Xây dựng chương trình đào tạo chuyên ngành Quy hoạch vùng và Đô thị gắn với nhu cầu phát triển Kinh tế Xã hội

Việt Nam hiện đang trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội, để đáp ứng nhu cầu đó, ngành Quy hoạch đô thị và nông thôn phải tạo ra nguồn nhân lực để thực hiện nhiệm vụ mới. Một trong các khâu quan trọng là công tác đào tạo tại các trường Đại học chuyên ngành về Quy hoạch xây dựng. Việc nghiên cứu đổi mới chương trình đào tạo ngành Quy hoạch Đô thị và Nông thôn là quan trọng và cấp thiết. Người làm quy hoạch không những cần khả năng của một “Kiến trúc sư” (Architect) mà còn cần có kiến thức về địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của một “Nhà quy hoach”(Planner). Việc đổi mới chương trình đào tạo chuyên ngành Quy hoạch Đô thị và Nông thôn trong các trường Đại học nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế.

Quy hoạch chi tiết KCN phía Tây thành phố Pleiku
Quy hoạch chi tiết KCN phía Tây thành phố Pleiku

Tổng quan về chương trình đào tạo quy hoạch đô thị trên thế giới và Việt Nam:
1.Trên thế giới:
Trên thế giới, dưới tác động của các nền kinh tế xã hội khác nhau, công tác quy hoạch xây dựng và quản lý đô thị ở mỗi nước đều có những nghiên cứu phù hợp với thực tế phát triển của từng nước. Tuy nhiên, nhìn chung công tác quy hoạch đô thị đều dựa trên quy hoạch kinh tế – xã hội và các quy hoạch chuyên ngành. Các nhà Quy hoạch chính là “Nhạc trưởng” tổng hợp được các yếu tố này, đưa ra được các giải pháp quy hoạch đô thị phù hợp với quy hoạch kinh tế – xã hội theo định hướng phát triển bền vững, đảm bảo sự tổng hòa của phát triển kinh tế, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái đô thị. Do vậy, các Nhà quy hoạch đô thị “Urbanist” cần phải có kiến thức tổng hợp – Là nhà khoa học về lĩnh vực quy hoạch, thiết kế đô thị, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, kinh tế học đô thị và văn hóa, xã hội học…

Đa số các nước có xu hướng đào tạo các KTS và KS thuộc các chuyên ngành có liên quan ở bậc trên đại học trở thành các “Nhà quy hoạch đô thị” “Urbanist”, có tầm nhìn bao quát và khả năng tư vấn ở tầm vĩ mô cho các cơ quan điều hành xã hội. Cộng hoà Pháp có thể coi như một thí dụ điển hình. Các nước châu Á có mức độ tăng trưởng kinh tế khác nhau, dẫn đến nội dung, chương trình đào tạo về quy hoạch và quản lý đô thị ở các trường trong khu vực cũng khác nhau. Có nhiều loại hình đào tạo chuyên ngành quy hoạch khác nhau trong các trường ở khu vực Châu Á. Mặc dù xu hướng thành lập các trường đại học quy hoạch độc lập hiện nay đang tăng lên, nhưng phần lớn chương trình đào tạo quy hoạch nằm trong trường Kiến trúc, Xây dựng, Kỹ thuật đô thị…

Một số nước trên thế giới đào tạo tách biệt ra hai loại hình Nhà quy hoạch và Thiết kế đô thị, đào tạo ở đại học hoặc sau đại học, có chương trình cụ thể riêng cho từng loại đối tượng. Riêng các nhà quy hoạch được bổ sung nhiều kiến thức về xã hội học, kinh tế, lịch sử, môi trường. Các nhà chuyên môn về thiết kế đô thị: Chuyên sâu về các kiến thức bố cục, tạo cảnh, những vấn đề nghệ thuật làm đẹp thành phố, không gian công cộng.

Nội dung chương trình đào tạo tại các nước tiên tiến được tổ chức thành các modul, đảm bảo tính liên thông, gắn kết giữa các môn học, ngành học, cấp bậc đào tạo (từ phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, trung học cơ sở và đại học). Đây là vấn đề chúng ta chưa làm được. Thời gian đào tạo KTS theo hai giai đoạn: Giai đoạn một học 3 – 4 năm, khi tốt nghiệp nhận bằng cao đẳng (Bachelor); giai đoạn sau học tiếp 1-2 năm để cấp bằng KTS hoặc Thạc sĩ (Master).

Nhìn chung, trên thế giới và trong khu vực, các trường đại học về cơ bản không đào tạo ra sản phẩm là “KTS quy hoạch”(Planning Architect) như Việt Nam mà chủ yếu sản phẩm đào tạo là những Nhà quy hoạch (Planner), có chuyên môn hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển đô thị trong phạm vi tổng quát hơn.

2.Tình hình đào tạo KTS Quy hoạch tại Việt Nam:
Hiện nay, trên cả nước có gần 20 trường Đại học đào tạo KTS nhưng chỉ có 03 trường là có đào tạo chuyên về KTS quy hoạch, đó là: Đại học Kiến trúc Hà Nội đào tạo được 20 năm (1992), Đại học Kiến trúc TP HCM đào tạo được 13 năm (1998) và Đại học Xây dựng Hà Nội từ năm 2008. Hàng năm, các trường Đại học đào tạo ra trường (tốt nghiệp) khoảng 300 KTS quy hoạch. Hiện nay, các trường cũng đã nâng số lượng đầu vào hàng năm khoảng 500 SV chuyên ngành quy hoạch.

a. Đánh giá chung về chương trình đào tạo KTS chuyên ngành quy hoạch tại trường học Kiến trúc Hà Nội.
Bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua, có thể thấy chương trình đào tạo ngành quy hoạch – xây dựng còn có chung một số hạn chế như sau:
– Các môn lý thuyết cung cấp kiến thức quá rộng nhưng lại không đủ sâu để áp dụng;
– Trình tự và mối quan hệ giữa các môn học chưa có tính hệ thống, các môn học lý thuyết chưa hỗ trợ hiệu quả cho các đồ án;
– Thời gian của các môn học không cho phép sinh viên dễ dàng chuyển đổi từ kiến thức thành kỹ năng, chưa trú trọng trang bị các kỹ năng học cho sinh viên ngay từ những năm đầu;
– Các đồ án tập trung nhiều vào sản phẩm đồ án hơn là phương pháp nghiên cứu và quá trình thực hành;
– Nội dung kiến thức chưa đáp ứng được những yêu cầu về vai trò và chức năng của nhà quy hoạch, các môn học về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường chưa được quan tâm đầy đủ;
– SV buộc phải học quá nhiều nên giới hạn khả năng phát triển tư duy và suy nghĩ;
– Thời gian học đại cương không trang bị đủ các kỹ năng cần thiết của KTS quy hoạch.

b. Chương trình đào tạo ngành Quy hoạch đô thị của Trường Đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh.
Chương trình đào tạo ngành Quy hoạch đô thị bậc đại học được xây dựng bởi sự hợp tác và hỗ trợ của Chương trình quy họach môi trường đô thị Việt Nam (UEPP-VN) đối với Đại học Kiến trúc TP HCM: Thời gian đào tạo gồm 5 năm, hai năm đầu dành cho các môn học đại cương và kiến thức cơ bản, ba năm tiếp theo là thời gian dành cho các môn học chuyên ngành. Tổng thời lượng dành cho các môn học chuyên ngành trong 3 năm là 146 ĐVHT. Trong đó, bao gồm 53 ĐVHT là các môn học và đồ án chuyên ngành, khối lượng còn lại là các môn học cơ sở ngành.

Chương trình đào tạo của Trường Đại học Kiến trúc TPHCM có thời lượng ít hơn (150 TC) so với chương trình đào tạo của trường Đại học Kiến trúc Hà Nội (160) và trường Đại học Xây dựng (178). Hệ thống các môn học cơ sở và chuyên ngành nhìn chung tương đồng với chương trình đào tạo của Trường đại học Kiến trúc Hà Nội. Tuy nhiên, hệ thống đồ án chuyên ngành quy hoạch ít hơn (chỉ có 5 đồ án).
Chương trình đề xuất này cũng đã đề cập tới yêu cầu phù hợp với hệ thống luật pháp về xây dựng và phát triển đô thị của Việt Nam trong giai đoạn mới. Nội dung các môn học mới và các môn học điều chỉnh đã cập nhật được những yêu cầu của thực tiễn công tác quy hoạch và quản lý xây dựng đô thị. Chương trình đào tạo này có xu hướng đào tạo ra những sản phẩm là các “Nhà quy hoạch” có tầm nhìn rộng hơn, khái quát hơn là đào tạo ra những người làm công tác thiết kế quy hoạch như tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.

Quy hoạch chi tiết dọc hai bên sông Dakbla Tp Kon Tum
Quy hoạch chi tiết dọc hai bên sông Dakbla Tp Kon Tum

Mục tiêu xây dựng chương trình đào tạo KTS Quy hoạch
KTS quy hoạch sau khi ra trường phải có khả năng làm việc trong các lĩnh vực: Tư vấn lập đồ án Quy hoạch, thiết kế kiến trúc và quản lý quy hoạch xây dựng, giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kiến trúc quy hoạch.

Việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo KTS Quy hoạch đô thị và nông thôn cần đáp ứng các yêu cầu cho thời gian trước mắt cũng như tương lai lâu dài. Đó là:
– Khả năng lập các đồ án Quy hoạch xây dựng và thiết kế Kiến trúc. Đây là một tiêu chuẩn kép mà các nước khác không, hoặc ít đào tạo theo mô hình này;
– Đáp ứng nhu cầu về số lượng KTS quy hoạch: Đây là nhu cầu rất cấp thiết do sự thiếu hụt nghiêm trọng các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị, nhất là nhu cầu quy hoạch xây dựng nông thôn, với dân số nông dân nước ta chiếm hơn 80%.
– Đáp ứng tiêu chí nâng cao chất lượng: Do yêu cầu thực tiễn của quá trình phát triển, chất lượng đào tạo người làm quy hoạch đô thị, cũng như năng lực công tác của cán bộ khoa học kỹ thuật hoạt động trong lĩnh vực này cần phải được nâng cao, thường xuyên đựợc cập nhật nội dung của văn bản pháp luật, thông tư, nghị định của Nhà nước và các Bộ, ngành liên quan đến quy hoạch.
– Đáp ứng hội nhập quốc tế: Khả năng về đào tạo nguồn nhân lực của nước ta phải ngang bằng với các nước trong khu vực, năng lực làm việc của các KTS quy hoạch và các cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực này phải đáp ứng được những yêu cầu, những thách thức mà tiến trình hội nhập mang lại.
– Thời lượng đào tạo phải đáp ứng quy định chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bao gồm nội dung chương trình bắt buộc và các chương trình chuyên ngành. Tuy nhiên, xu hướng nên tinh giảm để thời lượng đào tạo hợp lý.
– Bổ sung thêm khối kiến thức về kinh tế học đô thị, văn hóa – xã hội, bất động sản và sự tham gia của cộng đồng trong công tác quy hoạch xây dựng.
– Chương trình đào tạo cần “linh hoạt” cung cấp kiến thức chuyên ngành, theo các giai đoạn từ thấp đến cao, từ kỹ năng thiết kế (Đại học) đến lập quy hoạch có tính vĩ mô (Thạc sĩ) và có khả năng liên kết đào tạo với một số trường đại học khác trên thế giới.

Báo cáo đồ án QH xây dựng  vùng tỉnh Quảng Ngãi
Báo cáo đồ án QH xây dựng vùng tỉnh Quảng Ngãi

Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo KTS quy hoạch:
1. Về nội dung và phương pháp lập quy hoạch hiện nay
Không gian đô thị phải có một quá trình phát triển cùng với kinh tế, văn hóa, công tác quản lý đầu tư,… Không gian đô thị sẽ vận động phát triển theo sự phát triển của Kinh tế – Xã hội, nhưng trong các đồ án của ta (theo các quy định hiện nay) có rất nhiều loại chỉ tiêu khống chế với khoảng thời gian đến 20 năm. Trong quá trình thực hiện có nhiều thay đổi về kinh tế, về nhu cầu của xã hội, của người dân, nên các chủ đầu tư (kể cả Nhà nước) cũng phải “xin” thay đổi gần hết về hình ảnh không gian quy hoạch đô thị trong các đồ án, như vậy tính khả thi về “thẩm mỹ đô thị”của các đồ án không còn.

Để quản lý quy hoạch xây dựng đô thị tốt hơn, hiệu quả hơn, các đồ án mang tính khả thi hơn, Nhà nước cần phải có một nghiên cứu đổi mới cơ bản trong các khâu lập, thẩm định, phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng theo nguyên lý “lạt mềm buộc chặt”. Nội dung quy hoạch nên theo hướng quy hoạch “cấu trúc” đô thị tức là “quy hoạch mềm” để quản lý chặt chẽ.Trong các loại đồ án cần yêu cầu một số khu vực cần thiết (khu vực trung tâm, các CT đầu mối,…) trong đô thị cần quy định các nội dung quy hoạch và thiết kế đô thị cụ thể, làm cơ sở quản lý nhất quán cho quá trình lâu dài.

2. Điều chỉnh nội dung chương trình và tuyển đầu vào đào tạo đại học:
Số lượng các môn học chuyên ngành quy hoạch của ta còn nhiều hơn so với các chương trình quốc tế. Tương quan giữa các thành phần kiến thức đại cương còn nhiều hơn so với kiến thức chuyên ngành. Bổ sung các môn tự chọn để tạo nên sự đa dạng cũng như tính đặc trưng riêng của từng trường. Hệ thống các môn học và đồ án cần cập nhật những thay đổi của xã hội và những tiến bộ khoa học của ngành Quy hoạch đô thị – nông thôn. Nghiên cứu sự tương đồng với chương trình đào tạo của các nước trên thế giới và khu vực, để có khả năng liên kết và hội nhập quốc tế.

Ở các nước phương Tây, KTS được đào tạo thuộc khối văn hóa – xã hội. Tại Việt Nam, KTS được đào tạo theo khối ngành Kỹ thuật. Đây cũng là một nguyên nhân khiến KTS thiếu hụt kiến thức kinh tế – xã hội. Chúng tôi đề xuất cơ quan Bộ chức năng nên điều chỉnh thay đổi các môn thi đầu vào ngành Kiến trúc và Quy hoạch; bổ sung môn Văn thay cho môn Vật lý. Đồng thời, cần thống nhất điều chỉnh hệ số cho điểm các môn thi giữa các trường có đào tạo KTS quy hoạch.

3. Bổ sung kiến thức về kinh tế, văn hóa và môi trường
KTS nói chung và KTS quy hoạch được đào tạo tại Việt Nam nói riêng đang thiếu kiến thức về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Các KTS hiện nay được đào tạo thiên về quy hoạch không gian “Vật thể”, cách làm quy hoạch là từ không gian thực trạng chuyển đổi thành không gian mới. Đó là cách tiếp cận duy lý và máy móc, coi trọng yếu tố vật chất nên đã hạn chế yếu tố con người, văn hóa, kinh tế, thể chế và môi trường đô thị nông thôn trong các đồ án quy hoạch, vì vậy tính khả thi của các đồ án quy hoạch không cao. Trong hành nghề, KTS quy hoạch cần học cách chuyển các nội dung “Phi vật thể” là (văn hóa và xã hội,…) thành không gian “vật thể” (tức là không gian đô thị). Với cơ sở nêu trên, chương trình mới sẽ được bổ sung thêm các môn học: Kinh tế đô thị, bất động sản, phát triển bền vững, sinh thái và môi trường đô thị.

4. Tăng khả năng thực hành quy hoạch
Việc học lý thuyết kết hợp với thực hành là đặc biệt quan trọng đối với SV ngành quy hoạch xây dựng. SV ngành quy hoạch cần tiếp cận thực tiễn thông qua các bài tập nhóm thực hành (workshop), tổ chức các chuyến đi tới khu vực nghiên cứu (study visit) để đánh giá phân tích vấn đề, tiếp cận với chính quyền địa phương, người dân,… Do đó, khi tốt nghiệp, SV tiếp cận ngay được các vấn đề về kỹ năng cơ bản, và chủ động trong công việc.

Bên cạnh đó, việc tạo cơ hội thực hành, nghiên cứu thiết kế các công việc thực tiễn, tham gia các cuộc thi chuyên ngành, hội thảo trong nước và quốc tế…, cũng sẽ góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng đào tạo KTS Quy hoạch.

5. Khả năng phân tích và trình bày trong quy hoạch
– Trang bị cho SV quy hoạch phương pháp luận trong việc so sánh lựa chọn, áp dụng các phương pháp định tính, định lượng trong quá trình phân tích và đánh giá.
– Khả năng dự báo phát triển, có tầm nhìn dài hạn, ngắn hạn, kết nối các xu hướng và chương trình phát triển của đô thị.
– Trang bị cho SV quy hoạch phương pháp, kỹ năng viết văn bản, đề tài khoa học và khả năng về thuật hùng biện (Rhetoric), để trình bày những ý tưởng giải pháp quy hoạch khi trình bày và báo cáo đồ án.

6. Phương thức đào tạo KTS quy hoạch
Với yêu cầu hiện tại và tương lai gần của Việt Nam, việc đào tạo KTS quy hoạch nên phân làm hai giai đoạn: Giai đoạn một, đào tạo chung cho các KTS ra trường, trang bị cho kỹ năng làm việc thiết kế kỹ thuật học 3-4 năm; Giai đoạn hai, 2-3 năm đào tạo cho các KTS có khả năng sáng tạo ý tưởng (khoảng 15-20% số sinh viên tốt nghiệp giai đoạn 1) sau khi tốt nghiệp ra trường là Thạc sĩ đạt yêu cầu là Nhà quy hoạch (Planner) hay (Urbanist) chủ yếu thiết lập các ý tưởng quy hoạch. Phương thức đào tạo chia giai đoạn như vây sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền của cả gia đình và của xã hội. Đây là ý tưởng ban đầu, cần phải có khảo sát nghiên cứu cụ thể mới đánh giá được hiệu quả.

7. Cải thiện tiện nghi học tập và giảng dạy
Hiện nay, diện tích học tập quá chật chội so với quy mô đào tạo sinh viên quy hoạch, các buổi học đồ án của SV thường xuyên bị quá tải, thiếu chỗ học tập cũng như làm việc cho các giáo viên, và chủ nhiêm các bộ môn. Do đó, thời gian cho các cán bộ giảng viên tại trường rất hạn chế, dẫn đến hạn chế việc giao lưu, tiếp cận thông tin và hợp tác giữa các giảng viên, SV.

Các phòng học đồ án thiếu tiện nghi báo cáo trình chiếu. Để nâng cao chất lượng nghiên cứu cũng như áp dụng phương pháp đào tạo và học tập tiên tiến, việc sử dụng báo cáo trình chiếu powerpoint là hết sức quan trọng, giúp hạn chế thời gian và kinh phí cho công tác chuẩn bị đồ án, đồng thời nâng cao được chất lượng nghiên cứu thiết kế.

Nhìn chung, việc học của SV quy hoạch còn nặng về lý thuyết mà thiếu những điều kiện thực hành do những điều kiện khách quan và chủ quan. Chính vì vậy, sau khi tốt nghiệp, gặp rất nhiều khó khăn trong cách tiếp cận những công việc thực tiễn.

Kết luận:
Tổng hợp, đánh giá nội dung và phương pháp đào tạo KTS quy hoạch trên thế giới, tìm hiểu các yêu cầu đối với nguồn nhân lực KTS quy hoạch tại Việt Nam, phân tích một số khía cạnh khoa học trong việc nâng cao chất lượng đào tạo KTS. Đây là cơ sở nền tảng cho những đề xuất giải pháp nâng cao năng lực đào tạo KTS quy hoạch tại các Trường Đại học có đào tạo KTS quy hoạch tại Việt Nam. Một số đề xuất trên đây chỉ là một phần trong những công việc cần quan tâm trong nội dung xây dựng đổi mới chương trình đào tạo KTS quy hoạch.

Để đáp ứng được nhiệm vụ yêu cầu của xã hội đối với đào tạo KTS quy hoạch, về lâu dài cần quan tâm đến các vấn đề như: Nhà nước cần nghiên cứu đổi mới công tác lập, thẩm định, phê duyệt các đồ án quy hoạch; Nhà trường cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy, hoàn thiện hệ thống nội dung các môn học, phát triển các môn học chuyên sâu, chuyên ngành, cải thiện cơ sở vật chất cho đào tạo, hoàn thiện các tiêu chí tuyển sinh đầu vào chuyên ngành quy hoạch,…

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quy hoạch xây dựng đô thị và Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Chính phủ, Bộ Xây dựng đã chỉ đạo các Trường Đại học thực hiện việc nâng cao năng lực đào tạo quy hoạch đô thị gắn kết các khâu từ đào tạo – nghiên cứu – triển khai trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị. Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã và tiếp tục nghiên cứu đề xuất cải tiến chương trình đào tạo KTS quy hoạch (Theo chương trình dự án của Bộ Xây Dựng năm 2014-2015), nhằm phấn đấu trong những năm tới Việt Nam nói chung và Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội nói riêng sẽ là một địa chỉ đào tạo nhân lực quy hoạch có uy tín và đạt trình độ ngang tầm với các nước phát triển trong khu vực.


Tài liệu tham khảo:
– Đề tài cải tiến Chương trình đào tạo Đại học ngành quy hoạch đô thị và nông thôn – Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội năm 2007.
– Kỷ yếu hội thảo khoa học: Đô thị và quy hoạch vấn đề và giải pháp – Hà Nội năm 2004 – Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam.
– Chương trình đào tạo của trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Xây dựng.
– Một số bài viết của Giảng viên khoa Quy hoạch, trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.

TS. KTS Nguyễn Xuân Hinh
Trưởng Khoa Quy hoạch Đô thị và Nông thôn