Đào tạo Kiến trúc sư – nhìn lại những gì đã qua

 TS. KTS Lê Đình Tri Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Kiến trúc – Quy hoạch,  Bộ Xây dựng
 TS. KTS Lê Đình Tri
Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Kiến trúc – Quy hoạch,  Bộ Xây dựng
Tôi không phải sinh viên khoá đầu tiên, nhưng nếu tính chung chặng đường 50 năm thì thuộc vào nhóm 10 khoá đầu. Tôi từng là sinh viên kiến trúc, từng làm Giảng viên, từng làm Tư vấn, có 10 năm làm công chức cao cấp của Bộ, và bây giờ vẫn tham gia giảng dạy… Tôi vừa là người chứng kiến, vừa là người trong cuộc. Những cảm nhận sau đây có thể không giống ai. Có thể nhiều thầy cô ở Trường, ở Hội KTS Việt Nam cũng từng như tôi, nhiều sinh viên cũng na ná chúng tôi một thời…

1. TỪ LÚC ĐẦU
Chưa đầy 50 học viên, hơn chục thầy, cô giáo. Trường, lớp KTS đầu tiên chỉ vậy. Ngày đó, bình quân người dân đô thị có khoảng 4m2 nhà ở, đa phần bán kiên cố; nay con số đó đã là 19,6m2. Thời đó, nhà 7 tầng là cao nhất, nay đã gấp 10 – 12 lần như thế. Tôi đưa ra vài số để so đo khập khiễng, chỉ để ngoái lại phía sau của chính ngành mình mà đi tới. Khỏi để mấy người dạy, người học cứ lo: “Nay chẳng bằng xưa!” Cái trội của thế hệ sau còn nhiều. Xưa tay vẽ bút kim – nay máy vẽ. Một vài ngành thôi vẽ tay, thôi luôn cả vẽ máy – Chỉ chăm chú làm sao được vẽ ra ý tưởng, trình bày chủ kiến bằng lý luận đô thị, bằng khả năng biểu đạt cực siêu. Nhóm người đó đủ khả năng vẽ công trình, vẽ tương lai thành phố bằng mồm. Mà rất tuyệt vời và thuyết phục.

 Không ai nghĩ bây giờ, sau 50 năm, mỗi khoá học kết thúc có tới 3000 sinh viên tốt nghiệp cho riêng ngành kiến trúc trên cả nước. Rồi họ có trở thành KTS hành nghề tốt hay không lại là chuyện khác.

2. BƯỚC KẾ TIẾP 
Theo trào lưu chung, đa ngành được mở ra đào tạo trong trường. Vấn vít tương trợ nhau, mật thiết lắm. Thoạt đầu là ngành đô thị, nay gọi là kỹ thuật hạ tầng. Sau thêm Xây dựng, thêm nữa Quản lý đô thị, Trang trí mỹ thuật, Đồ hoạ Nội thất… Tất cả chung một ngôi trường. To hơn. Cao hơn. Dầy đặc. Nhộn nhịp mà đầm ấm. Giải thưởng cao trong các cuộc thi càng nhiều theo năm một. Tham gia hội nhập ráo riết. Quan hệ với nhiều trường, nhiều nước hơn. Lương  cao hơn. Thưởng cũng nhiều. Thầy cô yên tâm. Nhiều giáo sư tiến sỹ mong được về trường. Phương tiện giảng dạy không kém bất cứ ai. Trước, thầy nói “qua loa”. Nay toàn máy tính bỏ túi, máy chiếu trang bị từng phòng học lớn, bé.  Xưa, thầy hình hoạ vẽ mất 10 phút  giảng 5 phút mười phút. Nay chỉ mất một giây chiếu hình. Chỉ hình nói 10 phút. Trò thôi quay ngang, ngó ngửa. Vậy đấy.

Xưởng thiết kế ra đời. Đây là sáng kiến mới ở ta, nhưng chắc hẳn đã cũ trên thế giới. Lúc đầu còn bỡ ngỡ, cả thầy cả trò. Nay vào nếp rồi. Thấy cũng tốt. Trưởng xưởng như trưởng khoa hồi đầu, cơ ngơi khang trang, chất lượng ra trường hơi khó phân định. Một là vì cạnh tranh – Người khôn thì của khó, Quy luật mà. Hai là, điểm cao tốt nghiệp chưa phản ánh hết tất cả. Thực tài còn thể hiện ở năng lực hành nghề sáng tạo sau khi ra trường…

3. THẾ BẮT BUỘC
Trước đây, cứ bình bình. Nay trường cũng đang phải gồng mình, đua chen từ mức chuẩn đầu vào, cũng như chuẩn thu phí học. Lương phải tăng cho thầy, đổi lại thầy phải dạy đủ giờ. Dạy thật. Học thật. Chưa dám nói nhiều việc dạy tốt, học giỏi, bước đó tính sau. Sinh viên hiện tại năng lực thể hiện tốt, tiếp thụ nhanh, thu lượm thông tin mạng phong phú. Thậm chí, họ biến cái không phải của mình thành cái của mình rất nhanh, rất nghề. Nhiều khi thầy không thể biết. Kế thừa là quy luật của phát triển. Nhưng chống “xào lại” đồ án, sao chép luận văn hơi khó. Nhà trường liệu đã có thuốc phòng, thuốc chống.  Khi chấm phương án, thẩm tra dự án trong nước hay chấm chọn Giải thưởng Kiến trúc, Quy hoạch hàng năm tôi rất dễ phân biệt “kiểu tây” và “cách ta” ngay trên bản vẽ dự tuyển ẩn danh. Vì ta đang giữ mãi một kiểu dạy, một cách biểu đạt phương án. Nhận ra rất dễ vì cũng ná ná như nhau, ít có gì đặc biệt, ít có gì thuyết phục Hội đồng. Không nói tới lập luận, riêng trình bày bố cục đã thấy có khoảng cách chưa được lấp đầy (!). Hội KTS Việt Nam từng tổng kết 20 tác phẩm thời đổi mới thì có tới 2/3 mang yếu tố nước ngoài. Vậy là sao, ta bằng họ chưa? Phải nghĩ và hành động thật nghiêm túc…Giải thưởng Loa Thành do Hội KTS Việt Nam, Hội XD Việt Nam và các Bộ tổ chức đã 25 năm. Nhiều lần Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đạt được các giải lớn. Nhưng thất thường. Trường bạn đang vươn cao. Đó là thực tế. Hãy tự hào và khẳng định: Người ta dùng hàng ta, người Việt vẽ ra nhiều công trình kiến trúc tầm cỡ trên đất Việt. Đừng để tiền của dân ta vào túi người nước ngoài! Hãy đừng làm thầu phụ mãi thế!

4. NÊN LÀM KHÔNG? 
Sự đời, thói quen dễ, đổi mới khó. Thay một lối mòn nửa thế kỷ còn khó hơn. Biết vậy nhưng nếu không làm khác đi và theo yêu cầu thời đại mới tức là lỗi thời và lạc hậu. Vậy thì: 
– Bỏ thi vẽ đầu tượng cho ngành học Quy hoạch đô thị bằng môn văn hoá địa lý Việt Nam, môn Văn được không?
– Cộng điểm bằng môn trắc nghiệm năng lực trình bày ý kiến, ý tưởng, bằng môn thi vấn đáp. 
– Giảm lý thuyết, tăng thực hành, chấm tại lớp, tranh luận tại chỗ giữa thầy và trò. Đối thoại về ý tưởng tạo hình và ngoại thất đô thị cho ngành Kiến trúc công trình và ngành Mỹ thuật nội thất, thiết kế sản phẩm công nghiệp…
– Thay mới nhiệm vụ thiết kế theo hướng: Cải tạo, tái thiết, hoán cải công trình. Quy mô nhỏ nhưng ý tưởng mới. 
– Khuyến khích vẽ tay. Diễn giải ý tưởng bằng bài viết có hạn chế số từ….
– Đấu thầu nghiên cứu khoa học ở Trường. Đặt hàng các giải pháp thực hành.

5. NHƯ LỜI KẾT
Sau nhiều năm học, dạy, ở trường, tôi ngẫm lại tự thấy dù nhiều thành tựu, nhưng trì trệ không kém. Hãy đừng giấu mà cần nhìn rõ thực tế. Nhìn trời thấy “cái nong” còn đây đó. Tiền thu phí cần xứng với những gì thu được của người học. Ra trường, sinh viên đã tốt nghiệp điểm cao vẫn chưa được xã hội dùng nhiều, bỏ nghề không ít, do không đủ trình độ hành nghề. Tại sao vậy ? Cũng nên có hội bàn, nói thật ra, tính thật kỹ, luận cho ra nhẽ. Và tìm những phương cách lấp đầy trống vắng. Hơi chậm trễ, nhưng cũng phải làm – Nếu muốn và thực sự mong muốn đổi mới, thực sự cầu thị.

 TS. KTS Lê Đình Tri
Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Kiến trúc – Quy hoạch,  Bộ Xây dựng