là chuyển hóa thành phong cách Đông Dương (tức là bản địa hóa hình thức các công trình kiến trúc kiểu phương Tây do người Pháp đưa sang xây dựng ở Việt Nam – mà trước đó trong kiến trúc dân gian chưa từng có).

Năm 1943, trên mặt trận tư tưởng và văn hóa, Đề cương VH của Đảng đã xác định phương châm “Dân tộc – Khoa học – Đại chúng” (mô thức VH-2) để giải quyết vấn đề tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ của văn minh phương Tây (tính khoa học), trên cơ sở đề cao tinh thần dân tộc và tiếp nối tính cộng đồng của VH truyền thống (đại chúng = toàn dân). Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và kháng chiến chống xâm lược nên mô thức VH-2 chưa có cơ hội được vận dụng cụ thể vào kiến trúc (chỉ có một số kiến trúc bằng tre nứa được XD tạm thời ở chiến khu).

Trong thời kỳ 1954-1986, chúng ta theo đuổi mô thức VH-3 (mà nội dung cụ thể được điều chỉnh tại các kỳ Đại hội Đảng), với phương châm xuyên suốt được rút gọn là “vừa Hiện đại, vừa Dân tộc”).Trong quá trình xây dựng nền VH mới XHCN một cách duy ý chí cứng nhắc và nóng vội, nhiều giá trị của VH truyền thống lẽ ra có thể được duy trì và phát huy nhưng đã bị xóa bỏ, hoặc là được bảo lưu nhưng các mối liên hệ với nền tảng VH đã bị đứt nên không còn sức sống. Vấn đề được đặt ra đối với kiến trúc là thể hiện “tính dân tộc” trong bối cảnh tiếp nhận kiến trúc hiện đại kiểu phương Tây từ các nguồn khác nhau (khối TBCN – khối XHCN), có sự cải biến cho phù hợp với điều kiện khí hậu và kinh tế trong nước – Đó là mảng kiến trúc hiện đại nhiệt đới hóa ở miền Nam và kiến trúc XHCN ở miền Bắc.

Từ năm 1986 trong bối cảnh đổi mới của thời kỳ quá độ, chúng ta chuyển sang Mô thức VH-4 (“Tiên tiến và Bản sắc dân tộc”) để “hòa nhập mà không bị hòa tan”. Quá độ là quá trình vận động chuyển tiếp qua các trạng thái trung gian – có sự chuyển hóa các chuẩn mực và giá trị. Có thể thấy thời kỳ quá độ của chúng ta nằm trong tiến trình vận động biện chứng trên quy mô toàn cầu, với sự chuyển hóa từ các thay đổi về lượng sang sự đổi mới về chất, đang diễn ra sâu rộng trong hầu hết các lĩnh vực và ở nhiều cấp độ. Điểm đặc biệt đối với Việt Nam là không chỉ các giá trị VH truyền thống (vốn là những yếu tố ổn định lâu dài) mà ngay cả các điều kiện tự nhiên thường là bất biến thì hiện nay cũng đang thay đổi, trong khi đó những giá trị mới vẫn chưa được định hình và khẳng định.

Cục diện đó dẫn tới sự “bế tắc” của mô thức VH-4: “Bản sắc dân tộc” là khái niệm vĩ mô, đại thể (không giới hạn không gian, thời gian, quy mô, cấp độ), phần lớn đã bị gián đoạn, mai một (do hoàn cảnh lịch sử) -> trừu tượng, không cụ thể; yếu tố “hiện đại”, “tiên tiến” vẫn nằm ngoài nội hàm của “bản sắc” nên rất khó cho việc chuyển thể từ bản sắc VH (phi vật thể – vô hình) sang bản sắc kiến trúc của thời đại (biểu hiện bằng ngôn ngữ hữu hình). Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng lộn xộn, lai tạp của kiến trúc Việt Nam hiện nay – Mặc dù đã “được định hướng rõ ràng” và có >30 năm tìm tòi thử nghiệm (1986-2017).

Trong những năm 1970-80, các học giả Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về VH dân gian, kiến trúc truyền thống, nhưng không ai dùng chữ “bản địa” vì đó là VH và kiến trúc của dân tộc mình, đất nước mình. Cho đến thập kỷ 90, khi một loạt công trình nghiên cứu từ trước năm 1945 của người Pháp (Paul Duimer, Pierre Gourou,..) được tái bản/ dịch ra tiếng Việt thì giới nghiên cứu mới bắt đầu đề cập đến các vấn đề được gọi là “bản địa”, chủ yếu là trong lĩnh vực Dân tộc học – VH học (Ví dụ: Các yếu tố bản địa, giá trị bản địa, VH bản địa). Gần đây hơn (từ giữa những năm 2000), sau tuyên ngôn của UIA (1999), giới kiến trúc mới bắt đầu quan tâm đến “kiến trúc bản địa” và vấn đề “bản địa hóa”, ngõ hầu bổ sung cho khái niệm “bản sắc dân tộc” và cụ thể hóa nó trong kiến trúc. Về mặt khoa học, dường như là sự kế thừa luồng quan điểm “đóng” của phương Tây – Tuy có phần khách quan hóa, nhưng dù sao vẫn cứ là một cái nhìn “từ bên ngoài”. Đáng tiếc là do có mục đích và đối tượng khác nhau mà kiến trúc hiện đại (của phương Tây) được bản địa hóa chủ yếu là thích ứng với khí hậu, còn kiến trúc bản địa (của Việt Nam) được hiện đại hóa chủ yếu là về kết cấu và vật liệu – nên xét về tính chất và biểu hiện thì vẫn là 2 dòng chảy ngược chiều riêng rẽ mà không hội tụ được ở một đích chung.

Hiện nay ở Việt Nam, “VH bản địa” và “Kiến trúc bản địa” vẫn được ngầm hiểu là VH – Kiến trúc của người Việt, được dùng trong sự phân biệt, so sánh, đối chứng với VH – Kiến trúc du nhập từ bên ngoài (trong đa số trường hợp là của phương Tây). Ví dụ: “Những nhân tố tự nhiên và truyền thống VH bản địa trong kiến trúc thời Pháp thuộc” (Nguyễn Đình Toàn, 1998); “Kiến trúc bản địa Việt Nam trong thế giới đương đại” (Doãn Minh Khôi, 2014)… Tuy nhiên, việc nhận diện cái bản địa nào là “gốc” (chưa bị ảnh hưởng từ bên ngoài – thực chất là cái dân gian/ truyền thống, của thời kỳ phong kiến) hay là “mới” (đã có sự giao thoa và tiếp biến, trong các thời kỳ cận đại/ hiện đại) lại không được rõ ràng, cũng như không chỉ ra cái bản địa nào là tính chất xuyên suốt các thời kỳ để tiếp nối đến đương đại.

Truy tìm ý nghĩa của “Bản sắc” và “Bản địa” trong tiếng Việt thì thấy:

– Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên, 1997) giải nghĩa “Bản sắc” = Màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính; “Bản địa” = Bản thân địa phương được nói đến (dùng phụ sau danh từ).

– Từ điển Từ và ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân, 2000): “Bản sắc” = Tính chất đặc biệt vốn có, tạo thành phẩm cách riêng; “Bản địa” = Cái vốn có ở tại chỗ.

– Từ điển Bách khoa Xây dựng Kiến trúc (Đoàn Định Kiến chủ biên, 2003) không có cả 2 mục từ này. Từ điển bách khoa Xây dựng (Nguyễn Huy Côn, 2011) thì không có “Bản sắc”, chỉ có “Bản địa” với nghĩa về môi trường (trái ngược với “ngoại lai”, dùng để chỉ: a) những sinh vật trong đất mà hoạt động không bị ảnh hưởng bởi chất hữu cơ đưa thêm vào; b) đá hay vật chất hữu cơ, trong đó các hợp phần chủ yếu đã hình thành tại chỗ).

– Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005, 4 tập) cũng không có “Bản sắc”, chỉ có “Bản địa” với nghĩa về sinh học (chỉ các loài sinh vật hình thành và phát triển ở một vùng địa lý nhất định).
Như vậy, ý nghĩa phái sinh của “bản sắc” và “bản địa” trong lĩnh vực VH và kiến trúc vẫn chưa được ghi nhận, làm khó cho công tác nghiên cứu và lý luận phê bình. Việc dịch thuật vì vậy cũng không chuyển tải hết được sự phong phú đa dạng của vấn đề đang được cả thế giới quan tâm, dẫn đến việc bị chi phối / bị dẫn dắt bởi những quan điểm của phương Tây.

Nhà hát chèo Kim Mã (Kiến trúc sư Vũ Đại Hải – 1991)

Nhà hát đã có sự tìm tòi về hình khối phần nào đó phù hợp với đối tượng nhỏ tuổi, đồng thời có sự hài hòa nhất định với khung cảnh kiến trúc xung quanh. Khối kiến trúc được chia làm hai phần tạo được một hình ảnh sinh động và dễ gần gũi với các kiến trúc cũ quy mô nhỏ ở vùng này, mặc dù về một số chi tiết trên hai bộ phận đó chưa thật hài hòa trong một tỷ lệ thống nhất.

Trung tâm Hội Nghị Quốc tế – Hà Nội – Nguồn: Wikimapia

Công trình gồm 2 khối nhà: Nhà họp và trung tâm báo chí và khách sạn, do Việt Nam thiết kế đầu tư và xây dựng. Công trình có quy hoạch hợp lý trong điều kiện đất đai chật hẹp, kiến trúc có phong cách hiện đại kết hợp nét truyền thống, hài hòa trong môi trường kiến trúc, cảnh quan khu biệt thự Ba Đình, phù hợp với điều kiện của Việt Nam đạt tính “chân – thiện – mỹ”

Tổ hợp Làng trẻ em SOS – (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, TP. HCM, Bến Tre, Cà Mau) Nguồn: Wikipedia

Làng trẻ em SOS là công trình nhân đạo có ý nghĩa xã hội đặc biệt, hệ thống 12 Làng trẻ em SOS được đầu tư thiết kế, xây dựng rất đẹp và khang trang theo lối kiến trúc mở. Các công trình ở đây có kiến trúc rất gần gũi với những ngôi nhà Việt duyên dáng được lợp mái dốc thân quen và ấm áp, tạo tiện nghi sống và học tập lý tưởng của các em nhỏ.

Cafe Gió và Nước – Bình Dương/ Nguồn: Tác giả Võ Trọng Nghĩa

Công trình tiêu biểu đạt một ý tưởng sáng tạo độc đáo, tạo hình giản dị và duyên dáng với những nghiên cứu tìm tòi theo hướng dân tộc hiện đại. Công trình đã rất thành công khi khai thác và sử dụng một cách tài tình các vật liệu địa phương. Tác giả thể hiện thành công hoài bão và khát vọng của mình về một kiến trúc sinh thái, tiết kiệm năng lượng mang đậm bản sắc dân tộc. Công trình đã đạt được rất nhiều giải thưởng kiến trúc quốc tế và trong nước.

Kết luận

“Kiến trúc Bản địa” là thuật ngữ có nguồn gốc phương Tây để chỉ những kiến trúc địa phương ngoài châu Âu do người dân bản xứ tự xây tại các vùng đất mà họ chinh phục. Theo thời gian, thuật ngữ này được mở rộng ra cả các kiến trúc dân gian tại các vùng miền ở châu Âu. Thuật ngữ này được du nhập vào Việt Nam từ lâu nhưng chỉ mới thực sự được giới nghiên cứu đón nhận trong thời gian gần đây để chỉ kiến trúc truyền thống của người Việt, phân biệt với các dòng kiến trúc ngoại lai. Tuy nhiên cho đến nay ý nghĩa phái sinh của “bản địa” trong kiến trúc vẫn chưa được ghi nhận trong các tài liệu chính thống. Do hoàn cảnh lịch sử và xu thế toàn cầu hóa, có lẽ không thể xóa bỏ từ “bản địa” đã rất phổ biến về mặt ngôn ngữ – nhưng cần thiết phải làm rõ nội hàm và ý nghĩa của nó để sử dụng cho phù hợp.

Trần Mạnh Cường

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 08-2020)


Tài liệu tham khảo:

  1. Patricia Aburdene (2005), “Megatrends 2010”. Hampton Roads
  2. John Naisbitt và Patricia Aburdene (1990), “Megatrends 2000”. William Morrow
  3. Christian Norberg-Schulz (1980), “Genius Loci: Towards a Phenomenology of Architecture”. Rizzoli, New York.
  4. Trần Quốc Thái (2006), “Kiến trúc bền vững từ góc độ thích ứng khí hậu địa phương” – Luận án Tiến sĩ Kiến trúc, ĐH Kiến trúc Hà Nội.
  5. Trần Quốc Thái và Nguyễn Trí Thành (2012), “Văn hóa – trụ cột thứ tư của phát triển bền vững” – Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, Bộ Xây dựng.
  6. Nguyễn Trí Thành (2004), “Yếu tố văn hóa trong kiến trúc công trình biểu diễn ở Việt Nam” – Luận án Tiến sĩ Kiến trúc, ĐH Kiến trúc Hà Nội.
  7. Nguyễn Trí Thành (2013), “Đổi mới nhận thức về vấn đề bản sắc dân tộc trong kiến trúc”. Tạp chí Kiến trúc, Hội KTS Việt Nam, số 9/2013.
  8. Nguồn internet , Ảnh trích dẫn tham khảo nguồn Archdaily, Kiến Việt.