Đà Nẵng xưa và nay: Dấu ấn từ những công trình nghệ thuật cũ

Ủy ban Thành phố Đà Nẵng ngày hôm nay (Tòa Đốc lý hay Tòa Thị chính ngày xưa). Nguồn: Tài liệu của tác giả
Ủy ban Thành phố Đà Nẵng ngày hôm nay (Tòa Đốc lý hay Tòa Thị chính ngày xưa). Nguồn: Tài liệu của tác giả

Tại thành phố Đà Nẵng, có những toà nhà cổ được xây dựng với hình thức kiến trúc phương Tây, cũng có những công trình đậm nét mộc mạc mang âm hưởng của thời kỳ đổi mới. Đó là minh chứng rõ nhất của đô thị Đà Nẵng trong giai đoạn chuyển đổi từ thiết chế thuộc địa Pháp sang một quốc gia độc lập. Từ khi thành phố thực sự chuyển mình trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, khu dân cư và các công trình công thự mới đã được mọc lên, các ngôi biệt thự cổ dần biến mất, những công trình công cộng còn lại khiêm tốn nép mình bên cạnh các tòa nhà hiện đại, cao vút… Điều này khiến người ta hoài nghi về tương lai và lý do tồn tại của những công trình cổ còn sót lại này. Đối với người dân Đà Nẵng, một số xem chúng là những công trình lỗi thời, một số khác lại tìm thấy những nét đẹp duyên dáng trường tồn, đánh dấu các giai đoạn phát triển của thành phố.Tuy nhiên, người ta không hề nghi ngờ về giá trị lịch sử và giá trị di sản của chúng, đặc biệt khi các giá trị này phục vụ nhu cầu du lịch.
Thật may mắn, một số tòa nhà phục vụ mục đích công cộng vẫn được giữ gìn, sử dụng cẩn thận và hầu như chưa có sự thay đổi lớn nào. Điều này cho thấy sự quan tâm của chính quyền thành phố đến việc bảo tồn các di sản kiến trúc đặc trưng cho một thời kỳ đã qua. Thực tế đã có những công trình nghiên cứu của các cơ quan chức năng kiểm chứng cho thấy có một số các công trình có giá trị nổi trội, có khả năng trở thành những công trình nghệ thuật như: Bảo tàng điêu khắc Chăm hoặc Tòa nhà UBND thành phố.

Bảo tàng Chăm được xếp hạng Nhất Cấp quốc gia và cũng là bảo tàng Chăm Pa duy nhất trên thế giới (nguồn: tài liệu của Tác giả)
Bảo tàng Chăm được xếp hạng Nhất Cấp quốc gia và cũng là bảo tàng Chăm Pa duy nhất trên thế giới (nguồn: tài liệu của Tác giả)

Hà Nội hay TP HCM là các thành phố còn nhiều công trình kiến trúc thuộc địa có giá trị. Chúng ta có thể tìm thấy hồ sơ các bản vẽ của chúng tại Trung tâm lưu trữ quốc gia. Tuyệt nhiên tại Đà Nẵng, chúng tôi chưa thể tìm thấy bất cứ tài liệu nào về những công trình kiến trúc thuộc địa có liên quan. Do đó, nguồn tham khảo chính chủ yếu dựa trên các bản vẽ ghi từ các đề tài nghiên cứu đã thực hiện
Khoảng cuối thế kỷ 19 cho đến những năm đầu thế kỷ 20, Đà Nẵng ở giai đoạn thuộc Pháp với danh nghĩa “Khu nhượng địa” tên gọi là Tourane, việc thiết kế quy hoạch thành phố được tiến hành theo chức năng và mô hình phương Tây. Đường Bạch Đằng (Quai Courbet) được hình thành đầu tiên, những công trình công quyền bắt đầu được xây dựng trên tuyến đường này là: Tòa Đốc Lý, Ty kiểm toán thuế (1907), Tòa án, Nhà dây thép (1907-1908), Ty hành thu quan thuế (1907), Sở Quan thuế và công quản Trung Kỳ (1907), Phòng thương mại Đà Nẵng (1903)…. Cùng với việc phát triển mạng lưới đường phố, các công trình kiến trúc công cộng, dân dụng, tôn giáo cũng được xây dựng vào khoảng thời gian từ 1888 đến 1920 theo các khuôn mẫu kiến trúc cổ điển Pháp lúc bấy giờ. Hầu hết chúng tọa lạc tại các vị trí thuận lợi dọc theo đường Bạch Đằng, Trần Phú (Rue de Musée), Phan Châu Trinh, Lê Lợi (Marc Pourpe).
Tòa Thị Chính (1898-1900) là công trình có vai trò quan trọng bậc nhất về thể chế chính trị, sự hiện diện của nó được xem là dấu mốc xác định vị trí xuất phát điểm đầu tiên của thành phố. Công trình được thiết kế theo phong cách Tân Cổ điển với hình thức đối xứng đơn giản. Tọa lạc trên vị trí chiến lược của tuyến đường Bạch Đằng, mặt đứng tòa nhà hướng thẳng ra bờ sông Hàn với một không gian thoáng đãng phía trước. Đây là một công trình mang tính đại diện trong một giai đoạn phát triển của thành phố.
Nếu như Tòa Đốc lý được người Pháp quy hoạch để đánh dấu vị trí quan trọng đầu tiên của đô thị Đà Nẵng thì Bảo tàng Chăm (1915-1919) lại được ấn định vị trí quan trọng khi chiếm lĩnh ở điểm kết thúc của đường Trần Phú (Avenue du Musée). Hiện nay, đây là nơi giao nhau của bốn tuyến đường đẹp nhất thành phố. Được truyền cảm hứng từ KTS tài ba Henri Parmentier, công trình là sự kết hợp hài hòa giữa phong cách kiến trúc Cổ điển với những đường nét kiến trúc Chăm. Đây cũng là minh chứng rõ nét nhất cho thấy sự ảnh hưởng của kiến trúc bản địa đến các thiết kế ngoại lai.
Đà Nẵng còn có các công trình kiến trúc thuộc địa khác đã từng được chính quyền sử dụng cho mục đích công sở như: Cơ quan đại diện Bộ Thông tin và Truyền thông (42 Trần Quốc Toản), Công ty cổ phần cung ứng tàu biển (34 Bạch Đằng), Sở Tư pháp thành phố (16 Bạch Đằng), Tòa án phúc thẩm (32 Bạch Đằng), Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (70 Bạch Đằng), Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố (01 Pasteur), Hội Nông dân thành phố (16 Hoàng Hoa Thám)… Tuy nhiên, trong khoảng một vài năm gần đây, những công trình này đã dần biến mất, thay vào đó là những công trình mới, những dự án mới với lối kiến trúc hoành tráng, khá xa lạ so với phong cách đã từng có trước đó.

Hội Liên hiệp Phụ nữ TP Đà Nẵng, một công trình phong cách Art-Déco đặc sắc (nguồn: tài liệu của Tác giả)
Hội Liên hiệp Phụ nữ TP Đà Nẵng, một công trình phong cách Art-Déco đặc sắc (nguồn: tài liệu của Tác giả)

Những công trình kể trên chắc hẳn là đối tượng nghiên cứu của các KTS người Pháp khi soạn thảo sơ đồ quy hoạch Đà Nẵng nhằm đưa chúng vào một cấu trúc đô thị đồng nhất (vẫn chưa thực sự tồn tại). Như vậy, những công trình này không phải là kết quả của dự án quy hoạch tổng thể mà là những yếu tố bắt nguồn cho quá trình phát triển của thành phố. Bằng cách xem lại các sơ đồ quy hoạch của Đà Nẵng vào những năm 1900 – 1926, các nhà chuyên môn đã thông qua một số công trình tiêu biểu đó để ghép các phần khác nhau của thành phố lại với nhau. Kích thước, vị trí, phong cách của các công trình này nhằm mục đích tạo được cảm giác về một sự phát triển đô thị hùng mạnh theo kiểu Pháp. Nói cách khác, ý đồ này là khả năng “tạo ra hình ảnh mạnh của một vật”, có nghĩa là qua dáng vẻ bề ngoài của một vật và qua cách nhìn nhận xã hội đối với vật đó (1). Như vậy, chính cấu trúc của các công trình đã tạo nên bản sắc và ý nghĩa của chúng.
Hiện nay tại Đà Nẵng, các công trình mang phong cách kiến trúc thuộc địa còn lại đang tồn tại trong một không gian đô thị hoàn toàn khác bối cảnh ban đầu, chúng lọt thỏm trong mạng lưới đô thị và bị chế ngự bởi những tòa nhà tháp hiện đại. Nhưng hầu như chúng ta đã quên rằng vào thời điểm xây dựng, chúng đã uy nghi mọc lên trên một không gian thoáng đãng và rộng rãi, tuân thủ đúng các nguyên tắc xây dựng của Luật Cornudet. Chính vì vậy, nhiều câu hỏi đặt ra xung quanh sự hội nhập của chúng vào hệ thống đô thị mới. Được xây dựng trong một cơ cấu đô thị hoàn toàn khác biệt, liệu các công trình này có tạo ra một dáng vẻ đặc sắc cho thành phố hay không? Các công trình này có phải là những điểm mốc chính trên một vùng lãnh thổ mới bởi chúng tạo lập bản sắc cho thành phố? Các công trình này có phải là các yếu tố chủ đạo trong sự phát triển của thành phố, hay ngược lại làm cản trở quá trình mở rộng đô thị? Như Aldo Rossi đã nói, trong trường hợp thứ nhất, các công trình có vai trò tiêu cực, cản trở việc mở rộng và hội nhập đô thị, còn trường hợp thứ hai, chúng có vai trò tích cực, chắt lọc và tham gia vào quá trình biến đổi của thành phố.
Nghĩ sâu về vấn đề này, chúng ta thấy có nhiều đề xuất như: Tu bổ các công trình này để đảm bảo yêu cầu sử dụng làm việc trong giai đoạn mới; tư nhân hóa nhưng vẫn đặt dưới sự giám sát của các cơ quan chức năng có thẩm quyền; chuyển đổi chức năng sử dụng thành các bảo tàng, phòng tranh … Mỗi đề xuất gợi mở ra cho chúng ta những vấn đề mới. Tuy nhiên, liệu rằng chính quyền thời đó có nhìn thấy được dân số đô thị sẽ tăng mạnh và có kế hoạch chuẩn bị trước cho mọi việc hay không? Liệu rằng cơ cấu đô thị của người Pháp đã vạch ra có phải là một tiền đề vũng chắc cho Đà Nẵng có được sự phát triển như ngày hôm nay không? Điều này đòi hỏi các nhà chuyên môn cần khai thác các tư liệu lịch sử một cách thận trọng để chỉ ra nguồn gốc của một chính sách quy hoạch đô thị vào thời đó, từ đó mới thận trọng đưa ra những quyết định hợp thời.
Ngày nay, khi ngắm nhìn Đà Nẵng, chúng ta có thể thấy trên những con đường lớn có những tòa nhà công quyền mới toanh được thiết kế theo phong cách kiến trúc Cổ Điển (2) – Những công trình này được các KTS Việt Nam thiết kế cách tân hơn, hiện đại hơn, điều này cho thấy rằng vẫn còn những người yêu thích loại hình kiến trúc này.
Những công trình kiến trúc thuộc địa hiếm hoi còn sót lại đã được xây dựng vào thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ, vị trí của chúng đã góp phần vào quá trình phát triển của thành phố, nhất là việc phát triển hệ thống giao thông, ghép các khu phố lại với nhau. Các công trình này cho đến nay vẫn là linh hồn của các khu phố đó, mỗi công trình có một bản sắc riêng, đóng góp cho diện mạo chung. Khi các tòa nhà cổ được chính quyền quan tâm, trùng tu, việc quy hoạch tổng thể không gian xung quanh chúng có thể có lợi cho sự vận động của đô thị và góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố.

1) Khái niệm này đã được Kevin Lynch sử dụng trong nghiên cứu của mình vào năm 1960 về dáng vẻ bề ngoài của một thành phố.
(2)Ví dụ công trình Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng trên đường Núi Thành là một minh chứng.

Tài Liệu tham Khảo
[1] Virginie Malherbe, Caroline Herbelin, “Rêves d’Occident en Extrême- Orient “, Somory Éditions d’Art, 2010.
[2] Ngô Văn Minh (chủ biên), “Lịch sử Đà Nẵng”, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2007.
[3] Christian Pédelahore de Loddis, “Inventaire Architecture du Patrimoine Colonial de Saigon, Ho Chi Minh-Ville”, Instutut des projets Urbains, 1993.
[4] Lê Minh Sơn, “Xây dựng tiêu chí đánh giá những công trình kiến trúc thuộc địa có giá trị tại thành phố Đà Nẵng”, Đề tài NCKH ĐHĐN, 2013.

TS. Lê Minh Sơn

(Bài đăng trên Tạp chí kiến trúc số 3 – 2017)