Một số vấn đề về phát triển đào tạo Kiến trúc sư

Từ lớp KTS đầu tiên của Trường Mỹ thuật Đông Dương (năm 1926) đến nay đã có nhiều thế hệ KTS Việt Nam tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước, nhiều sinh viên (SV) đã đoạt các Giải thưởng trong nước và quốc tế. Nhưng trong 10 năm trở lại đây, đào tạo KTS ở ta đã thừa về số lượng lại không chuyên sâu và thiếu tính chuyên nghiệp, vì thế yêu cầu đổi mới đang đặt ra cấp bách. Thực ra thì không riêng Việt Nam mà các nước cũng đang phải giải quyết những vấn đề chung có tính đặc thù trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Vấn đề nằm ở khâu định hướng – xác định quan điểm, mục tiêu đào tạo để từ đó xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp cũng như môi trường đào tạo tương ứng.
KTS ra trường sẽ làm gì?

Lễ Khai giảng đào tạo Thạc sĩ khóa 2014-2016 và trao bằng Thạc sĩ khóa 2011-2013
Lễ Khai giảng đào tạo Thạc sĩ khóa 2014-2016 và trao bằng Thạc sĩ khóa 2011-2013

Khi chọn học kiến trúc, đa số SV chỉ cảm nhận mơ hồ về sự sáng tạo/ hấp dẫn và viễn cảnh đóng góp những công trình đẹp cho XH. Định hướng chung của các trường là trang bị kiến thức để các KTS tương lai có thể chịu trách nhiệm nghề nghiệp về công trình do họ thiết kế. Nhưng thực tế là SV ra trường lại làm việc ở rất nhiều lĩnh vực khác ngoài thiết kế kiến trúc: Trang trí nội thất/ sân vườn, thiết kế đồ đạc, quy hoạch/ thiết kế đô thị, trùng tu di tích, nghiên cứu, giảng dạy, làm dịch vụ (mô hình, diễn họa, làm phim, in ấn,..), thiết kế đồ họa (trình bày sách, thiết kế mỹ thuật), truyền thông/ thiết kế trang web, thậm chí làm cả vai trò quản lý (lập/ thẩm định dự án), giám sát/ thi công,.. Thiết kế kiến trúc thì cũng mỗi người thực hiện một phần việc, một công đoạn khác nhau, không phải ai cũng được chủ trì sáng tác (1). Thực tế đó đặt ra câu hỏi lớn cho đào tạo: Cần trang bị những gì cho SV để có thể thích ứng với yêu cầu rất đa dạng của thị trường nhân lực?

Thời gian vừa qua, nhiều đơn vị tư vấn có phản ánh: Trình độ KTS ra trường “thua cả kỹ thuật viên hệ trung cấp vì không biết lập hồ sơ thiết kế thi công” – khiến nhiều trường phải xem xét lại định hướng đào tạo của mình. Thực ra, KTS (kể cả hệ Bachelor của các nước) được đào tạo không phải để triển khai hồ sơ, nhưng vì ở ta hệ trung cấp kiến trúc đã bị bãi bỏ nên đang phải dùng KTS để lấp chỗ trống, và đương nhiên là họ phải được đào tạo thêm tại nơi làm việc. Các trường ĐH có muốn đào tạo cả Kỹ thuật viên (3 năm) và KTS (5 năm) cũng không được vì vướng quy định của Bộ Giáo dục Đào tạo. Nếu mở thêm hệ KTS thực hành (chuyên bổ kỹ thuật) bên cạnh hệ KTS sáng tác (làm concept) thì không cạnh tranh được với những trường trung cấp / dạy nghề đã bắt đầu đào tạo Họa viên (2 năm) – xét về bằng cấp thì thấp hơn KTS (5 năm) nhưng có việc làm ngay và ổn định. Tình trạng này làm cho hệ thống đào tạo KTS đã phình to lại càng thêm lạm phát. Rõ ràng cần phải sớm có sự sàng lọc trong quá trình đào tạo, vấn đề là những SV bị loại khỏi cuộc chơi sẽ không được nhận một loại bằng cấp/ chứng chỉ nào để có thể tìm việc làm và đó là sự lãng phí thời gian, tiền bạc và nhân lực. Nên chăng có cơ chế liên thông “ngược” từ Đại học xuống Cao đẳng – cho các em thêm một cơ hội để được đào tạo trở thành Kỹ thuật viên kiến trúc?

Quan điểm và triết lý đào tạo không rõ ràng đang ảnh hưởng đáng kể đến kiến thức và kỹ năng trang bị cho SV. Các trường lớn như ĐH Xây dựng, ĐH Kiến trúc Hà Nội, ĐH Kiến trúc TPHCM có những lợi thế nhất định: Có truyền thống mang giá trị thương hiệu; có đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm giảng dạy và thiết kế; tiếp cận chương trình đào tạo tiên tiến của các nước… Tuy nhiên, chính bề dày truyền thống và quy mô đào tạo lại là “gánh nặng” cản trở sự đổi mới – trong khi các trường khác gọn nhẹ hơn, ít áp lực hơn sẽ dễ đổi mới hơn. Đã có nhiều hội nghị, nhiều diễn đàn khẳng định sự cần thiết phải thay đổi căn bản cách đào tạo kiến trúc, nhưng mọi việc vẫn đang trôi theo quán tính.

Sự thay đổi mục tiêu và quan điểm đào tạo kiến trúc.
Sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và xã hội, cùng hàng loạt vấn đề như đô thị hóa, toàn cầu hóa, khủng hoảng kinh tế, thế giới mạng, sự xuống cấp môi trường, cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu, thiên tai, rác thải, ô nhiễm,.. đòi hỏi phải nghiêm túc nhìn nhận lại mục tiêu của kiến trúc và đào tạo KTS. Từ cuối những năm 1990 – trở lại đây đang nổi lên 3 xu thế(2):
– Thứ nhất là XH đương đại đang đòi hỏi những phương thức thiết kế đa dạng hơn. Bên cạnh lộ trình kinh điển đi từ trong ra ngoài (công năng -> kết cấu -> hình thức), có nhiều trường hợp phải xuất phát từ các vấn đề ngoài kiến trúc như cấu trúc, địa điểm, xã hội, sinh thái, tâm lý… Thời đại văn minh tri thức được đặc trưng bởi sự chuyển sang cách tiếp cận nhân học, nhân văn thay cho cách tiếp cận chức năng, kỹ thuật, kinh tế của XH công nghiệp. Việc không có phương thức nào là duy nhất đúng có thể làm SV hoang mang mất phương hướng, vì vậy nhà trường cần trang bị cho họ khả năng tư duy và hành động tự chủ trong một “thế giới phẳng đa chiều”.
– Thứ hai là sự cân đối quan hệ giữa “hành nghề toàn cầu” và “hành nghề trong nước”, giữa quốc tế hóa và bản địa hóa. Ông Chủ tịch UIA Vassilis Sgoutas tuyên bố: Lập trường của UIA là luôn nói không với toàn cầu hóa văn hóa, và tiếp đó là cũng nói không với toàn cầu hóa đào tạo kiến trúc(8). Người KTS phải làm việc được trong các môi trường văn hóa khác nhau, tham gia giải quyết các vấn đề thực tế tại những vùng đất không phải quê hương mình. Điều này được các trường có thương hiệu rất chú trọng – ĐH Cornell có một học kỳ học ở Rome; ĐHTH Singapore, ĐHTH Melbourne cho SV làm đồ án tại Thái Lan, Indonesia,.. “Kiến trúc dành cho 90% còn lại của thế giới”, kiến trúc có khả năng ứng dụng tại các nước đang phát triển, các khu vực bị thiên tai đang trở thành chủ đề chính của nhiều trường kiến trúc có tên tuổi.
– Thứ ba là xu thế rút ngắn thời gian đào tạo ở bậc đại học gắn với sự phân luồng sản phẩm và tích hợp các kiến thức, kỹ năng cần thiết. Ở nhiều nước, cấu trúc chương trình đào tạo kiến trúc từ 3-4 năm (Bachelor) + 2 năm (Dip.Arch) + 2 năm (Master) đã được chuyển thành 3-4 năm (Bachelor) + 2 năm (Dip.Arch / Master). Sau 3-4 năm học ĐH, các cử nhân (Bachelor) đã có thể tham gia vào thị trường lao động, rồi tùy theo môi trường làm việc mà có thể học tiếp trình độ sau ĐH lấy bằng Thạc sỹ (để nghiên cứu / giảng dạy / quản lý) hoặc lấy bằng KTS (tương đương Thạc sỹ – để tiếp tục thi lấy giấy phép hành nghề).

Sự phổ biến của Internet và các ứng dụng đi kèm làm thay đổi cơ bản thói quen, sinh hoạt của xã hội nói chung và SV kiến trúc nói riêng. Chương trình đào tạo, tài liệu tham khảo, dữ liệu nghiên cứu, các nguồn thông tin, hình ảnh,.. được số hóa và đăng tải trên mạng, có thể truy cập dễ dàng. Những kiến thức trước đây được trình bày trong sách vở một cách hệ thống thì nay tồn tại riêng rẽ, trôi nổi trong “đại dương” thông tin, đòi hỏi phải biết tìm kiếm và khai thác. Tuy nhiên, sự tiện lợi của công cụ copy-paste làm ta không phải trực tiếp xử lý thông tin nên kiến thức đọng lại rất mơ hồ và thói quen tra cứu online trở nên thiếu kiên nhẫn hơn – sau vài phút mà không tìm được cái cần thiết từ google.com thì vấn đề sẽ trở thành nan giải. Vì vậy, hàng loạt môn học chuyên ngành có tính biệt lập đang được thay thế bằng những học phần có tính tổng hợp, liên kết cao hơn.

Mặc dù Hiệp hội KTS Mỹ vẫn thường xuyên tổ chức Hội nghị bàn tròn các doanh nghiệp lớn (AIA Large Firm Roundtable) để thông tin về nhu cầu của các hãng thiết kế đến được các trường đào tạo kiến trúc, nhưng kết quả khảo sát năm 2012 từ 185 hãng thiết kế hàng đầu ở Mỹ cho thấy: Chỉ có 14% rất thỏa mãn đối với KTS mới tốt nghiệp, còn 32% cho rằng không đáp ứng, và tới 47% đánh giá mức độ nhận thức còn kém(4). Để gắn kết với thực tiễn, nhiều trường đã tích cực mời các KTS hành nghề tham gia giảng dạy, hoặc gửi SV vào làm việc tại các văn phòng kiến trúc. Tuy nhiên, cần kiểm soát được phạm vi hiệu quả của việc này, bởi kinh nghiệm có thể đưa đào tạo gần với cuộc sống hơn, nhưng cũng có thể kìm hãm sự sáng tạo, hạn chế sự đa dạng. Hội nghị quốc tế về đào tạo kiến trúc (IAES, Tokyo, 2009) đã xoay quanh nhận định khung (của Hitoshi Abe): Đào tạo kiến trúc do các hiệp hội chuyên nghiệp kiểm soát sẽ “Đẩy tất cả các khái niệm liên quan vào một hình thức cứng nhắc”, còn do các khoa kiến trúc kiểm soát thì phải “giữ cho hệ thống … đa nghĩa, đa dạng và linh hoạt hơn”(8). Sự phân định trách nhiệm giữa nhà trường và giới chuyên môn cũng đã đi tới chỗ tương đối thống nhất: Nhà trường trang bị cho SV kiến thức, khả năng phân tích, sự nhạy bén và kỹ năng cần thiết để giải quyết vấn đề bằng tư duy sáng tạo; SV ra trường sẽ được giới chuyên môn tiếp tục đào tạo về những vấn đề thực tế để được cấp giấy phép hành nghề.

Nhận thức rõ thực tiễn đang thay đổi, ĐH Kiến trúc Sheffield (của nước Anh vốn nổi tiếng bảo thủ) đã có những đổi mới rất đáng suy nghĩ (10/2011). Theo họ thì: Các trường kiến trúc nên giải thể, trừ khi phải nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc và kịp thời chuyển đổi phương thức đào tạo để:
– SV ra trường không phải chỉ vẽ đẹp để làm ở văn phòng thiết kế – mà biết vận dụng kiến thức vào nhiều lĩnh vực công việc ngoài kiến trúc, xây dựng, do đó cần có sự hiểu biết về các chuyên ngành khác (kinh tế, nông nghiệp, kỹ thuật, chính trị, tâm lý,..
– Kiến trúc gắn kết chặt chẽ với đời sống XH – Do đó phải đa dạng hóa cách thức đánh giá, hạn chế tối đa sự giả định phi thực tế, khuyến khích tranh luận để hiểu cái thực tế đang diễn ra.
– Mỗi SV cần tự định hình cách thức đào tạo phù hợp để ra trường không phải với tâm thế đi làm thuê, mà đủ năng lực tổ chức điều hành thực hiện đồ án tốt nghiệp của mình nếu có điều kiện.
– Nhà trường phải trở thành địa chỉ học thuật, tạo ra các thế hệ ý tưởng mới, tiếp tục hỗ trợ các KTS sau khi tốt nghiệp, góp phần vào những thay đổi tích cực cho địa phương nơi trường tọa lạc.

Hiến chương UIA-UNESCO và thỏa thuận Canberra Accord
Với nhận thức về trách nhiệm pháp lý của KTS đối với môi trường và xã hội, về sự cần thiết phải đa dạng hóa nội hàm của hoạt động nghề nghiệp và đào tạo, năm 1998, UIA và UNESCO đã công bố Hiến chương về đào tạo kiến trúc (được rà soát lại năm 2005) (7). Hiến chương xác định 11 nội dung cơ bản mà đào tạo kiến trúc phải bao hàm được và chỉ ra 3 nhóm lĩnh vực mà KTS tốt nghiệp cần phải nắm bắt: Kiến thức (về môi trường, nghệ thuật, kỹ thuật, VH-XH,..) + Kỹ năng + Thiết kế.

Trên nền tảng đó, 8 tổ chức kiểm định công nhận đào tạo KTS gồm CAA (Australia), CACB (Canada), COMAEA (Mexico), KAAB (Hàn Quốc), NAAB (Mỹ), NBAA (Trung Quốc), RAIA (Australia) và RIBA (Anh) đã thống nhất ký kết thỏa thuận chung gọi là Canberra Accord (4/2008, bắt đầu áp dụng từ 01/2010)(3). Theo đó, KTS tốt nghiệp ra trường phải lĩnh hội các năng lực:
1. Áp dụng kiến thức vào thiết kế và cải thiện các hệ thống, các tiến trình và môi trường.
2. Xác định và giải quyết các vấn đề kiến trúc tổng hợp, phức tạp.
3. Hiểu rõ và giải quyết được các tác động của công trình về môi trường, kinh tế và xã hội.
4. Có thể trao đổi một cách hiệu quả với khách hàng, với cộng đồng.
5. Khuyến khích quá trình học tập suốt đời và phát triển nghề nghiệp sau khi ra trường.
6. Hoạt động phù hợp với các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của KTS.
7. Củng cố và phát triển tốt hơn các môi trường nhân văn trong XH đương đại.

Để được công nhận đạt chuẩn quốc tế, cơ sở đào tạo cần đăng ký với một trong các tổ chức nói trên để thực hiện quy trình đánh giá từ cấu trúc và nội dung chương trình, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo cho đến chất lượng thực tế của đồ án sinh viên trong một số năm liên tiếp, sau đó là kiểm định theo định kỳ để đảm bảo quản lý và duy trì chất lượng đào tạo. Hiện nay, chưa có trường ĐH nào ở Việt Nam tham gia hệ thống kiểm định quốc tế, mới chỉ 1-2 trường nhận được sự công nhận song phương của trường đối tác trong những dự án đào tạo cụ thể. Năm 2010, các nước ASEAN đã ký kết Thỏa thuận khung về việc cấp chứng chỉ KTS ASEAN bắt đầu từ 2015 – song không phải là mặc nhiên công nhận lẫn nhau mà vẫn phải dựa trên sự so sánh từ gốc (quá trình đào tạo) cho đến ngọn (hoạt động nghề nghiệp).

Đang có sự khác biệt rất lớn về chương trình, thời gian và bằng cấp giữa hệ thống đào tạo của chúng ta (được cải biên từ mô hình của Liên Xô) và của các nước ASEAN (hầu hết là thuộc địa cũ của Anh nên theo mô hình và chuẩn của RIBA). Trong khi ở các nước khác, SV học 3-4 năm được nhận bằng Bachelor, thêm 2 năm sẽ nhận bằng Master / Diploma of Architect, thì lâu nay ở ta SV học 5 năm ra trường chỉ được nhận bằng Cử nhân (Bachelor) – đến gần đây (2012) mới được “nâng cấp” thành Degree of Architect (viết tắt là D.Arch – nhưng chẳng giống ai vì thông lệ quốc tế là Dip.Arch và Doc.Arch – Tiến sĩ Kiến trúc). Thực chất, nếu không tính khối lượng Chính trị – Thể dục – Quân sự (17 TC, tương đương 1 học kỳ) thì SV ta chỉ học chuyên môn có 4 năm rưỡi và không được thực tập hành nghề đúng yêu cầu, nên việc không được công nhận tương đương Dip.Arch là điều dễ hiểu.

Đối với SV kiến trúc Việt Nam, đây là sự thiệt thòi đáng kể, còn đối với xã hội thì là sự phí phạm to lớn về thời gian và tiền bạc. Đối với các KTS hành nghề thì đây còn là sự bất lợi rất lớn khi sang năm 2015 sẽ thực hiện việc mở cửa thị trường dịch vụ kỹ thuật – trong đó có tư vấn thiết kế kiến trúc. Hội KTS Việt Nam đã soạn thảo Luật hành nghề kiến trúc để trình Quốc hội thông qua trong 1-2 năm tới, nhưng đến thời điểm hiện nay chưa có trường nào đặt vấn đề định hướng lại quá trình đào tạo để KTS ra trường có thể đáp ứng yêu cầu của luật này.

Nhìn sang “Nguyên mẫu Liên Xô” thì thấy: Mặc dù bằng KTS (chương trình 5,5 năm) của ĐH Kiến trúc Moscow (MAI) rất có giá trị và từ những năm 1980 – đã được phương Tây công nhận tương đương với trình độ Master, nhưng đến những năm 1990, nước Nga cũng đã ban hành Luật về hoạt động kiến trúc, và cả hệ thống đào tạo KTS của họ đã chuyển sang chương trình 4+2 (với 2 mức bằng) để tham gia vào Hệ thống chuyển đổi tín chỉ Châu Âu (ECTS – European Credit Transfer System). Vậy thì chúng ta còn lý do gì để chần chừ thêm nữa?

Nguồn lực nào cho đào tạo kiến trúc?
Khả năng tạo dựng cơ sở vật chất và duy trì hoạt động đào tạo liên quan trực tiếp đến vấn đề kinh phí. KTS chịu trách nhiệm rất lớn về mặt pháp lý và XH nên học phí ngành Kiến trúc rất cao. Như ở Mỹ học phí trung bình năm 2011 của trường công là 20.115 USD, của trường tư là 25.400 USD (cao nhất là ĐH Cornell – 41.541USD) nên ít người có điều kiện chi trả mà phải vay để học. KTS ra trường nếu có việc làm ngay thì mức lương năm đầu tiên là ~40.000USD, trong khi khoản vay phải trả ~36.000USD. Khoản này ở Anh lên tới 45.000£ (~70.000USD), đến mức ông Chủ tịch Hội KTS Hoàng gia (RIBA) phải hài hước: “SV nào nhập học tháng 9/2012 mà quyết định sai lầm lấy vợ cũng là KTS, thì đến khi ra trường sẽ không bao giờ trả góp được”(4). Học phí tăng cao cũng là một lý do khiến các trường hướng đến rút ngắn thời gian và chương trình đào tạo bậc ĐH (tập trung vào B.Arch) để giảm kinh phí và SV có cơ hội làm việc sớm hơn.

Ở Việt Nam, mức thu học phí tại các trường công lập, ví dụ như ở ĐH Kiến trúc Hà Nội đang được Bộ GD-ĐT quy định là 6,5 triệu đ/năm. Cộng với mức chi thường xuyên từ ngân sách hàng năm ~4 triệu đ/SV, thì kinh phí đào tạo cho toàn khóa chỉ 50-55 triệu đồng (= 2.500 USD!), trong khi lương KTS năm đầu tiên đã là ~48 triệu đồng (4 triệu/tháng). Chưa nói chuyện lương không đủ sống, chỉ so với mức lương cũng thấy chi phí cho đào tạo KTS ở ta đang quá rẻ mạt. Thiếu tiền dẫn đến thiếu đủ thứ (trường lớp, phòng thí nghiệm, xưởng mô hình, thư viện,..) mà lại đặt vấn đề về chất lượng thì quá xa xỉ. Lâu dần việc này trở thành cái vòng luẩn quẩn không biết tháo gỡ từ đâu: Chất lượng đào tạo thấp vì không có tiền – Không thu được nhiều tiền vì chất lượng thấp. Thế nên mới có tình trạng đáng buồn là các trường ĐH kiến trúc (University) tầm cỡ quốc gia của chúng ta lại không thể hợp tác bình đẳng với một trường (College) nhỏ xíu của Tây, chỉ vì không có kinh phí đối ứng cho hoạt động trao đổi SV hàng năm. Và một nghịch lý là càng dạy nhiều thì càng lỗ, nên chưa có trường ĐH công lập nào dũng cảm dứt khỏi “bầu sữa” ngân sách để hoạt động hoàn toàn bằng nguồn thu học phí.

Các trường ĐH ngoài công lập được thu mức học phí cao hơn (18-20 triệu đồng/ năm), nếu quy mô đào tạo vừa phải và được tổ chức tốt thì cũng có hiệu quả nhất định (VD: ĐH Phương Đông, ĐH Văn Lang). Nhưng không ít trường coi học phí là nguồn thu chính nên ngày càng mở rộng số lượng tuyển sinh mà không quan tâm đầu tư cho chất lượng. Một trường hợp đặc biệt là ĐH Kiến trúc Hà Nội từ năm 2009 được giao triển khai Chương trình tiên tiến ngành Kiến trúc phỏng theo mô hình đào tạo của nước ngoài. Với mức học phí 38 triệu đồng / năm và quy mô chỉ 50-60 SV, chương trình được kỳ vọng như một sự thử nghiệm đột phá, nhưng đến năm nay lớp đầu tiên chuẩn bị làm tốt nghiệp thì hiệu quả về sự đổi mới đã có thể thấy trước là rất hạn chế. Rõ ràng vấn đề không phải vì thiếu tiền, vì chương trình lạc hậu hay vì trình độ ngoại ngữ – những điều kiện cần rất quan trọng – song vai trò quyết định vẫn thuộc về việc định hướng chiến lược và tổ chức thực hiện.

Vậy chúng ta phải làm gì?
– Triết lý đào tạo trong thời kỳ quá độ: Bản chất của kiến trúc là sự tổng hòa của nghệ thuật và kỹ thuật, của logic và cái đẹp, của các yếu tố đối lập, đa thành phần, đa nguồn gốc trong một thể thống nhất và bền vững. Sứ mệnh của kiến trúc là tạo dựng không gian phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, của cộng đồng, của XH. Vì vậy, đào tạo luôn phải đi trước một bước so với thực tiễn để nắm bắt động thái của thời đại và đáp ứng sự phát triển sẽ diễn ra trên bình diện rộng. Hiện nay, hệ thống các giá trị cũ đang thay đổi, các chuẩn mực mới chưa được định hình và khẳng định; các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội cũng trong quá trình phủ định biện chứng để đổi mới. “Dĩ bất biến ứng vạn biến” – Nhà trường cần trang bị cho các KTS tương lai một phương pháp nhận thức (để nắm bắt các quy luật chuyển hóa) và cách tư duy biện chứng (để hành động phù hợp với từng thời điểm, từng hoàn cảnh). Trong xu thế chung là tích hợp đa phương diện để phát triển bền vững, cần củng cố các giá trị nhân văn và bản địa, đồng thời chủ động tiếp cận những công cụ quốc tế hóa để thực hiện phương châm: Hiện đại hóa – nhân văn hóa, toàn cầu hóa – bản địa hóa.(9)
– Quy hoạch lại hệ thống đào tạo kiến trúc: 22 trường ĐH có đào tạo KTS ở Việt Nam hàng năm xuất xưởng ~2500 KTS mà không căn cứ nhu cầu thực tế và không có một chuẩn chung về chất lượng. Tuy nhiên, các trường lại thuộc nhiều hệ thống quản lý khác nhau (Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Xây dựng, các Tỉnh và TP) nên rất khó quy về một mối. Trong bối cảnh đó, nếu Hội KTS Việt Nam (với tư cách là tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, đại diện cho giới KTS Việt Nam tại UIA và ARCASIA, có vai trò quan trọng trong việc cấp chứng chỉ hành nghề) thực hiện chức năng điều phối chung về định hướng, đánh giá đào tạo kiến trúc thì hợp lý nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thực tế là Hội KTS đã có những nỗ lực theo hướng này, kiến trúc nhưng không chính danh nên chưa hiệu quả. Festival SV KT, CLB SV KT chỉ là những sân chơi giao lưu và tự nguyện. Giải thưởng Loa Thành chỉ xem xét được <2% số đồ án tốt nghiệp cuối cùng mà không tác động đến cả quá trình đào tạo. CLB các trường đào tạo kiến trúc (thành lập năm 2012 trên nguyên tắc luân phiên và bình đẳng) không hoạt động được, vì từ cấp trường (chủ thể) xuống đến cấp khoa (đào tạo) là một khoảng cách lớn, thậm chí nhiều nơi chỉ là bộ môn (dưới khoa) phụ trách. Vì vậy, cơ chế phối hợp, kiểm soát chất lượng và các chuẩn mực chung về đào tạo KTS cần được thể chế hóa bằng các quy định cụ thể trong Luật hành nghề kiến trúc để các trường sớm có định hướng thực hiện. - Phân luồng và phân cấp đào tạo: Song song với hệ ĐH, các trường cần có cả hệ Trung cấp / Cao đẳng kiến trúc để thực hiện việc sàng lọc, phân loại SV và đào tạo kỹ thuật viên. Ở bậc ĐH, thay vì đào tạo đại trà mẫu KTS chung chung (cái gì cũng biết một chút), cần đa dạng hóa sản phẩm theo các chuyên ngành (KTS công trình, KTS cảnh quan, KTS nội thất, KTS công nghệ, Thiết kế môi trường, Bảo tồn di sản,..) phù hợp với nhu cầu của mỗi vùng miền. Như vậy sẽ giữ cho quy mô đào tạo của mỗi chuyên ngành nằm trong ngưỡng hợp lý và hiệu quả (phù hợp với lực lượng GV và khả năng đáp ứng của cơ sở vật chất) - là điều kiện quan trọng để đảm bảo sự vận hành linh hoạt, đồng thời kiểm soát và duy trì được chất lượng. (Có thể thấy hầu hết các trường kiến trúc trên thế giới chỉ đào tạo <100 SV/năm; các nước phát triển vẫn duy trì hệ thống trường kiến trúc đa dạng và phi tập trung, với cơ chế mềm dẻo linh hoạt). - Đổi mới phương thức đào tạo: Trong khi các nước đã tiến rất xa với môi trường học tập chủ động để mỗi cá nhân tự đào tạo và phát triển tư duy, thì 5-6 năm nay chúng ta vẫn đang làm quen với học chế tín chỉ và bị sa lầy giữa những quy định hành chính máy móc - Thậm chí xóa bỏ cả những yếu tố tích cực của mô hình niên chế. Xét từ thực trạng nền giáo dục phổ thông thì đào tạo KTS bây giờ phải kết hợp cả giảng dạy ĐH (cung cấp kiến thức cơ sở) với truyền nghề trực tiếp (truyền thụ kinh nghiệm nghề nghiệp) và tự học (rèn luyện kỹ năng). Tuy nhiên, đây là các phương thức rất khác biệt nhau, nên phải có mô hình tổ chức phù hợp thì mới đạt hiệu quả. Dù chưa được như các nước, nhưng đào tạo theo xưởng chính là mô hình cần được ưu tiên thực hiện - nhất là theo học chế tín chỉ, không còn lớp cố định nữa thì xưởng trở thành yếu tố ổn định tối cần thiết để thực hiện phương thức truyền nghề và quản lý việc tự học. - Cấu trúc lại chương trình đào tạo: Chương trình đào tạo cần được xây dựng trên cơ sở tiếp cận đúng với bản chất của kiến trúc là một nghệ thuật tổ chức - tổng hòa của những yếu tố và quan hệ đối lập, cân đối giữa kỹ thuật và nghệ thuật, giữa vật chất, vật liệu và tinh thần, tư tưởng. Trong thực tế hành nghề luôn có sự phân hóa chuyên môn giữa các KTS chuyên làm ý tưởng (Concept Development) và KTS chuyên triển khai thiết kế (Design). Vì vậy, nội dung chương trình nên bố trí thành 3 cấp độ: Cấp độ cơ sở (cho kỹ thuật viên) ưu tiên nhiều hơn các vấn đề kỹ thuật - vật liệu; cấp độ cơ bản (cho KTS thiết kế) tăng cường các vấn đề xã hội - nhân văn; cấp độ nâng cao (cho KTS sáng tác, nghiên cứu) tập trung vào các vấn đề lý luận và phương pháp luận. Hệ thống đồ án phải được xây dựng thành xương sống của chương trình để kết nối các khối kiến thức, các cấp độ đó. - Đào tạo gắn với nghiên cứu: Đây là 2 lĩnh vực hoạt động cơ bản của mỗi trường, trong đó nghiên cứu trước hết nhằm mục đích phục vụ đào tạo - tạo nguồn kinh phí hỗ trợ, kiểm định và đảm bảo chất lượng, kết nối giữa đào tạo và thực tiễn, giữa chuyên môn hóa và XH hóa,.. Nghiên cứu còn là lĩnh vực đi tiên phong trong việc hợp tác và hội nhập, góp phần quan trọng để quốc tế hóa đào tạo. Lấy đào tạo tinh hoa, đào tạo mũi nhọn (VD: lớp KTS chất lượng cao) kết hợp với nghiên cứu (theo mô hình Trung tâm xuất sắc - Center of Excellence) làm đầu mối đột phá để phát triển, đồng thời bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên môn để bổ sung cho đội ngũ cán bộ giảng dạy đang rất thiếu. Kết luận
Có thể hình dung đào tạo cũng như một đoàn tàu được lập trình trước, không cần người cầm lái vẫn tự hành về tới đích; song nếu muốn thay đổi lộ trình thì chúng ta phải xây dựng được tuyến đường mới và chọn thời điểm hợp lý để bẻ ghi. Từng có một thời điểm như vậy năm 2008 (khi các trường ĐH đồng loạt chuyển sang học chế tín chỉ – với áp lực phải đổi mới cả nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và đánh giá) nhưng đã trôi qua vì sự an toàn cho cả hệ thống. Năm 2015-2016 sẽ là một thời điểm nữa đối với các trường kiến trúc – và hy vọng là sẽ không bị bỏ lỡ.

Điều quan trọng là cần có sự thống nhất và quyết tâm cao độ để xây dựng được một lộ trình đúng đắn và duy trì động lực đổi mới trong suốt cuộc hành trình, đưa hệ thống đào tạo kiến trúc hướng tới những tiêu chí chất lượng được công nhận, phát huy được những giá trị đặc trưng mà chúng ta đã tạo dựng và nuôi dưỡng suốt những năm qua.

TS.KTS Nguyễn Trí Thành