Khám phá 5 công trình di sản trên “Giao lộ sáng tạo”

Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2024 đã khép lại, nhưng có lẽ dư âm sẽ vẫn còn đọng lại rất lâu trong lòng những nghệ sỹ tham gia và công chúng. Bên cạnh những hoạt động sáng tạo, thì một điểm nhấn được chú ý và thu hút chính là những công trình trên “Giao lộ sáng tạo”, được tôn vinh qua lễ hội. Những công trình này được thiết kế và xây dựng qua nhiều thời kỳ, có chức năng và hình thức kiến trúc khác nhau, nhưng đều xứng đáng là di sản đô thị, bền vững cùng năm tháng, và là những dấu son trên bản đồ kiến trúc của thủ đô Hà Nội. Thông qua Lễ hội Thiết kế sáng tạo, những công trình này (5 công trình) đã tỏa sáng, để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Hà Nội.

Từ ngày 09-17/11/2024, Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2024 với chủ đề “Giao lộ sáng tạo” đã diễn ra với các hoạt động sáng tạo tại các không gian di sản kiến trúc – văn hóa, các làng nghề truyền thống của TP Hà Nội. Đây là sự kiện lần thứ tư được tổ chức (lần đầu là năm 2021).

Trong lễ hội năm nay, lần đầu tiên Ban tổ chức giới thiệu một hình thức trải nghiệm mới hướng đến công chúng tham gia, đó là bố trí không gian lễ hội theo tuyến, giúp khai mở những giao điểm sáng tạo xuyên lịch sử và đa thế hệ, gắn chặt với các công trình kiến trúc di sản đặc sắc có tính biểu tượng của Hà Nội. Khu vực chính của Lễ hội Thiết kế sáng tạo năm 2024 là tuyến trải nghiệm sáng tạo với điểm trung tâm là Quảng trường Cách mạng Tháng Tám (đảo giao thông trước Nhà hát Lớn) với 2 trục Đông – Tây (dốc Bác Cổ – phố Tràng Tiền), và trục Bắc – Nam (phố Lý Thái Tổ – phố Lê Thánh Tông), gồm 5 công trình kiến trúc: Nhà hát Lớn, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bắc Bộ phủ, ĐH Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (19 Lê Thánh Tông), Cung Thiếu nhi Hà Nội; các vườn hoa trên các tuyến phố Phan Chu Trinh, Lý Thường Kiệt và các địa điểm cộng hưởng sáng tạo trở thành không gian của văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo. Tuyến tham qua di sản kiến trúc này tạo nên sức hút rất lớn; với rất nhiều hoạt động triển lãm, hòa nhạc, chiếu phim, hội thảo, tọa đàm… cũng được tổ chức ở đây. Trong đó có những công trình lần đầu mở cửa cho công chúng vào tham quan. Chúng ta hãy cùng chiêm ngưỡng và khám phá 5 công trình này trên “Giao lộ sáng tạo”.

1 – Nhà hát Lớn Hà Nội

Nhà hát Lớn Hà Nội nằm trên quảng trường Cách mạng Tháng Tám, có địa chỉ tại số 1A phố Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội; là một công trình kiến trúc cổ được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Đây là công trình biểu diễn quy mô lớn nhất và đẹp nhất của thủ đô, được coi là thánh đường nghệ thuật của Hà Nội và là một di sản kiến trúc đô thị quý giá.

Nhà hát Lớn Hà Nội được xây dựng từ năm 1901 và hoàn thành năm 1911, do hai KTS người Pháp là Harlay và Broyer thiết kế, dựa trên mẫu nhà hát Opéra Garnier ở Paris nhưng mang tầm vóc nhỏ hơn và sử dụng các vật liệu phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương. Đây là một công trình văn hóa được xây dựng chủ yếu để phục vụ người Pháp và số ít người Việt thượng lưu ở Hà Nội, cũng là để tạo ảnh hưởng, truyền bá văn hóa nghệ thuật phương Tây ở Đông Dương vào đầu thế kỷ 20.

Công trình có diện tích xây dựng 2.600m2, với chiều rộng 30m, chiều dài 87m, chiều cao tới đỉnh mái cao nhất là 34m. Mặt tiền công trình hướng ra một giao lộ lớn của 6 con phố – nay là quảng trường Cách mạng Tháng Tám, thẳng trục phố Tràng Tiền. Chính vì vậy, công trình có một địa thế rất đẹp tạo nên điểm nhấn đô thị. Bố cục mặt bằng nhà hát có 3 phần chính: Phía ngoài là phần bậc thềm, hàng hiên, sảnh đón; từ sảnh đi lên một cầu thang hình chữ T sẽ tới khán phòng; phía sau nhà hát là phòng quản trị, mười tám buồng cho diễn viên hóa trang, hai phòng tập hát, thư viện và phòng họp. Mặt bằng không gian khán phòng có hình móng ngựa với kích thước 24x24m, có 3 tầng ghế ngồi với tổng số 870 ghế, trong đó, tầng trên cùng được bố trí thành những ban công riêng dành cho nhóm khách VIP hay gia đình. Ở tầng 2 phía trước nhà hát có phòng khánh tiết, hay còn được gọi là phòng gương vì có những tấm gương treo xen kẽ với các ô cửa. Đây là nơi thường được tổ chức họp báo, tiếp đón khách quý và những nhân vật cao cấp, diễn ra những sự kiện, nghi lễ quan trọng.

Về hình thức kiến trúc, công trình Nhà hát Lớn mang màu sắc chiết trung, tổng hòa nhiều phong cách, như hàng cột theo thức Ionic của La Mã, các đường nét của ban công, vòm cửa, điêu khắc mang tính Baroque, phần sảnh hiên ở bên lại có phong cách Art Nouveau… Nhưng tổng hòa, công trình có phong cách Tân cổ điển chủ đạo, với bố cục đăng đối, hình thức trang trí tiêu biểu và đặc biệt là bộ mái kiểu Mansard lợp ngói đá đen.

Ở phòng gương Nhà hát Lớn hiện giờ vẫn lưu giữ một tấm gương có vết đạn bắn thủng. Đó là vết đạn trong cuộc chiến Hà Nội mùa đông tháng 12/1946 của quân và dân Hà Nội chống thực dân Pháp; bảo vệ thủ đô trước khi rút lên chiến khu. Đây được coi là một dấu tích lịch sử đặc biệt của Nhà hát Lớn.

Trong hơn 100 năm tồn tại, Nhà hát Lớn Hà Nội đã trải qua nhiều lần trùng tu. Lần gần đây nhất là từ năm 1995 đến 1997. Trong lần trùng tu này, công trình được hiện đại hóa nhiều hạng mục kỹ thuật như hệ thống âm thanh, ánh sáng, hệ thống điều hòa không khí… Nội thất khán phòng cũng được cải tạo lại, chỉ còn 598 ghế. Các hạng mục lát sàn, đèn chiếu sáng, trang trí trần, tường… được phục chế theo tinh thần giữ nguyên bản.

Khán phòng Nhà hát Lớn

2 – Bảo tàng Louis Finot (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia có địa chỉ tại số 1 phố Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tiền thân của công trình là Bảo tàng Louis Finot. Đây là một dự án trong hoạt động của Viện Viễn Đông Bác Cổ đầu thế kỷ 20. Viện Viễn Đông Bác Cổ (École Française d’Extrême-Orient, viết tắt EFEO) là một trung tâm nghiên cứu của Pháp về Đông Phương học ở Đông Dương, được thành lập năm 1900 ở Sài Gòn, tới 1902 chuyển ra Hà Nội. Công trình do người Pháp xây dựng từ năm 1926 tới 1932 thì hoàn thành, và mang tên vị giám đốc đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác Cổ là Louis Finot (1864-1935). Ông là một nhà khảo cổ, nhà văn hóa có nhiều công đóng góp nghiên cứu cho lịch sử và văn minh Đông Dương. Sau những biến thiên chính trị ở thế kỷ 20, người Pháp dần rút khỏi Đông Dương, trong đó có cả giới khoa học. Năm 1958 người Pháp bàn giao công trình bảo tàng này cho chính quyền cách mạng mới. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (sau là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) được thành lập ngày 03/9/1958 trên cơ sở kế thừa Bảo tàng Louis Finot trước đó.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là một công trình kiến trúc độc đáo, do các KTS C.Batteur và E.Hébrard thiết kế năm 1925. Đây là một đại diện tiêu biểu của phong cách kiến trúc Đông Dương – được chắt lọc từ những tinh túy kiến trúc cổ điển Pháp và kiến trúc truyền thống Việt Nam. Phong cách kiến trúc Đông Dương không chỉ là sự kết hợp hài hòa về hình thức Đông – Tây, mà còn ghi đậm dấu ấn văn hóa, khí hậu, vật liệu, tạo nên một hình thái kiến trúc mới mẻ, tinh tế và quyến rũ, phù hợp văn hóa và các giá trị tinh thần bản địa.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia góc nhìn từ phía Tây Nam cho thấy sự kết nối rất uyển chuyển giữa khối sảnh và khối nhà dài trưng bày

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia nằm phía sau Nhà hát Lớn Hà Nội, chạy dài theo con đường dọc bờ đê và mở ra 3 mặt phố, là một điểm nhấn quan trọng trong không gian đô thị. Công trình có quy mô 3 tầng với một tầng trệt là nhà kho, phòng chuyên môn, hành chính…; hai tầng trên là không gian trưng bày; tầng trệt cũng có ý nghĩa cách ẩm cho tầng trưng bày phía trên. Điểm nhấn của công trình là khối sảnh hình bát giác vươn cao với ba tầng mái ngói. Khối bát giác này có kích thước mỗi cạnh lên tới 11m và có đường dẫn cho ô tô vào dưới mái sảnh. Giữa các tầng mái là hệ thống cửa lấy sáng và thông gió, các tầng mái được đua ra được nâng đỡ bằng hệ thống console đậm dấu ấn kiến trúc truyền thống. Ở khối nhà dài, kiến trúc được tạo hình ấn tượng với 2 tầng mái ngói trên cùng, những tầng mái phụ giữa tầng tạo nên kiểu kiến trúc chồng diêm truyền thống.

Khối kiến trúc tiền sảnh và sảnh chính của công trình

Có thể nói, công trình Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là một đại diện kiến trúc Đông Dương tuyệt mỹ, tiêu biểu; qua gần một thế kỷ vẫn rạng ngời và tỏa sáng; và xuyên suốt thời gian vẫn giữ chức năng ban đầu là bảo tàng.

3 – Bắc Bộ Phủ (nay là Nhà khách Chính phủ)

Tòa nhà Bắc Bộ Phủ (nay là Nhà khách Chính phủ) tọa lạc tại số 12 phố Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm Hà Nội. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, trong công cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam, người Pháp đã khởi công xây dựng hàng loạt khu phố mới cùng nhiều công trình văn hóa, dân sinh, quân sự tại Hà Nội, nhằm khẳng định dấu ấn của chính quyền thực dân tại các nước thuộc địa. Năm 1918, họ xây dựng dinh thự Thống sứ Bắc Kỳ tại ngã tư giữa đại lộ Henri Rivière (nay là phố Ngô Quyền) và phố Chavassieux (nay là phố Lê Thạch). Khu vực xây dựng nằm trên phần đất cũ của chùa Báo Ân.
Thời thuộc Pháp tòa nhà này là Dinh Thống sứ Bắc Kỳ. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945) tòa nhà được đổi thành Phủ Khâm sai Bắc Kỳ. Trong Cách mạng Tháng Tám, ngày tổng khởi nghĩa ở Hà Nội (ngày 19 tháng 8 năm 1945), lực lượng Việt Minh cùng nhân dân Hà Nội đã tiến công và chiếm giữ tòa nhà này. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời Việt nam Dân chủ Cộng hòa về làm việc tại đây cho đến ngày toàn quốc kháng chiến. Trong thời gian này tòa nhà được đổi tên thành Bắc Bộ phủ.

Mở đầu Toàn quốc kháng chiến, ngày 20/12/1946 tại đây đã nổ ra một trận đánh giữa một đại đội Vệ quốc đoàn bảo vệ Bắc Bộ phủ và quân Pháp có xe tăng hỗ trợ. Đây là trận đánh ác liệt nhất và kéo dài nhất trong những ngày đầu của Chiến tranh Đông Dương.

Kết thúc chiến tranh Đông Dương (1954), Bắc Bộ phủ được tu sửa lại và trở thành một bộ phận Nhà khách của Chủ tịch phủ, do Phòng chiêu đãi Vụ Lễ tân Bộ Ngoại giao điều hành. Từ năm 1957 đến nay, công trình là Nhà khách Chính phủ cho do Bộ Ngoại giao phụ trách, quản lý.

Dinh Thống sứ Bắc Kỳ (tên ban đầu) được xây dựng năm 1918 và hoàn thành năm 1919, tác giả là KTS Auguste Henri Vildieu (Pháp). Công trình nằm ở một vị trí đắc địa, trong không gian đô thị và có nhiều điểm nhìn đẹp. Đặc biệt phía trước là một công viên nhỏ là Vườn hoa Diên Hồng hay dân gian vẫn gọi là vườn hoa Con Cóc vì có đài phun nước có tượng điêu khắc con cóc. Tòa nhà có quy mô ba tầng (1 tầng bán hầm, 2 tầng nổi) với bố cục đăng đối trải dài trên mặt đứng, theo phong cách kiến trúc Beaux arts đang thịnh hành ở châu Âu thời bấy giờ. Phần giữa là khối sảnh được nhấn mạnh bởi tam giác trên mặt đứng và khối mái nhô lên lợp ngói ardoise. Đặc biệt phần mái sảnh được làm bằng kết cấu thép với hình thức hết sức độc đáo với 3 cánh mái hướng lên trên về 3 phía. Các ô cửa sổ tầng trệt được cuốn vòm, tầng lầu cửa vuông. Ở 4 góc nhà, trên mỗi mặt tường có một cặp cột giả với đầu cột theo thức Ionic. Phía trước công trình là lối dốc hai bên cho xe lên xuyên qua mái sảnh. Trên tường, diềm mái và tường mái là những hoa văn trang trí đậm nét cổ điển châu Âu… Về công năng, tầng hầm là kho chứa và các phòng phục vụ. Tầng trệt có các phòng khách lớn, nhỏ, phòng tiếp tân, phòng đợi, phòng làm việc, phòng ăn và khu giải trí. Tầng lầu là phòng họp lớn của hội đồng Bắc Kỳ và các phòng nghi lễ với đầy đủ tiện nghi.

Hơn 100 năm tồn tại, tòa nhà đã chứng kiến biết bao thăng trầm của Thủ đô Hà Nội. Hiện tại công trình Bắc Bộ Phủ, nay là Nhà khách Chính phủ vẫn tỏa sáng như một điểm nhấn kiến trúc đô thị và hơn thế nữa, ghi dấu ấn lịch sử của những năm tháng chiến đấu hào hùng của quân và dân Hà Nội.

4 – Viện Đại học Đông Dương (nay là Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội)

Công trình Viện ĐH Đông Dương có địa chỉ tại số 19 phố Lê Thánh Tông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngược dòng lịch sử, ngày 16/5/1906, Toàn quyền Đông Dương Paul Beau – đã theo đề nghị của Hội đồng Phát triển Giáo dục Bản xứ – đã ký ban hành nghị định số 1514a thành lập Viện ĐH Đông Dương trên cơ sở một số cơ sở giáo dục đã có sẵn và có mở rộng. Nghị định này có một tầm quan trọng đặc biệt vì nó chính là văn bản khai sinh ra trường ĐH đầu tiên theo mô hình của Pháp tại Đông Dương.

Theo Nghị định số 1514a ngày 16/5/1906, trường ĐH Đông Dương được tổ chức bởi 5 trường thành viên, đó là các trường: Trường Cao đẳng Luật và Pháp chính, Cao đẳng Khoa học, Cao đẳng Y khoa, Cao đẳng Xây dựng dân dụng, Cao đẳng Văn chương. Viện ĐH này vừa có chức năng đào tạo vừa có chức năng nghiên cứu. Đây là một cơ sở giáo dục công lập với kinh phí do chính quyền Liên bang Đông Dương cấp. Ban đầu Viện ĐH nằm dưới sự quản lý trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương và dưới sự điều hành của một hội đồng quản trị. Tuy nhiên sau đó, nó được giao cho Tổng Giám đốc Nha Học chính Đông Dương quản lý và Hội đồng hoàn thiện Viện ĐH điều hành.

Thời gian đầu, việc giảng dạy và học tập của các giảng viên và sinh viên Viện ĐH Đông Dương được tiến hành ở nhiều cơ sở khác nhau. Và sau đó, vì nhiều nguyên nhân, Viện đã giải thể rồi lại tái khai giảng vào năm 1917. Tòa nhà chính của Viện ĐH Đông Dương được khởi công xây dựng (tại địa chỉ phố Lê Thánh Tông ngày nay) vào năm 1921. Ban đầu, nó được xây theo thiết kế của các KTS Charles Lacollonge và Paul Sabrié với lối kiến trúc Tân cổ điển. Tuy nhiên, vào năm 1922, trong lúc việc xây móng và chân công trình này với gần 2.000 cọc gỗ lim đang hoàn thành, KTS Ernest Hébrard đã tiếp quản công việc rồi cho tạm dừng việc thi công. Hébrard là người đưa ra chỉ đạo thay đổi lối kiến trúc, trong đó đưa các yếu tố Á Đông vào công trình và thai nghén kiểu phong cách mới, được gọi là phong cách kiến trúc Đông Dương. Và khi hoàn thành vào năm 1926, nó là một đại diện tiêu biểu của phong cách kiến trúc Đông Dương khi đó.

Tòa nhà chính của Viện ĐH Đông Dương cao ba tầng, nằm quay mặt ra phố, có kiến trúc đăng đối, nghiêm cẩn với khối sảnh được nhấn mạnh ở giữa cao hơn 1 tầng. Khối sảnh có 2 tầng mái ngói, các cửa sổ ở hai bên cũng có ô văng mái ngói đậm nét Á Đông. Từ hè phố phải qua một thềm cấp cao 10 bậc mới tới cửa sảnh. Cửa sảnh được cuốn vòm với những hoa sắt rất độc đáo kết hợp với kính. Điều khác thường là mặt chính quay ra đường chỉ có bậc cấp cho người đi bộ, còn xe lại đi vào sân trong theo lối sảnh sau, có đường dốc đi vào dưới mái sảnh. Các hoa văn trên tường kết hợp cả yếu tố phương Tây và Á Đông. Sảnh chính bên trong tòa nhà là một không gian ấn tượng vút cao lên tới mái vòm với những cột đôi kiểu cổ điển phương Tây chống đỡ. Các chi tiết kiến trúc và hoa văn vẽ trên tường được thực hiện cầu kỳ, tỉ mỹ và giàu thẩm mỹ.

Bên cạnh kiến trúc mang phong cách Đông Dương giàu mỹ cảm, tòa nhà còn đặc biệt bởi bức tranh tường lớn nằm trong Hội trường Ngụy Như Kon Tum (hiệu trưởng đầu tiên của trường ĐH Tổng hợp – hậu thân của Trường ĐH Đông Dương) nằm bên trái sảnh chính. Bức tranh được vẽ trên nền tường cong lõm dài 11m và cao 7m, do họa sỹ Victor Tardieu – hiệu trưởng đầu tiên của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cùng các cộng sự thực hiện từ năm 1921-1927. Bức bích họa có diện tích 77m2 tái hiện khung cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20 với hơn 200 nhân vật cả người Việt và người Pháp xuất hiện trong tranh. Qua thời gian và những biến động của lịch sử, bức họa nguyên gốc đã bị hủy hoại; và tới năm 2006 – nhân kỷ niệm 100 năm thành lập Viện ĐH Đông Dương, bức tranh tường đã được phục chế theo nguyên gốc.
Tòa nhà 19 Lê Thánh Tông từ năm 1956 là cơ sở khoa Hóa, Sinh của ĐH Tổng hợp Hà Nội và nay là cơ sở của Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc gia Hà Nội. Nếu coi Nhà hát Lớn là thánh đường của nghệ thuật thì tòa kiến trúc này cũng được coi là thánh đường của tri thức với niềm tự hào hơn một trăm năm lịch sử!

5 – Cung thiếu nhi Hà Nội

Cung thiếu nhi Hà Nội có địa chỉ tại số 36-38 phố Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đây là một quần thể nhiều công trình được xây dựng trên khu đất rộng 1,2ha. Thời Pháp thuộc, nơi này được gọi là Ấu Trĩ Viên (vườn trẻ), trong khuôn viên có một công trình kiến trúc Pháp cao hai tầng. Đây là nơi vui chơi của con em các gia đình giàu có, quan chức người Pháp trong chính quyền Hà Nội thời thuộc địa. Từ ngày tiếp quản thủ đô (1954), nơi đây trở thành CLB thiếu niên và cái tên Ấu Trĩ Viên vẫn được sử dụng để gọi, cho đến khi nước bạn Tiệp Khắc (cũ) tài trợ xây cung thiếu nhi mới. Dự án Cung thiếu nhi là một dự án đặc biệt bởi đây là công trình đầu tiên dành cho thiếu nhi ở miền Bắc Việt Nam, khi vẫn còn trong thời kỳ chiến tranh; thể hiện một sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với các thế hệ tương lai, một quan điểm hết sức nhân văn.

Cung Thiếu nhi Hà Nội được thiết kế vào năm 1974, tác giả là KTS Lê Văn Lân. Ông cũng chính là tổng công trình sư trực tiếp chỉ đạo thi công. Công trình được hoàn thành xây dựng năm 1976 và chính thức hoạt động vào 19/02/1977. Quần thể công trình gồm 3 khối kiến trúc: Khối hành chính (tòa nhà Pháp cổ đã có sẵn trên khu đất), Khối nhà chức năng 5 tầng (dành cho các lớp học, các CLB, tổng diện tích sàn 7000m2), Nhà hát 520 chỗ (rạp Khăn quàng đỏ).

Mặc dù được ra đời trong hoàn cảnh rất khó khăn, đất nước vẫn còn chiến tranh, kinh tế nói chung và ngành xây dựng vẫn còn non trẻ, nhiều hạn chế, nhưng công trình Cung Thiếu Nhi là một tác phẩm kiến trúc xuất sắc mang nhãn hiệu “Made in Việt Nam” – hoàn toàn do con người Việt Nam thiết kế và thi công xây dựng. Công trình là sự “tự khẳng định” của nền kiến trúc hiện đại Việt Nam, là một tuyên ngôn kiến trúc hiện đại và giàu bản sắc.

Tổng thể 3 khối kiến trúc công trình cũ và mới, cao tầng và thấp tầng được thiết kế kết nối hài hòa và khoa học, tạo sự liên hoàn trong bố cục kiến trúc, kết hợp với các khoảng sân cho hoạt động ngoài trời và cây xanh. Trong đó, khối nhà học tập là kiến trúc chủ đạo, cao 6 tầng và là bộ mặt cũng như hình ảnh biểu tượng của Cung Thiếu nhi. Ngôn ngữ hình khối của công trình hiện đại, đơn giản, bố cục chặt chẽ, thoát ly hoàn toàn khỏi ngôn ngữ kiến trúc thuộc địa Pháp cổ, hay những xu hướng kiến trúc trước đó. Công trình gần như để thoáng nhiều ở tầng trệt, đưa không gian bên ngoài vào sảnh chính rộng rãi; những cầu thang lớn ngoài trời dẫn lên một sảnh rộng ở lầu 1 không có tường bao che, tạo ra những không gian vui chơi dạng terrace vừa trong nhà (in-door) vừa ngoài trời (out-door) cho trẻ em, vô cùng thú vị và cuốn hút. Mặt chính tòa nhà 6 tầng được sử dụng giải pháp “double skin” – hai lớp mặt tiền với mảng gạch hoa bê tông lớn, phù hợp khí hậu và tạo nên hình ảnh ấn tượng. Tòa nhà này cũng là công trình đầu tiên ở Hà Nội được lắp đặt thang máy.

Về hạng mục Rạp Khăn quàng đỏ – cũng là một kiến trúc đáng để nhắc đến. Đây là nhà hát được thiết kế tỉ mỉ và phức tạp nhất miền Bắc thời bấy giờ với 520 ghế, với nhiều hạng mục kỹ thuật, trang thiết bị phức tạp, đặc biệt chưa từng có như hệ thống chiếu sáng hiện đại, hố nhạc có sàn nâng… và đặc biệt có hầm trú ẩn tránh bom.

Công trình Cung Thiếu nhi Hà Nội có thể coi là một tác phẩm xuất sắc của kiến trúc Việt Nam thời kỳ xây dựng XHCN ở miền Bắc nói riêng và là di sản kiến trúc hiện đại Việt Nam nói chung. Gần 50 năm qua, nơi đây là địa chỉ yêu thương, là ngôi nhà chung đầy ắp kỷ niệm của bao thế hệ tuổi thơ đã từng gắn bó và trưởng thành. Và hình ảnh công trình cũng là một dấu ấn kiến trúc đô thị phản ánh rõ nét một thời kỳ lịch sử.

Hà Thành
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2024)