Đào tạo ngành kiến trúc bậc cao đẳng: Xây dựng tiêu chí “Sáng tạo” trong tiêu chuẩn kỹ năng nghề

Ngành Kiến trúc luôn đòi hỏi nhất định về tính sáng tạo của đội ngũ hành nghề. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tính sáng tạo: Mỗi trường phái kiến trúc khác nhau, hệ thống đào tạo khác nhau có những quan điểm tư duy và chuẩn mực khác nhau. Tiêu chí về tính sáng tạo trong kiến trúc vẫn được xem là một khái niệm khá trừu tượng, rất khó để xác định những tiêu chí cụ thể.

Hiện nay ở Việt Nam, đào tạo kiến trúc đang được phân chia theo hệ thống giáo dục: Giáo dục đại học (các bậc đại học và trên đại học); giáo dục nghề nghiệp (gồm các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng). Tại mỗi cấp bậc học, người học đều phải đạt được trình độ theo chuẩn đầu ra khi tốt nghiệp và chắc chắn rằng sáng tạo sẽ phải là một tiêu chí quan trọng cho “chuẩn đầu ra” (Giáo dục đại học) và “tiêu chuẩn kỹ năng nghề” (giáo dục nghề nghiệp). Thực tế, việc xây dựng chuẩn đầu ra và tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho ngành kiến trúctại nhiều cơ sở đào tạo hiện nay chưa được thực hiện tốt, và vì vậy, tiêu chí “sáng tạo” lại càng trở nên khá “trừu tượng” và mơ hồ, rất khó xác định.

Giờ học Mỹ thuật của sinh viên Trường cao Đẳng Xây dựng TP.HCM (Nguồn Khoa Kiến trúc CĐXD TP.HCM)

Nội dung bài viết này tập trung vào việc: Phân tích bối cảnh phát triển của ngành kiến trúc; các yêu cầu về vị trí việc làm của người hành nghề hiện nay ở trình độ cao đẳng; từ đó đề xuất xây dựng tiêu chí sáng tạo trong đào tạo kiến trúc ở trình độ này.

Xu hướng phát triển của ngành kiến trúc và yêu cầu nhân lực trình độ Cao đẳng

1. Xu hướng phát triển của đào tạo lĩnh vực kiến trúc

Ngành kiến trúc đã hình thành từ rất lâu, phát triển qua nhiều thời kỳ khác nhau, tương ứng với các giai đoạn lịch sử văn hoá và văn minh nhân loại.Bản chất của ngành kiến trúc luôn chú trọng việc sáng tạo trong tổ chức không gian và môi trường sinh sống và làm việc cho con người, do vậy, người hành nghề kiến trúc đòi hỏi phải chú trọng tư duy sáng tạo và thẩm mỹ. Ban đầu, sự sáng tạo chỉ nằm trong phạm vi một công trình, nhưng xu hướng phát triển mở rộng phạm vi không gian của nhiều công trình, cả không gian đô thị… Xu hướng này đang tạo ra những hướng đi khác nhau, những nghề nghiệp và công việc khác nhau trong ngành kiến trúc.

Sinh viên được rèn luyện tư duy sáng tạo trên việc học mô hình tại Trường Cao Đẳng Xây dựng TP. HCM

Nếu ban đầu, xu hướng kiến trúc chú trọng vào tổ chức không gian, chú trọng yếu tố sử dụng, cảm thụ và thẩm mỹ thì từ thập niên 70, 80 của thế kỷ 20, kiến trúc chú trọng nhiều hơn đến vấn đề kỹ thuật, môi trường và phát triển bền vững. Tại nhiều nơi trên thế giới, kiến trúc đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Điều này cho thấy, xu hướng hiện nay không còn giới hạn trong phạm vi sáng tác công trình (tập trung vào tính sáng tạo), mà ngành kiến trúc còn chú trọng vào tư duy tổng hợp, kết hợp đa ngành, đa lĩnh vực.

Theo Hiến chương năm 2017 về Đào tạo lĩnh vực Kiến trúc của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) và Hiệp hội KTS Thế giới (UIA), với xu hướng phát triển hiện nay của bối cảnh toàn cầu, tiêu chí năng lực của người hành nghề kiến trúc đã có nhiều thay đổi, và vì vậy, công tác đào tạo kiến trúc phải đảm bảo các năng lực cho người tốt nghiệp, chú trọng vào 03 thành tố:

– Tư duy thiết kế: Tư duy về tưởng tượng, suy nghĩ sáng tạo, đổi mới; khả năng thu thập thông tin, giải quyết vấn đề; phân tích và đánh giá phê phán và xây dựng chiến lược hành động; Khả năng suy nghĩ đa chiều trong việc khám phá thiết kế; khả năng tích hợp các yếu tố khác nhau, tích hợp kiến thức và áp dụng các kỹ năng trong việc tạo ra một giải pháp thiết kế.

– Kiến thức:

  • Văn hoá và Nghệ thuật: hiểu biết lịch sử và văn hoá trong kiến trúc địa phương và thế giới; Hiểu được các vấn đề di sản trong môi trường xây dựng;
  • Khoa học Xã hội: Có khả năng tư duy các vấn đề xã hội, hiểu biết về bối cảnh xã hội và việc đáp ứng nhu cầu của xã hội và người sử dụng;đáp ứng sự công bằng xã hội;
  • Nghiên cứu môi trường: Khả năng tư duy về hệ thống tự nhiên và môi trường xây dựng; Hiểu được các vấn đề về bảo tồn và quản lý chất thải, tính bền vững sinh thái, tác động môi trường, thiết kế cho giảm sử dụng năng lượng;
  • Nghiên cứu Kỹ thuật: Có kiến thức về cấu trúc, vật liệu, và xây dựng; năng lực sáng tạo trong việc sử dụng các kỹ thuật xây dựng và sự phát triển; Hiểu được các quy trình thiết kế kỹ thuật và sự kết hợp của cấu trúc, công nghệ xây dựng;
  • Nghiên cứu Thiết kế: Kiến thức về lý thuyết và phương pháp thiết kế; Hiểu biết về quy trình và quy trình thiết kế; Kiến thức về tiền đề thiết kế và phê bình kiến trúc;
  • Kiến thức hoạt động nghề nghiệp: Có khả năng hiểu các hình thức kinh doanh khác nhau của các dịch vụ kiến trúc; hiểu biết các hoạt động cơ bản của ngành xây dựng và phát triển, như tài chính, đầu tư bất động sản và quản lý cơ sở vật chất; hiểu biết về đạo đức nghề nghiệp và các quy tắc ứng xử khi áp dụng vào thực tiễn kiến trúc và trách nhiệm pháp lý của các kiến trúc sư khi đăng ký, thực hành và hợp đồng xây dựng.

– Kỹ năng: Có khả năng làm việc với sự hợp tác của các thành viên ngành kiến trúc và các ngành có liên quan; Có khả năng hành động và truyền đạt ý tưởng thông qua hợp tác, nói, viết, vẽ, lập mô hình và đánh giá; có khả năng làm bằng tay, sử dụng công cụ điện tử, đồ họa và mô hình để khám phá, phát triển, xác định và truyền đạt một đề xuất thiết kế; Hiểu biết về các hệ thống đánh giá sử dụng phương tiện thủ công và/hoặc phương tiện điện tử để đánh giá hiệu suất của môi trường xây dựng.

Với sự phát triển và thay đổi của bối cảnh kinh tế xã hội tại Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung, tiêu chí sáng tạo cần phải được xác định cụ thể hơn, đáp ứng từng bối cảnh khác nhau, đặc biệt là phù hợp với năng lực của từng nhóm nhân lực và từng bậc đào tạo. Hiện nay, xu hướng nhu cầu nhân lực không chỉ dừng lại ở đội ngũ kiến trúc sư mà còn có nhiều yêu cầu cho các đối tượng kỹ thuật viên, chuyên viên kiến trúc.

2. Nhu cầu nhân lực kiến trúc ở bậc giáo dục nghề nghiệp

Theo thống kê của Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP HCM (FALMI), Kiến trúc là một những lĩnh vực có đòi hỏi nguồn nhân lực lớn trong nước và trong khu vực. Theo thỏa thuận trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), 8 lĩnh vực ngành nghề được tự do di chuyển trong ASEAN, gồm nha khoa, điều dưỡng, kỹ thuật, xây dựng, kế toán, kiến trúc, khảo sát và du lịch. Như vậy, có thể thấy, ngành Kiến trúc đang được xác định là một trong những ngành nghề có sự đòi hỏi nhu cầu nhân lực rất lớn tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.Tuy vậy, nhu cầu thực chất ở nhiều quốc gia cho thấy không phải tất cả đội ngũ tham gia vào thị trường lao động đều phải là KTS. Đội ngũ nhân lực hành nghề kiến trúc có thể tham gia nhiều công việc từ thiết kế, triển khai bản vẽ, giám sát thiết kế, quản lý dự án, tư vấn đầu tư, …

Sinh viên được thao tác sử dụng công cụ hỗ trợ (máy cắt laser) trong sáng tác mô hình

Theo thống kê của FALMI, nhu cầu nhân lực ngành kiến trúc trình độ Cao đẳng và Trung cấp đang có xu hướng gia tăng. Trong những năm vừa qua, đào tạo ngành Kiến trúc tại Việt Nam hầu như chỉ tập trung vào trình độ đại học và danh hiệu bằng cấp tốt nghiệp là KTS với thời gian đào tạo từ 4,5-5 năm. Nhưng thực tế, đội ngũ nhân lực trình độ Đại học khó “đáp ứng được lại sự kỳ vọng từ các nhà tuyển dụng các với lí do là những kiến thức họ học thiếu thực tế và mất hẳn phần cơ bản về đọc và khai triển bản vẽ kỹ thuật” (theo FAMIL). Sinh viên tốt nghiệp đại học có xu hướng chú trọng vào các kỹ năng sáng tạo trong thiết kế, chú trọng yếu tố thẩm mỹ, tổ chức không gian hiện đại nhưng lại thiếu nhiều kỹ năng về thực tế, kỹ thuật và các kiến thức tổng hợp liên ngành khác.

Hiện nay, trong khuôn khổ Luật Giáo dục Nghề nghiệp, một số cơ sở đào tạo đã bắt đầu đào tạo đội ngũ Kỹ sư thực hành Kiến trúc, với thời gian đào tạo từ 2,5-3 năm. Đội ngũ kỹ sư thực hành này có thể đảm nhiệm nhiều vị trí công việc từ việc tham gia thiết kế, triển khai bản vẽ thiết kế đến việc tham gia quản lý các dự án xây dựng, hoặc thư ký dự án thiết kế cho các KTS điều hành dự án. Với thời lượng thực hành chiếm đến 70% thời gian đào tạo, đội ngũ kỹ sư thực hành Kiến trúc hoàn toàn có thể tham gia công việc ngay khi ra trường.

Sáng tạo vẫn luôn là một tiêu chí quan trọng cho đội ngũ nhân lực ngành kiến trúc, nhưng chắc chắc những yêu cầu về sáng tạo đối với trình độ Cao đẳng và Trung cấp phải có sự khác biệt với trình độ đại học – những nhà KTS. Tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho Kiến trúc sẽ là một nội dung rất cần thiết nhằm xác định chuẩn đầu ra và xây dựng chương trình đào tạo, nhưng quan trọng nhất vẫn nhằm để đánh giá chính xác năng lực của người lao động.

Vị trí việc làm và tiêu chuẩn kỹ năng của ngành kiến trúc trình độ cao đẳng

1. Tiêu chuẩn kỹ năng nghề – sự cần thiết trong lao động và hành nghề quốc tế

Theo khái niệm của tổ chức Lao động quốc tế – ILO, “Tiêu chuẩn kỹ năng nghề” hay “Tiêu chuẩn năng lực thực hiện” mô tả kiến thức, kỹ năng và thái độ mà một người cần có để thực hiện một công việc cụ thể, hoặc một hoạt động theo mức độ thực hiện yêu cầu. Các năng lực nói chung chỉ rõ các tiêu chuẩn và điều kiện tối thiểu trong đó chúng phải được áp dụng. Theo thoả thuận của AEC: “Các nước thành viên ASEAN tăng cường so sánh các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia”; Tiêu chuẩn kỹ năng nghề là hết sức cần thiết, là điều kiện tiên quyết để dịch chuẩn lao động trong khu vực ASEAN.

Tiêu chuẩn kỹ năng nghề có 05 bậc từ bậc 01 đến bậc 05. Số bậc phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm: Tính chất, hình thức, mức độ thực hiện công việc; Phạm vi, độ khó và độ phức tạp của công việc; Tính linh hoạt và sáng tạo trong thực hiện công việc; Mức độ phối hợp và trách nhiệm trong thực hiện công việc. Tương ứng với 5 bậc kỹ năng nghề sẽ là các cấp trình độ: Sơ cấp – Bậc 1; Trung cấp – Bậc 2; Cao Đẳng – Bậc 3; Các bậc 4, 5 có thể cấp cho các trình độ Cao Đẳng, Đại học và sau đại học, tuỳ theo các mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ năng của người hành nghề.

Hiện nay đã có rất nhiều ngành nghề đã được xây dựng Tiêu chuẩn kỹ năng nghề như nghề Xây dựng (Nề – Hoàn thiện, Beton, Lắp đặt đường ống nước, Lắp đặt điện…) nhưng ngành kiến trúc vẫn chưa hoàn toàn có Tiêu chuẩn kỹ năng nghề. Với nghề Kiến trúc, đặc biệt trong điều kiện yêu cầu về sáng tạo là một khái niệm mang tính trừu tượng, thì việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề càng trở nên rất khó khăn.

2. Tính sáng tạo trong Tiêu chuẩn về kỹ năng nghề Kiến trúc

Để đảm bảo điều kiện chuyển dịch lao động và tìm việc làm trong thị trường ASEAN nói riêng và thế giới nói chung, việc xây dựng Tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho Ngành Kiến trúc là một nội dung rất cần thiết mà các Trường đào tạo phải đảm nhận.
Căn cứ vào khung Tiêu chuẩn kỹ năng nghề Quốc gia Việt Nam, đào tạo bậc cao đẳng có chuẩn đầu ra tương đương bậc 3 trong Tiêu chuẩn Kỹ năng nghề Quốc gia. Bên cạnh đó, người tốt nghiệp trình độ Cao đẳng vẫn có thể được công nhận trình độ kỹ năng nghề bậc 4 và 5 nếu đạt trình độ khi được đánh giá. Trong đó:

Đối với Bậc 3: Thực hiện được phần lớn công việc phức tạp; Có kiến thức chuyên môn, kiến thức cơ bản về nguyên lý, lý thuyết và hiểu biết rộng về các hoạt động của nghề trong các lĩnh vực; vận dụng được kiến thức và hiểu biết để đưa ra giải pháp giải quyết, xử lý một số vấn đề chuyên môn kỹ thuật phức tạp;Có khả năng nhận biết, phân tích, đánh giá thông tin từ nhiều nguồn khác nhau; tự chủ, làm việc độc lập và hướng dẫn người khác trong tổ nhóm khi thực hiện công việc; chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm làm ra về chất lượng theo tiêu chuẩn quy định và chịu một phần trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của người khác trong tổ, nhóm làm ra.

Đối với Bậc 4: Thực hiện hầu hết các công việc phức tạp, công việc có nhiều sự lựa chọn trong nhiều tình huống khác nhau;Có kiến thức chuyên môn sâu, kiến thức về nguyên lý, lý thuyết và hiểu biết sâu, rộng về các hoạt động của nghề trong các lĩnh vực; vận dụng được kiến thức và hiểu biết để đưa ra giải pháp giải quyết, xử lý vấn đề chuyên môn kỹ thuật phức tạp và các yêu cầu của quản lý khi thực hiện công việc; Phân tích, đánh giá thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và sử dụng kết quả phân tích đánh giá để đưa ra ý kiến, kiến nghị cho mục đích quản lý và nghiên cứu; làm việc độc lập và tự chủ cao; có khả năng quản lý, điều hành tổ, nhóm trong quá trình thực hiện công việc; tự chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm làm ra về chất lượng theo tiêu chuẩn quy định và chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của người khác trong tổ, nhóm làm ra.

Đối với Bậc 5: Thực hiện các công việc phức tạp, công việc có nhiều sự lựa chọn trong mọi tình huống; Có kiến thức chuyên môn sâu, kiến thức rộng về nguyên lý, lý thuyết và hiểu biết sâu, rộng về các hoạt động của nghề trong các lĩnh vực; có kỹ năng phân tích, suy xét, chẩn đoán, thiết kế để đưa ra giải pháp giải quyết, xử lý các vấn đề chuyên môn kỹ thuật phức tạp hoặc yêu cầu của quản lý trong phạm vi rộng khi thực hiện công việc;Biết phân tích, đánh giá thông tin và tổng quát hóa để đưa ra các quan điểm, sáng kiến; làm việc độc lập và tự chủ cao; quản lý, điều hành tổ, nhóm trong quá trình thực hiện công việc; tự chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm làm ra về chất lượng và chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của tổ, nhóm làm ra đảm bảo thông số kỹ thuật và theo tiêu chuẩn quy định.

Như vậy, đối chiếu với các tiêu chuẩn kỹ năng nghề đã được ASEAN công nhận thì các tiêu chí sáng tạo có thể sẽ bao gồm:

– Sáng tạo trong Thiết kế và tổ chức không gian: Đây là nhiệm vụ hàng đầu của KTS và các cộng sự kiến trúc có liên quan. Nói một cách rõ ràng hơn, các cơ sở đào tạo phải tập trung tăng cường nội dung thực hành, tăng cường các tư duy sáng tạo nhưng vẫn phải đảm bảo việc tổ chức không gian phù hợp với việc khai thác sử dụng.

– Sáng tạo vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề: Sự sáng tạo phải nhằm mục đích mang lại những giải pháp tích cực, đối với một vấn đề khó khăn, người hành nghề phải biết lựa chọn giải pháp một cách khoa học, sáng tạo. Biết phân tích lựa chọn giải pháp tối ưu trong rất nhiều giải pháp có thể thực hiện được. Sự sáng tạo trong lựa chọn cũng là một tiêu chí quan trọng.

– Sáng tạo trong việc vận dụng các hiểu biết tổng hợp kiến thức về Xã hội, Môi trường và kỹ thuật công nghệ: Việc sáng tạo có thể phải được giới hạn trong bối cảnh Xã hội, Môi trường và kỹ thuật công nghệ, đây là những nội dung cần thiết và bắt buộc người hành nghề phải có kiến thức tổng hợp. Sự sáng tạo phải nằm ở chỗ biết khai thác và vận dụng hài hoà tất cả các yếu tố của bối cảnh. Nếu chỉ đơn thuần sáng tạo về mặt hình khối, hình thể, mỹ thuật mà quên đi tính khả thi, khả dụng, yếu tố văn hoá xã hội, môi trường thì sự sáng tạo này có thể chỉ nằm trên giấy.

– Sáng tạo trong việc tổng hợp, tích hợp các giải pháp kỹ thuật trong kiến trúc:Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, công nghệ mới, việc lựa chọn các giải pháp kỹ thuật,

– Sáng tạo trong quản lý và điều hành công việc: Đây là một kỹ năng nghề nghiệp rất quan trọng mà người hành nghề phải có được, đây cũng là một tiêu chuẩn quan trọng của Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Ở trình độ kỹ năng nghề bậc 4, 5 người hành nghề phải có những kỹ năng quản lý, điều hành đội nhóm, doanh nghiệp. Tiêu chí hoạt động nghề nghiệp cũa UIA hay Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đều xem đây là một tiêu chí quan trọng cho sự sáng tạo.

Các đề xuất và kiến nghị về tiêu chí sáng tạo trong đào tạo trình độ cao đẳng

Đối với giáo dục Nghề nghiệp, các trình độ Cao Đẳng, Trung cấp hiện nay theo danh mục có các ngành nghề đào tạo gồm Công nghệ Kỹ thuật Kiến trúc (Cao đẳng); Thiết kế Kiến trúc, Hoạ viên Kiến trúc (Trung cấp). Chương trình đào tạo trình độ Cao Đẳng được chú trọng vào các nội dung kỹ thuật công nghệ với bằng tốt nghiệp là: Kỹ sư thực hành Công nghệ Kiến trúc.

Với vai trò là Kỹ sư thực hành Công nghệ Kiến trúc, trong bối cảnh thị trường hiện nay, có rất nhiều vị trí việc làm phong phú, đa dạng cho người tốt nghiệp trình độ Cao đẳng như:

  • Kỹ thuật viên thiết kế: có khả năng triển khai bản vẽ, am hiểu các kiến thức kỹ thuật công nghệ, cấu tạo kiến trúc, kinh tế xây dựng. Đây là đội ngũ nhân lực rất cần thiết cho các công ty Tư vấn Thiết kế.
  • Giám sát thiết kế: Với kiến thức và kỹ năng thực tế tại công trường, đội ngũ Kỹ sư thực hành Công nghệ Kiến trúc có khả năng tham gia giám sát thiết kế, hướng dẫn triển khai cấu tạo thực tế tại công trường.
  • Thư ký dự án: Với kiến thức tổng hợp nhiều lĩnh vực, khả năng lựa chọn xử lý các vấn đề một cách sáng tạo khoa học, đội ngũ Kỹ sư thực hành Công nghệ Kiến trúc có thể thay thế các Chủ nhiệm đồ án thiết kế trong việc phối hợp với các lĩnh vực khác, sáng tạo trong tổ chức khai thác, quản lý vận hành của dự án.
  • Chuyên viên thẩm định: Kỹ sư thực hành Công nghệ Kiến trúc có thể nắm rất rõ bản vẽ, bản vẽ cấu tạo, kinh tế xây dựng nên có thể đảm nhiệm vai trò thẩm tra, thẩm định và đánh giá hồ sơ bản vẽ thiết kế hỗ trợ cho các chủ trì Thẩm tra/thẩm định.

 

Đối với bậc cao đẳng, chuẩn đầu ra sẽ tương đương với Trình độ Tiêu chuẩn kỹ năng nghề Quốc gia bậc 3, với định hướng chú trọng vào kỹ thuật công nghệ thì các tiêu chí sáng tạo cũng được các trường xác định một cách phù hợp.

Tại Trường Cao Đẳng Xây dựng TP HCM, Chương trình đào tạo ngành Công nghệ Kỹ thuật Kiến trúc đã được triển khai từ năm 2015, đến nay đã tuyển sinh được 3 khoá. Với tiêu chí đảm bảo chuẩn đầu ra chính là Tiêu chuẩn kỹ năng nghề Quốc gia bậc 3, sinh viên được trang bị các kiến thức và kỹ năng thực hành đầy đủ. Trong đó, tính sáng tạo vẫn được đáp ứng phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia.
Dựa trên những đề xuất ở trên về tính sáng tạo, những kiến nghị đối với việc Ban hành Tiêu chuẩn kỹ năng nghề Quốc gia cho ngành Kiến trúc (dành cho bậc 3) như sau:

  • Sáng tạo trong Thiết kế và tổ chức không gian: Đối với bậc cao đẳng chủ yếu là triển khai được các ý tưởng của KTS một cách sáng tạo, với việc vận dụng các yếu tố kỹ thuật công nghệ, cấu tạo, vật liệu mới.
  • Sáng tạo vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề, tích hợp các yếu tố bối cảnh và kỹ thuật: Sự sáng tạo trong lựa chọn là một tiêu chí quan trọng. Đối với trình độ cao đẳng tiêu chuẩn cho người tốt nghiệp phải đảm bảo năng lực vận dụng kiến thức, giải pháp kỹ thuật phù hợp. Thế mạnh trong nắm bắt các yếu tố kỹ thuật công nghệ đòi hỏi một sự sáng tạo trong chọn lựa giải pháp kỹ thuật, cấu tạo kiến trúc hợp lý.
  • Sáng tạo trong làm việc và điều hành công việc: Ở trình độ bậc 3, người lao động phải có kỹ năng sáng tạo trong làm việc nhóm, phối hợp với các chuyên ngành khác, riêng người tốt nghiệp cao đẳng kỹ thuật công nghệ kiến trúc còn cần phải am hiểu và tổng hợp được các ý kiến các chuyên ngành khác, nội dung công việc có liên quan. Có khả năng kết nối các bên liên quan trong quá trình triển khai dự án tại công trường.

Tóm lại, ngành Kiến trúc là một lĩnh vực ngành nghề đòi hỏi tính sáng tạo cao. Hiện nay, nghề này có nhu cầu nhân lực lớn tại nhiều nước trên giới, đặc biệt là trình độ nhân lực bậc cao đẳng. Để có thể thuận lợi trong đánh giá năng lực người lao động, cũng như thuận lợi trong việc chuyển dịch lao động tại các quốc gia, Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia là một nội dung rất cần thiết cần được xây dựng và vận dụng vào chương trình đào tạo của các trường. Trong đó, tính sáng tạo cần được xem là một nội dung quan trọng của Tiêu chuẩn kỹ năng nghề và cần được xây dựng phù hợp với từng bậc học cũng như từng trình độ kỹ năng nghề.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Wendy R. McClure & Tom J.Bartuska (edited 2nd), The Built Environment – A Collaborative Inquiry into Design and Planning, John Wiley & Son Publisher, Canada, 2007
2. Marion Temple, Study the Built environment, Palgrave MacMillan, New york, 2004
3. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) và Hiệp hội Kiến trúc sư Thế giới (UIA), Hiến chương năm 2017 về Đào tạo lĩnh vực Kiến trúc, 2017.
4. Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động Tp.HCM phát triển nguồn nhân lực Tp.HCM, Báo cáo năm 2016.
5. Dương Đức Lân, Tiêu chuẩn kỹ năng nghề – Yếu tố cơ bản để cải cách giáo dục kỹ thuật và dạy nghề trong bối cảnh hội nhập ASEAN, Báo cáo Tổng cục Dạy nghề năm 2012.
6. Nghị định 31/2015/NĐ-CP ngày 24/03/2015 Quy định chi tiết về thi hành một số điều của Luật việc làm về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, 2012.
7. Thông tư 56/2015/TT-BLĐTBXH ngày 24712/2015 Hướng dẫn việc xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, 2015.

TS.KTS Lê Anh Đức
Trường Cao Đẳng Xây dựng TP.HCM

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 8/2017)