Phương thức đào tạo mở trong đào tạo nguồn nhân lực kiến trúc – xây dựng

Phương thức đào tạo mở thực hiện trên cơ sở mối liên kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với xã hội và thực tế sản xuất. Mỗi cơ sở cần trở thành trung tâm điều phối, cung cấp nhiều cơ hội học tập cho mọi người, coi người học là trung tâm của mọi hoạt động. Phát triển phương thức đào tạo mở và đào tạo từ xa là sự lựa chọn đúng đắn, đáp ứng nhu cầu xã hội hóa giáo dục, đáp ứng quyền lợi cơ bản của đa số người dân. Với việc ứng dụng các công nghệ đào tạo mới, hiện đại, các cơ sở đào tạo đại học có thể tiếp cận và ứng dụng những chương trình đào tạo mới theo tiêu chuẩn quốc tế, góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, và làm gia tăng uy tín quốc tế của cơ sở đó.

Mô Hình đồ án Biệt thự

Định hướng đào tạo nguồn nhân lực tại một số nước trong khu vực

Bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin và toàn cầu hóa, nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực châu Á Thái Bình Dương đã xác định định hướng mới cho việc đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Tại Trung Quốc, mục tiêu của giáo dục và đào tạo là phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội phát triển hài hòa. Cụ thể là đổi mới chương trình, tăng cường nội dung đào tạo gắn với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tiến bộ khoa học – kỹ thuật; tăng cường những kiến thức cơ bản, cơ sở; gắn lý thuyết với thực hành. Mở rộng phương thức đào tạo thường xuyên, liên tục; tăng cường đào tạo không chính quy; liên kết các cấp học từ phổ thông đến đào tạo nghề các cấp,…để hình thành hệ thống giáo dục – đào tạo hiện đại theo nguyên lý bảo đảm được học tập suốt đời.

Tại Nhật Bản, những năng lực và phẩm chất cần thiết để làm thay đổi và phát triển xã hội được khái quát trong khái niệm “nguồn lực”. Sức mạnh chủ yếu của “nguồn lực” bao gồm: Năng lực trí tuệ, khả năng phát hiện vấn đề, phân tích và giải quyết vấn đề, năng lực thực tiễn, sự nhạy cảm trong lý trí và sự quyết đoán trong hành động, khả năng vận dụng có hiệu quả công nghệ thông tin,… Đặc biệt, trong thời đại quốc tế hóa, sự hiểu biết, tôn trọng và giữ gìn các di sản và truyền thống văn hóa, cũng như khả năng giao tiếp bằng tiếng nước ngoài đã trở thành sức mạnh mềm của nguồn lực.

Để đáp ứng nhu cầu đào tạo được những nguồn lực trên, các cơ sở đào tạo của Nhật Bản được tổ chức theo mô hình đào tạo mở (Open Education Method), bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường với xã hội và thực tế sản xuất. Nhà trường phải được tổ chức lại và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ sao cho phù hợp với sự phát triển của một xã hội có khả năng tạo điều kiện học tập suốt đời cho mọi người.

Tại Hàn Quốc, trọng tâm của chương trình cải cách giáo dục cho thế kỷ 21 là hướng tới xây dựng một xã hội mà việc học tập có thể được tiến hành ở bất cứ đâu, vào bất kỳ lúc nào, dành cho bất kỳ ai có nhu cầu trên cơ sở khai thác tối đa các thành tựu vượt bậc của công nghệ thông tin hiện đại. Phương thức đào tạo chủ yếu theo hệ thống tín chỉ, thiết lập hệ thống ngân hàng các tín chỉ, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống các tín chỉ. Tăng cường sự liên kết giữa nhà trường với xã hội và thực tế sản xuất. Chương trình cải cách của Hàn Quốc đặc biệt chú trọng tính mở và đa dạng (Open and Flexible) của các loại hình đào tạo, xác lập quyền tự chủ của nhà trường đối với xã hội và hướng tới sự bình đẳng giữa các cơ sở đào tạo.

Tại Singapore, trường học được xác định không tách rời khỏi gia đình, xã hội và sản xuất. Nhờ sự phát triển của ngành công nghệ thông tin hiện đại ở trình độ cao mà môi trường đào tạo, học tập và nghiên cứu ứng dụng của Singapore không chỉ giới hạn trong các cơ sở đào tạo hoặc cộng đồng trong nước mà còn mở rộng ra các cơ sở đào tạo ở nước ngoài. Mục tiêu giáo dục – đào tạo của Singapore trong thế kỷ 21 là đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng tốt, có khả năng làm việc độc lập, tinh thần cạnh tranh lành mạnh, mỗi cá nhân tự xác định thói quen tự học, tự nâng cao trình độ để đáp ứng những thay đổi nhanh chóng và thường xuyên của xã hội hiện đại.

Đồ án Sinh viên

Tại Australia, nền giáo dục – đào tạo vốn có truyền thống đa dạng, năng động và luôn đổi mới trên cơ sở một nền kinh tế phát triển cao. Mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực của Australia là đào tạo con người có trình độ cao về trí tuệ, thể chất tốt, có đạo đức, có kỷ luật và có óc thẩm mỹ, đồng thời cần phải quyết đoán và có ý thức trách nhiệm trong công việc. Các cơ sở đào tạo của họ được tổ chức theo nguyên lý bảo đảm học tập suốt đời cho mọi người, đồng thời bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với xã hội và thực tế sản xuất.

Đào tạo mở và đào tạo từ xa trong đào tạo nguồn nhân lực

Định hướng đào tạo ở các nước trên cho thấy xu hướng phát triển giáo dục đào tạo trên thế giới ngày càng coi trọng phương thức đào tạo mở và đào tạo từ xa. Kinh nghiệm cho thấy, đào tạo từ xa đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cơ hội học tập cho đông đảo quần chúng, đặc biệt ở bậc đại học, góp phần thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhất là trong đào tạo đại học, đây là sự lựa chọn đúng đắn, đáp ứng nhu cầu xã hội hóa giáo dục, đáp ứng quyền lợi cơ bản của đa số người dân chứ không phải đặc quyền, đặc lợi của một thiểu số trong xã hội. Việc ứng dụng công nghệ mới cho phép các cơ sở đào tạo triển khai những phương thức đào tạo mới, đem lại cho người học quyền tự do và sự năng động trong việc lựa chọn ngành học, cách thức học, thời gian học và cơ sở đào tạo phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cá nhân; Mặt khác, điều này cũng cho phép các cơ sở đào tạo đại học có thể tiếp cận và ứng dụng những chương trình đào tạo mới theo tiêu chuẩn quốc tế, góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, và làm gia tăng uy tín quốc tế của cơ sở đó.
Phương thức đào tạo từ xa đã có những thay đổi cơ bản, từ chỗ chủ yếu dựa vào tài liệu in ấn trong thời kỹ đầu, chuyển qua giai đoạn sử dụng phương tiện nghe nhìn vào thập niên 70-80, đến sử dụng hệ thống kỹ thuật số nối mạng vào những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước. Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của xã hội trên cơ sở sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, hệ thống đào tạo từ xa phải đối mặt với sự thay đổi nhanh chóng về nhu cầu của người học cùng với sự chuyển dịch mô hình kinh tế-xã hội từ thời đại công nghiệp sang kỷ nguyên tri thức. Việc ứng dụng công nghệ mới làm thay đổi quan niệm về đào tạo và phương thức đào tạo, vì công nghệ mới không có giới hạn về kinh tế và chính trị nên hệ thống đào tạo từ xa có tính linh hoạt và lan tỏa rất cao, vượt ra khỏi biên giới một quốc gia, mang lại lợi ích cho cả người học lẫn cơ sở đào tạo, nhất là đối với các nước chậm phát triển như Việt Nam chúng ta.

Đối với cơ sở đào tạo, những thay đổi mang tính cách mạng trong đào tạo, từ chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp đào tạo đến chất lượng sản phẩm đào tạo; từ học tập trung tại lớp đến học ở mọi nơi, mọi lúc; từ học theo thời hạn sang học theo tín chỉ, v.v… đòi hỏi phải có những thay đổi triệt để cả về tư duy quản lý lẫn thực hiện, thay đổi cả về chất cũng như về lượng. Điều đó tác động đến nhu cầu, tư duy và hành động của người học, họ quan tâm đến việc cân đối giữa khả năng, cách học và liều lượng thông tin, đến phương thức tổng hợp để đạt được tri thức cần thiết nhanh nhất và hiệu quả nhất. Do đó, các cơ sở đào tạo phải đáp ứng được nhu cầu về thông tin của người học theo phương thức mở và với công nghệ phù hợp. Chính công nghệ thông tin tạo điều kiện cho cơ sở đào tạo đề ra phương thức đào tạo mới, và cũng làm cho những người học thay đổi cách suy nghĩ, cách học và cách vận dụng công nghệ thông tin trong việc học tập của mình (đòi hỏi người học có khả năng độc lập, chủ động, tích cực, và sáng tạo).

Tóm lại, đào tạo mở và đào tạo từ xa với sự ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại tạo ra nhiều cơ hội học tập và sáng tạo cho mọi người nhằm đạt tới mục tiêu chung là góp phần thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Đối với chuyên ngành kiến trúc – xây dựng, định hướng đào tạo phải xuất phát từ những nghiên cứu khoa học về xu thế phát triển kinh tế – xã hội và khoa học – công nghệ nói chung cũng như về sự phát triển của ngành kiến trúc-xây dựng nói riêng. Điều kiện để hình thành lực lượng lao động kiến trúc-xây dựng có trình độ cao là phải chuẩn bị cho người học những kiến thức có hệ thống và mang tính thực tiễn cao, có khả năng vận dụng linh hoạt những kiến thức đó vào nhiệm vụ thực tiễn một cách khoa học và sáng tạo.

Ngày nay, quá trình tổ chức môi trường kiến trúc – xây dựng đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhiều ngành khoa học hơn trước. Ngoài các cộng tác viên quen thuộc như các KS, chuyên gia công nghệ, các nhà kinh tế, quản lý, thì ngày nay các kiến trúc sư và kỹ sư xây dựng cần có quan hệ chặt chẽ với các chuyên gia xã hội học, tâm lý xã hội, văn hóa, tin học, bảo vệ môi trường,… Hoạt động của các KTS và KS xây dựng nói chung là quá trình tổng hợp một cách hài hòa kiến thức kinh tế – xã hội, khoa học – kỹ thuật, văn hóa – nghệ thuật và tổ chức quản lý. Vì vậy, những người làm kiến trúc – xây dựng phải ý thức được trách nhiệm xã hội của mình, phải nắm vững các điều kiện phát triển kinh tế xã hội, đặc điểm và nhu cầu của con người trong xã hội mới, đặc điểm tự nhiên khí hậu của Việt Nam và phải thể hiện trong các giải pháp chức năng – kỹ thuật – kinh tế và thẩm mĩ của sản phẩm kiến trúc – xây dựng.

Như vậy, để đạt được mục tiêu phát triển trên, các cơ sở đào tạo kiến trúc-xây dựng phải được tổ chức theo mô hình mở, đa dạng hóa các loại hình đào tạo và chương trình học tập, bảo đảm cơ hội học tập cho nhiều đối tượng, ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, và với bất cứ hình thức nào trên cơ sở sử dụng rộng rãi và hiệu quả công nghệ thông tin. Giảng viên trong môi trường đại học phải có năng lực chuyên môn cao, có kiến thức và kỹ năng chuyên sâu, có khả năng triển khai các chương trình đào tạo, các nội dung và phương pháp giảng dạy mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học và yêu cầu phát triển của xã hội.

Một số giải pháp để đạt được các mục tiêu

Trong thời gần đây, Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TP. HCM) đang hướng tới mô hình phát triển năng động, đa dạng loại hình đào tạo, theo chuẩn quốc tế. Trường đã đạt được những thành công bước đầu sau khi được quyền tự chủ toàn diện trong các hoạt động nghiên cứu – đào tạo so với trước đây. Một trong đổi mới quan trọng của trường là toàn bộ chương trình đào tạo của trường đã được chuyển đổi sang chương trình TOP 100 theo chuẩn quốc tế. Trong đó, chương trình đào tạo ngành Kiến trúc được xây dựng theo sự tư vấn chuyên môn và mô hình đào tạo của Trường đại học quốc gia Singapore (National University of Singapore), ngành Quy hoạch vùng và đô thị được xây dựng theo mô hình đào tạo của Trường đại học Queensland, Úc. Chương trình TOP 100 theo tiêu chuẩn quốc tế có nội dung chương trình hiện đại, linh hoạt và chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành chuyên môn, thực tập tại doanh nghiệp, tăng cường khả năng thiết kế kiến trúc và quy hoạch đô thị (SV vận dụng các phần mềm hỗ trợ thiết kế đồ họa như Revit, Sketchup, Citymap,…) nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội. Nội dung giảng dạy, bài tập, ngân hàng đề thi đều đồng bộ theo giáo trình chính của chương trình TOP 100, đồng thời, chú trọng năng cao kỹ năng đọc hiểu giáo trình tiếng Anh của sinh viên để tiếp thu chương trình TOP 100, công cụ E-learning được sử dụng đối với cả GV và SV trong toàn bộ các hoạt động giảng dạy và học tập

Đồ án biệt thự của sinh viên

Ngoài ra, một số giải pháp để đạt mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực Kiến trúc – Xây dựng được tác giả đề xuất tham khảo như sau:

  1. Đa dạng hóa loại hình đào tạo: Kết hợp đào tạo chính quy, đào tạo mở, đào tạo từ xa; kết hợp đào tạo nâng cấp với đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ; kết hợp mở lớp tại trường và mở lớp tại địa các phương, tại doanh nghiệp; kết hợp đào tạo dài hạn và ngắn hạn;
  2. Đổi mới chương trình đào tạo: Chương trình đào tạo cần thể hiện tính linh hoạt; kết hợp lý thuyết và thực hành, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, kết hợp nhà trường với xã hội và thực tế sản xuất;
  3. Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy: Phương pháp giảng dạy cần đổi mới theo hướng tích cực cả quá trình dạy và học, tạo điều kiện cho người học phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập, dựa trên yêu cầu, nguyện vọng, khả năng và điều kiện thực tế của mỗi người. Phương pháp giảng dạy tích cực không tập trung vào việc truyền tải thông tin mà chú trọng vào dạy cách học để người học có thể tự học, tự nghiên cứu và hình thành thói quen học tập liên tục, học tập suốt đời.
  4. Xây dựng đội ngũ giảng viên: Giảng viên phải có năng lực chuyên môn cao và trình độ ngoại ngữ thành thạo để có thể tự bổ sung, đổi mới linh hoạt nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp với thực tiễn luôn biến động và phát triển. Đồng thời, giảng viên phải có khả năng biên soạn đề cương môn học, giáo trình bài giảng chương trình đào tạo mới. GV có thể dưới dạng giảng viên cơ hữu và bán cơ hữu (người không chuyên nghiệp dạy học nhưng có nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn ở các viện nghiên cứu, cơ sở sản xuất và tư vấn chuyên môn).
  5. Tóm lại, đất nước ta đang đứng trước một thời kỳ phát triển mới đầy thử thách với những biến đổi sâu sắc về xã hội và môi trường trong thời đại thông tin – điện tử, xu thế toàn cầu hóa với nền kinh tế hậu công nghiệp và nền kinh tế tri thức. Trong đó, thông tin – tri thức ngày càng giữ vai trò quyết định cho sự phát triển, không bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia, sự phát triển kinh tế sẽ bắt đầu từ sự phát triển về trí tuệ và óc sáng tạo không ngừng của nguồn lực lao động. Trong quá trình phát triển này, giáo dục – đào tạo giữ vai trò then chốt và nhà trường là trung tâm xử lý, cung cấp và phân phối thông tin – tri thức quan trọng, nơi quyết định sự thành công của sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

Xem thêm: Thiết kế chương trình Đào tạo KTS: Ý tưởng – Mô hình “Siêu thị” kiến thức

 

TS.KTS. Ngô Lê Minh
Trường Đại học Tôn Đức Thắng

(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 11-2016)